Tìm hiểu các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

By admin on June 4, 2011

  • Sharebar
Việc hiểu đúng khái niệm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong khoa học cũng như đời sống. Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc làm rõ nội hàm của các khái niệm quan trọng trong nghiên cứu khoa học (NCKH) và phát triển công nghệ (PTCN), đồng thời làm rõ vị trí và mối quan hệ giữa các khái niệm này, nhằm giúp cho việc định hướng chính sách quản lý và đầu tư của Nhà nước cho từng lĩnh vực hoạt động liên quan được hiệu quả hơn. Đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này. Bản tin Khoa học – Công nghệ xin giới thiệu tóm lược bài viết của ThS. Nguyễn Đăng Hải – Học viện Kỹ thuật Quân sự đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 4.2001 để bạn đọc cùng tham khảo.
Khái niệm nghiên cứu 

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

 

Nội hàm và ngoại diên của nghiên cứu:

Nội hàm: Tìm kiếm những tri thức mới; hoàn thiện, mở rộng những tri thức đã có, sáng tạo ra các nguyên lý, giải pháp hay các mô hình khả thi về kỹ thuật; dự báo trạng thái tương lai của sự vật, hiện tượng.

Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm kiếm tri thức mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN).

Nói cách khác, nghiên cứu là toàn bộ các hoạt động trong các lĩnh vực KH&CN nhằm tìm kiếm tri thức mới, hoàn thiện, mở rộng những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng, bản chất của sự vật, hiện tượng hay các quy luật hoặc các dự báo trạng thái tương lai của chúng.

Phân loại nghiên cứu:

Trong quản lý các hoạt động nghiên cứu, theo tính chất của sản phẩm, nghiên cứuđược phân loại thành: Nghiên cứu cơ bản (NCCB); nghiên cứu ứng dụng (NCƯD) và nghiên cứu triển khai (NCTK).

Phân biệt các dạng nghiên cứu:

NCCB và NCƯD tuy có khác nhau về mục tiêu sản phẩm, nhưng đều là tìm kiếm tri thức mới, chưa xác định rõ việc ứng dụng vào thực tế như thế nào nên để chỉ hai loại nghiên cứu này, người ta dùng chung khái niệm là “NCKH” (Research scientific – R) như trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 của Việt Nam đã ghi: NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. NCKH bao gồm NCCB và NCƯD.

NCTK là giai đoạn nghiên cứu có gắn với việc hình thành công nghệ và được hiểu là giai đoạn nghiên cứu nhằm sáng tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới (Prototype). NCTK bao gồm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Sáng tạo sản phẩm mẫu, trong đó vận dụng các tri thức khoa học, là kết quả của giai đoạn “NCKH” để hình thành, sáng tạo ra các hình mẫu mới (Prototype). Hình mẫu này bản thân nó có thể là một sản phẩm tiêu dùng theo đúng nghĩa của từ này hay là một công nghệ để chế tạo ra sản phẩm tiêu dùng. Trong giai đoạn này, người ta sơ bộ hình thành thiết kế và quy trình công nghệ chế tạo ra hình mẫu mới đó.

Giai đoạn 2: Giai đoạn làm pilot hay còn gọi là sản xuất pilot. Trong giai đoạn này, người ta thực hiện các nội dung: Hoàn thiện thiết kế, hoàn thiện công nghệ chế tạo hình mẫu; sản xuất (không trên dây chuyền công nghệ chính thức có tính công nghiệp) một số lượng nhỏ các hình mẫu và đưa các snr phẩm này vào hoạt động thực tiễn nhằm khẳng định lại tính năng của sản phẩm hay công nghệ mới như tính ổn định; kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của công nghệ, của sản phẩm…; kiểm tra các chỉ tiêu khác như tính kinh tế, tác động đến môi trường, ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội,…

Rõ ràng so với NCCB, NCƯD thì NCTK có tính định hướng sản phẩm phục vụ xã hội, tới công nghệ và sản xuất một cách rõ rệt.

Khái niệm Phát triển và Triển khai

Khái niệm phát triển:

Nội hàm: Tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn. Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng.

Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm kiếm.

Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng. Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai.

Khái niệm triển khai:

Nội hàm: Tiến hành thực hiện một công việc, một nội dung nào đó hay đưa một nội dung vào cuộc sống.

Ngoại diên: Tất cả việc làm.

Nói cách khác, triển khai là việc làm nhằm thực hiện hay đưa một nội dung công việc nào đó vào cuộc sống. Người ta thường nói: Triển khai nghị quyết, triển khai dự án, triển khai kỹ thuật, triển khao hoạt động nghiên cứu… Đó chính là việc thực hiện cái đã được định sẵn, theo ý đồ đã có từ trước mà không có sáng tạo hay phát triển thêm cái mới (không hàm ý nghiên cứu).

Trong hoạt động KH&CN, các khái niệm phát triển và triển khai thường gắn với khái niệm công nghệ. Đó là PTCN và triển khai công nghệ.

Phân biệt PTCN và Triển khai công nghệ

PTCN: Là sáng tạo ra sản phẩm hay công nghệ mới hoặc đổi mới một cách căn bản công nghệ đã có.

Phân loại PTCN:

PTCN theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng công nghệ (Intensive Development of Technology hay Upgrading of Technology) nhằm sáng tạo ra công nghệ mới hay làm cho công nghệ cũ trở thành có tính năng tốt hơn, sản phẩm của công nghệ có chất lượng tốt hơn bằng cách thay đổi có tính căn bản công nghệ đã có.

PTCN theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát triển về lượng – Extensive Development of Technology): mở rộng công nghệ, nhân bản công nghệ để có số lượng nhiều hơn.

Triển khai công nghệ: Là đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất hay nhân bản công nghệ để có nhiều công nghệ cùng loại.

Quan hệ giữa PTCN với triển khai công nghệ

Do khái niệm PTCN và triển khai công nghệ trong tiếng Việt đều chỉ tương ứng với một từ tiếng Anh là Development of Technology nên với ý nghĩa của khái niệm phát triểntriển khai trong tiếng Việt như trên thì phát triển theo chiều rộng (về số lượng) thuộc về triển khai công nghệ. Vì lẽ đó, chúng tôi khuyến nghị: Chữ Development của tiếng Anh hi dịch sang tiếng Việt với nghĩa là phát triển thì chỉ nên dùng nghĩa phát triển theo chiều sâu (về chất lượng). Với nghĩa phát triển theo chiều rộng (nhân bản về lượng) thì dịch là triển khai. Ngoài ra, khái niệm triển khai của tiếng Việt còn có nghĩa là thực hiện hay đưa một nội dung nào đó vào cuộc sống.

Xác định vị trí của từng khái niệm trong hệ thống các khái niệm

Qua các phân tích trên đây cho thấy sự giao thoa giữa lĩnh vực nghiên cứu và lĩnh vực PTCN như  sau:

Nói cách khác, từ  giác độ quản lý  các hoạt động KH&CN chỉ nên tồn tại 3 khái niệm chính:

NCKH, gồm  NCCB và NCƯD.

NCTK và PTCN theo chiều sâu, nếu đứng trên giác độ nghiên cứu xin khuyến nghị gọi chung là NCTK thực nghiệm. Nếu đứng trên giác độ công nghệ thì gọi là PTCN. Như vậy, về bản chất khoa học thì NCTK thực nghiệm hay PTCN chỉ là một. Phương thức quản lý cũng sẽ chỉ là một.

Triển khai công nghệ: Chỉ PTCN theo chiều rộng.

Thực tế ở nước ta, công tác quản lý KH&CN từ trước đến nay đều coi PTC theo chiều sâu là nghiên cứu và được quản lý theo chế độ đề tài nghiên cứu. Lĩnh vực PTCN theo chiều rộng được hiểu là mở rộng công nghệ theo cách mua, bán công nghệ, lắp đặt hay nhân bản công nghệ đã định hình và được quản lý theo Luật Thương mại, Luật Đầu tư và Luật Chuyển giao công nghệ.

 

Theo: TC Hoạt động Khoa học, 4.2011

(Nguồn: canthostnews.vn)

 

  • joke makuro

    e đang nghiên cứu về xu thế phát triển khoa học và công nghệ thế giới 2030, e đã tìm tài liệu nhưng chưa được rõ khái niệm về xu thế? khái niệm về xu thế phát triển khoa học và công nghệ? mong admin giúp đỡ e ạ. e cảm ơn nhiều ạ.