Một số đề nghị đấu tranh cho Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông

By admin on June 18, 2011

  • SumoMe

“Đối với Việt Nam Biển Đông đóng vai trò vô cùng quan trọng cho phát triển và an ninh quốc phòng. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo có nhiều đảo nhỏ nằm ngoài khơi cách bờ biển Việt Nam không xa và có vị trí phù hợp với sự kéo dài của lục địa Việt Nam. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo mà Việt Nam đã thực thi chủ quyền liên tục trong suốt mấy thế kỷ vừa qua.”

Dương Danh Huy

Biển Đông nằm bao bọc phía đông của Việt Nam tạo thành một vành đai phòng thủ an ninh quốc phòng đồng thời là một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cũng như tuyến đường hàng hải vận tải hàng hóa quan trọng cho Việt Nam và cho các nước khác trong khu vực Đông Á.

Đối với Việt Nam Biển Đông đóng vai trò vô cùng quan trọng cho phát triển và an ninh quốc phòng. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo có nhiều đảo nhỏ nằm ngoài khơi cách bờ biển Việt Nam không xa và có vị trí phù hợp với sự kéo dài của lục địa Việt Nam. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo mà Việt Nam đã thực thi chủ quyền liên tục trong suốt mấy thế kỷ vừa qua. Biển Đông cũng là khu vực biển chung với nhiều quốc gia khác, luôn tồn tại sự tranh chấp trên các vùng đảo vùng biển, đặc biệt khi các khảo sát cho thấy Biển Đông chứa một trữ lượng dầu khí lớn. Vậy đối với Việt Nam, cần phải giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông như thế nào để đạt được sự ổn định hòa bình và công bằng cho Việt Nam cũng như các quốc gia chung Biển Đông? Trong bài báo này tác giả sẽ trình bày tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam, lịch sử các tranh chấp và các đấu tranh cho Hoàng Sa và Trường Sa cùng các hướng giải quyết tranh chấp khác trên Biển Đông.

1. Giới thiệu

1.1 Tầm quan trọng của Biển Đông

Ngoài các đại dương, Biển Đông là biển rộng lớn nhất thế giới. Với diện tích 3.5 triệu km vuông không kể Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan, Biển Đông lớn hơn Địa Trung Hải.

Có 9 nước bao quanh Biển Đông: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines và Trung Quốc. Có thể kể thêm cả Đài Loan như một lãnh thổ có chính phủ tự trị. Biển Đông rất quan trọng cho kinh tế, tự do đi lại và quốc phòng của những nước này.

Hình 1: Bản đồ 1: Việt Nam và Biển Đông (1)

Đối với những nước Đông Nam Á, vốn nhỏ hơn Trung Quốc nhiều lần, tầm quan trọng của Biển Đông lại càng cao hơn. Nếu một nước nào đó chiếm Biển Đông, kinh tế, tự do đi lại và quốc phòng của những nước Đông Nam Á sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều.

Hình 2: Năm 2006, dầu thô (crude oil) từ Biển Đông đóng góp nhiều nhất cho nghành xuất khẩu Việt Nam, bằng tổng cộng nông hải sản (agri products và aqua products) (2)

Trong những nước Đông Nam Á, Biển Đông có lẽ quan trọng nhất đối với Việt Nam. Với diện tích trên bộ là 330,000 km vuông và bờ biển dọc Biển Đông dài 3200 km (3), trung bình thì lãnh thổ Việt Nam nằm trong phạm vi 103 km từ bờ Biển Đông. Phần lớn dân Việt Nam sống trong phạm vi 50 km từ bờ Biển Đông. Theo luật biển Liên Hiệp Quốc, Việt Nam có thể được hưởng vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng 760,000 km vuông (4). Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông rộng gấp 2.3 lần lãnh thổ trên bộ. Thềm lục địa của Việt Nam còn rộng hơn vùng đặc quyền kinh tế.

Trên diện kinh tế, tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam có thể được thấy qua những số liệu sau:

• Năm 1999, Trung Tâm Phát Triển Nghề Cá Đông Nam Á ước lượng là có khoảng 9.2 triệu tấn cá trong vùng biển của Việt Nam (5).

• Năm 2003, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ghi nhận là Việt Nam có 90,000 tàu thuyền các loại hoạt động trên biển, trong đó có 80,000 chiếc hoạt động trong nghề cá (6).

• Năm 2006, dầu thô từ Biển Đông đóng góp 21% xuất khẩu của Việt Nam (7).

Trên diện quốc phòng, nước Việt Nam dài và hẹp cho nên có hai sườn yếu: biên giới phía Tây và bờ Biển Đông. Trên diện chiến lược, Biển Đông là cửa ngõ duy nhất để ta đi ra đại dương. Trên diện danh dự dân tộc, tổ tiên ta đã tự do dùng Biển Đông từ thời tiền sử cho tới nay – vì vậy, chúng ta và các thế hệ sau không thể chấp nhận một nước nào khác biến Biển Đông thành của sở hữu của họ. Nếu một nước kha’c chiếm được Biển Đông thì sẽ rất nguy hại cho kinh tế, quốc phòng, tự do, độc lập và danh dự của Việt Nam, không những cho thế hệ này mà cho cả tất cả những thế hệ sau.

Hình 3: Bản đồ 2: Biển Đông và các hải trình chuyên chở dầu thô (8)

Đối với các nước khác trên thế giới, Biển Đông nằm ở một vị trí chiến lược quan trọng. Hơn 50% hàng hoá đường thuỷ và dầu thô của thế giới được chuyên chở qua Biển Đông (9). Lượng dầu thô được chuyên chở qua Biển Đông cao gấp 3 lần qua kênh Suez, gấp 5 lần qua kênh Panama. Hơn 80% dầu thô của Nhật, Nam Hàn và Đài Loan được chuyên chở qua Biển Đông.

Trong suốt lịch sử thế giới, tàu thuyền các nước Đông Nam Á và tất cả các nước khác tự do dùng Biển Đông mà không cần sự cho phép của bất cứ nước nào. Vì vậy, Biển Đông không phải là biển lịch sử của bất cứ nước nào. Các nước trên thế giới cần ngăn chặn bất cứ nước nào muốn chiếm Biển Đông.

1.2 Cấu trúc của bài báo

Phần 2 sẽ đề cập đến lịch sử tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa và một số cách đấu tranh cho Hoàng Sa, Phần 3 sẽ đề cập đến lịch sử tranh chấp trên quần đảo Trường Sa và cách đấu tranh cho Hoàng Sa, Phần 4 sẽ đề cập đến tranh chấp trên Biển Đông và hướng đấu tranh cho Biển Đông.

Chú thích Phần 1

(1) Hình từ Meteorological Services Division, NEA, Singapore

(2) “Vietnam: Country on the move”, Deutsche Bank, 04/2007

(3) “Vietnam, the country and its geographical regions”, Lê Bá Thảo, NXB Thế Giới, 1997

(4) “Sharing the Resources of the South China Sea”, Valencia, Van Dyke, Ludwig, Đại Học Hawaii, 1999

(5) “Proceedings of the Seminar on Fishery Resources in the South China Sea”, Rosidi Ali, Nguyễn Lam Anh, Vũ Duyên Hải, Shunji Fujiwara, Kunimune Shiomi và Nadzri Seman, Southeast Asian Fisheries Development Centre, 1999, theo “Địa Lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa”, Vũ Hữu San, 2007

(6) “Kế hoạch 35/KH/MTTƯ”, MTTQVN. 25/09/2003, theo “Địa Lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa”, Vũ Hữu San, 2007

(7) “Vietnam: Country on the move”, Deutsche Bank, 04/2007

(8) Bản đồ từ Center for Naval Analyses and the Institute for National Strategic Studies

(9) http://www.southchinasea.org/why.html

2. Một số đề nghị đấu tranh cho Hoàng Sa

2.1 Lịch sử tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa

2.1.1 Thời tiền sử tới thế kỷ 18

Đặc điểm của giai đoạn này là cho tới thế kỷ 18, không có nước nào có hành động nào có chức năng pháp lý làm cho Hoàng Sa thuộc về mình. Hoàng Sa là đất vô chủ cho tới thế kỷ 18.

Các dân tộc Đông Nam Á (kể cả Việt Nam và Chiêm Thành) và Trung Hoa đã biết về Hoàng Sa, đi tới và sử dụng quần đảo này từ thời tiền sử. Có lẽ những dân tộc Đông Nam Á là những dân tộc đầu tiên khám phá và sử dụng Hoàng Sa. Sau đó, những dân tộc khác trên thế giới (Ấn Độ, Ba Tư, Á Rập và Âu Châu) cũng biết về và viết về Hoàng Sa.

Tuy nhiên,những điều này, khám phá, đi tới, sử dụng, và kể cả đề cập tới Hoàng Sa trong những cuộc hành trình (như của Trịnh Hoà, người Trung Quốc), đề cập tới trong sử sách hay vẽ quần đảo này trên bản đồ, không ban cho bất cứ nước nào đó chủ quyền. Để một vùng đất thuộc về một nước, phải có sự tuyên bố chủ quyền và thi hành chủ quyền ở cấp nhà nước mà không bị nước khác phản đối.

2.1.2 Thế kỷ 18 tới thời kỳ Pháp thuộc

Đặc điểm của giai đoạn này là Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa. Trên cơ sở pháp lý quốc tế, điều này có nghĩa chủ quyền ở Hoàng Sa thuộc về Việt Nam từ thế kỷ 18.

Hình 4: Đền thờ Đội Hoàng Sa, cơ quan nhà nước Việt Nam thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa từ thế kỷ 18(1)

Vào thế kỷ 18, các chúa Nguyễn thành lập các đội Hoàng Sa để bảo vệ và khai thác Hoàng Sa. Đây là những hành động tuyên bố chủ quyền và cai trị từ nhà nước Việt Nam. Những hành động này không bị nước nào phản đối, kể cả Trung Quốc. Đây là những hành động đầu tiên trên thế giới có chức năng làm Hoàng Sa thuộc về một nước nào đó, và nước đó là Việt Nam.

Năm 1816, vua Gia Long tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.

Sau đó, vua Minh Mạng tiếp tục thi hành chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa với những công việc:

• 1833-1836 Xây cất công trình nhà nước ở Hoàng Sa, thi hành công việc và vẽ bản đồ dưới sự điều hành của vua.

• 1847-1848 Quản lý Hoàng Sa, thi hành công việc hải quan và thu thuế.

Như vậy, vào thế kỷ 19, Việt Nam khẳng định và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa mà không bị nước nào phản đối. Vì vậy, chủ quyền Hoàng Sa đã hoàn toàn thuộc về Việt Nam và không nước nào tranh chấp điều đó.

Hình 5: Lễ truyền thống cho các Đội Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn (cù lao Ré)(2)

Điều đáng chú ý là trong khi Việt Nam tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa thì Trung Quốc không phản đối. Lý do là vào thế kỷ 18, 19 không mấy nước quan tâm tới những đảo nhỏ không dân cư giữa biển, mà Hoàng Sa lại quá xa Bắc Kinh. Thêm vào đó, cho tới cuối thế kỷ 19, tư duy của Trung Quốc là tư duy lục địa chứ không phải tư duy hải dương.

2.1.3 Thời kỳ Pháp thuộc tới Thế Chiến 2

Đặc điểm của thời kỳ này là:

• Từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu yêu sách Hoàng Sa là lãnh thổ của họ. Điều này có nghĩa Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa sau khi Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam gần hai thế kỷ. Vì Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam chứ không còn là đất vô chủ khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, sự tuyên bố của Trung Quốc không có giá trị pháp lý.

• Ban đầu Pháp không hành động quyết liệt để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Sau đó, Pháp biết Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam từ thế kỷ 18 và tích cực bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa.

• Năm 1925, Pháp lập lại lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, khẳng định và thi hành chủ quyền cho tới khi họ rời Việt Nam.

Từ giữa thế kỷ 19, Pháp bắt đầu xâm lăng Việt Nam, dẫn tới sự đô hộ bắt đầu vào cuối thế kỷ 19.

Trong thời kỳ này, Trung Quốc giữ được nền độc lập của họ nhưng họ bị xâu xé bởi các nước Âu Mỹ và Nhật. Sự xâu xé từ những thế lực đến từ hải dương và việc Nhật thôn tính Lưu Cầu (Ryuku – Okinawa), Đài Loan, và một số đảo khác của Trung Quốc gây ra hai thay đổi trong tư duy của họ:

• Gieo mầm tư duy hải dương cho Trung Quốc.

• Cho Trung Quốc ý thức chiến lược là cần dùng những đảo ngoài biển khơi như những vành đai để bảo vệ lục địa.

Năm 1898, hai tàu Anh, Bellona và Huneji Maru bị đắm ở Hoàng Sa. Sau đó ngư dân Trung Quốc tới Hoàng Sa hôi của từ hai tàu này. Khi chính phủ Anh phản đối việc hôi của này thì chính quyền Lưỡng Quảng trả lời là Hoàng Sa là đảo bỏ hoang, không thuộc về Trung Quốc hơn thuộc về Việt Nam, Hoàng Sa không thuộc về bất cứ huyện nào của Hải Nam, và không có cơ quan Trung Quốc nào có trách nhiệm cảnh sát đối với Hoàng Sa (3). Sự kiện này có ba ý nghĩa:

• Chính quyền Lưỡng Quảng công nhận là Trung Quốc không thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa và, thêm vào đó, khước từ thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa. Ngược lại, từ thế kỷ 18, Việt Nam đã thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa ở cấp nhà nước.

• Chính quyền Lưỡng Quảng biết về khía cạnh “thuộc về Việt Nam” của Hoàng Sa nhưng không phản đối khía cạnh đó.

• Vì đã biết về khía cạnh “thuộc về Việt Nam” của Hoàng Sa, chính quyền Lưỡng Quảng biết là Hoàng Sa không phải đất vô chủ. Điều này có nghĩa hành động của chính quyền Lưỡng Quảng vào năm 1909 và tuyên bố chủ quyền vào năm 1921 bất hợp pháp vì công pháp quốc tế chỉ công nhận tuyên bố chủ quyền cho đất vô chủ.

Năm 1909, với tư duy hải dương mới, chính quyền ly khai Lưỡng Quảng gửi hai tàu chiến dưới đô đốc Lý Chuẩn (Li Zhun) tới Hoàng Sa và thám sát Hoàng Sa trong vòng một ngày. Lãnh sự Pháp ở Quảng Đông, ông Beauvais, không biết là Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, cho là Pháp có quyền ở Hoàng Sa không kém gì Trung Quốc nhưng làm lơ để tránh tạo ra một làn sóng ái quốc có thể gây hại cho quyền lợi của Pháp (4). Dù vậy, việc làm của đô đốc Lý Chuẩn không đủ điều kiện cho một sự tuyên bố chủ quyền vì vào năm 1909 Hoàng Sa không còn là đất vô chủ.

Năm 1921, chính quyền ly khai Lưỡng Quảng tuyên bố là Hoàng Sa thuộc về Hải Nam. Lãnh sự Pháp ở Trung Quốc quan ngại về lời tuyên bố này nhưng không phản đối vì chính quyền ly khai Lưỡng Quảng không phải là một chính phủ được Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác công nhận (5). Lời tuyên bố này không có giá trị pháp lý vì hai lý do:

• Việt Nam đã tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa trong suốt hai thế kỷ trước đó. Vì vậy, vào năm 1921, Hoàng Sa không còn là đất vô chủ để nước nào khác tuyên bố chủ quyền.

• Lý do Pháp không phản đối tuyên bố của chính quyền ly khai Lưỡng Quảng không phải là Pháp công nhận tuyên bố đó mà là chính quyền này không phải là một chính phủ được Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác công nhận.

Trong khi đó, từ 1920 trở đi, Pháp thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa như làm công tác hải quan ở Hoàng Sa và xét và cấp giấy phép khai thác phốt phát cho những công ty ngoại quốc.

Hình 6: Lính Pháp và Việt Nam chào cờ tại Hoàng Sa (6)

Năm 1925, Pháp lập lại lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Pháp tiếp tục khẳng định và thi hành chủ quyền cho Việt Nam ở Hoàng Sa cho tới khi họ rời Việt Nam.

Hình 7: Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, dựng vào thập niên 1920 (7)

Có một sự kiện đáng chú ý là năm 1932 Pháp đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa ra một phiên toà quốc tế nhưng Trung Quốc không chấp nhận.

2.1.4 Thế Chiến 2 tới hiệp định San Francisco 1951

Đặc điểm của giai đoạn này là:

• Trong Thế Chiến 2, dù chiếm đóng Hoàng Sa, Nhật không tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa, tức là chủ quyền Hoàng Sa luôn luôn hoàn toàn thuộc về Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp.

• Sau Thế Chiến 2, Trung Quốc lợi dụng sự sơ hở của Pháp để đổ bộ lính lên phía đông Hoàng Sa và chiếm đóng đảo Phú Lâm.

• Theo Hiệp Định San Francisco 1951, về việc đầu hàng của Nhật, Nhật phải trả lại đất đai đã chiếm từ các nước khác. Hoàng Sa, Trường Sa không nằm trong danh sách đất đai phải trả lại cho Trung Quốc, nhưng Hiệp Định San Francisco không nói trả lại cho nước nào. Ở hội nghị San Francisco, 48 trong 51 nước phản đối đề nghị chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc; không nước nào phản đối lời khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

Trong Thế Chiến 2, dù chiếm đóng Hoàng Sa, Nhật không tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa, tức là chủ quyền Hoàng Sa luôn luôn hoàn toàn thuộc về Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp.

Nhật chiếm đóng Hoàng Sa cho tới khi Pháp gửi chiến hạm và lính tới thu hồi Hoàng Sa từ Nhật.

Năm 1943, tại Hội Nghị Cairo, Mỹ, Anh và Trung Quốc tuyên bố là sẽ tước những vùng lãnh thổ Nhật đã chiếm từ Trung Quốc và hoàn lại cho Trung quốc, những vùng lãnh thổ này bao gồm Mãn Châu, Đài Loan và Pescadores. Lưu ý là Mỹ, Anh và cả Trung Quốc không liệt kê Hoàng Sa và Trường Sa dưới danh sách các vùng lãnh thổ Nhật chiếm từ Trung Quốc và phải hoàn lại cho Trung Quốc.

Năm 1946 và 1947 lợi dụng Pháp rút quân khỏi Hoàng Sa vì chiến tranh giành độc lập của Việt Nam, Trung Quốc viện cớ tước khí giới Nhật (dù Pháp đã làm điều này) để đổ bộ lính lên một số đảo, trong đó có đảo Phú Lâm. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng được đảo trong quần đảo Hoàng Sa. Pháp phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp đó và đem lính tới canh gác đảo Hoàng Sa.

Năm 1947, Pháp lại đề nghị nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa ra một phiên toà quốc tế. Một lần nữa, Trung Quốc không chấp nhận.

Cuối năm 1947, Trung Quốc đặt tên “Tây Sa” cho quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1949, chính phủ Bảo Đại lập lại tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa.

Năm 1950, vì Trung Hoa Dân Quốc bị thua trong nội chiến và phải di tản sang Đài Loan, họ rút khỏi phía đông Hoàng Sa. Lính Pháp vẫn trấn giữ Hoàng Sa cho nên toàn bộ Hoàng Sa nằm dưới sự kiểm soát của Pháp-Việt Nam.

Năm 1950, Pháp trao việc kiểm soát Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Đại.

Năm 1951, tại hiệp định San Francisco về việc đầu hàng của Nhật, Liên Xô đề nghị là chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Đề nghị này bị 48 nước trong 51 nước ở hội nghị phản đối. Sau đó trong hội nghị, chính phủ Bảo Đại khẳng định chủ quyền cuả Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Không có nước nào phản đối. Bản tuyên bố của hiệp định San Francisco chỉ nói Nhật trả lại Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng không nói trả lại cho nước nào.

Tuy nhiên, có 2 lý do để nói là hiệp định San Francisco không trả Hoàng Sa và Trường Sa lại cho Trung Quốc:

• 48 trong 51 nước ở hội nghị phản đối đề nghị chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Trong khi đó, không nước nào phản đối lời khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

• Lời tuyên bố San Francisco nói rõ những đảo Nhật phải trả cho Trung Quốc, e.g., Đài Loan, Bành Hồ. Trong khi đó Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong danh sách những đảo phải trả cho Trung Quốc.

2.1.5 Hiệp định San Francisco 1951 tới 1975

Đặc điểm của giai đoạn này là:

• Từ 1950 tới 1956, Việt Nam kiểm soát Hoàng Sa hoàn toàn.

• Theo hiệp định Geneve 1954, Hoàng Sa nằm dưới thẩm quyền VNCH.

• Năm 1956, Trung Quốc lén lút chiếm đóng đông Hoàng Sa. Từ đó, VNCH kiểm soát Tây Hoàng Sa, Trung Quốc kiểm soát Đông Hoàng Sa.

• Ngày 19, 20 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm tây Hoàng Sa từ VNCH.

• Dù ngày nay Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực, luật Liên Hiệp Quốc không ban chủ quyền dựa trên đánh chiếm và chiếm đóng bằng bạo lực.

Từ 1951, Trung Quốc và Đài Loan tiếp tục đòi chủ quyền từ Việt Nam ở Hoàng Sa. Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền. Trong thời gian này, tất cả quần đảo Hoàng Sa nằm dưới sự canh gác của lính Pháp và lính Việt Nam.

Năm 1954, hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam ở vĩ độ 17 thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Việt Nam Cộng Hoà. Hoàng Sa nằm dưới vĩ độ 17 cho nên nằm dưới thẩm quyền VNCH.

Năm 1956, Pháp rút quân ra khỏi VNCH. Chính quyền VNCH gửi lính ra Hoàng Sa thay thế lính Pháp và đóng quân trên đảo Hoàng Sa.

Hình 8: Nhân viên khoa học VNCH trước nhà thờ ở Hoàng Sa (8)

Năm 1956, lợi dụng lính VNCH không đóng quân trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gửi lính tới lén lút chiếm đóng đảo Phú Lâm.

Từ năm 1956 trở đi, VNCH kiểm soát tây Hoàng Sa và Trung Quốc kiểm soát đông Hoàng Sa.

Năm 1958, 65 binh lính Trung Quốc giả dạng làm ngư dân đổ bộ lên tây Trường Sa nhưng bị lính VNCH bắt.

Năm 1958, Trung Quốc tuyên bố nguyên tắc dùng đường cơ sở thẳng và lãnh hải 12 hải lý chung quanh lãnh thổ của họ và tuyên bố là nguyên tắc này được áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa. VNCH, là chính phủ có thẩm quyền về Hoàng Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. VNDCCH, là chính phủ không có thẩm quyền về Hoàng Sa, “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố… quyết định về hải phận của Trung Quốc” (9). Vì không có thẩm quyền về Hoàng Sa, sự tán thành của VNDCCH không có giá trị pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa.

Hình 9: Trại lính VNCH trên đảo Hoàng Sa năm 1959 (10)

Ngày 19 và 20 tháng một năm 1974, hải quân Trung Quốc đánh chiếm tây Hoàng Sa từ VNCH.
Chính phủ VNCH phản đối sự xâm lăng của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc. Chính phủ lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tuyên bố là tranh chấp Hoàng Sa phải được giải quyết công bằng và bằng đàm phán. Chính phủ VNDCCH cảm ơn Trung Quốc “giải phóng Hoàng Sa giùm cho VNDCCH”. Ba hành động này có ý nghĩa:

• Chính phủ có thẩm quyền ở Hoàng Sa, tức là VNCH, khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa.

• Chính phủ mà VNDCCH cho là có thẩm quyền ở Hoàng Sa, tức là chính phủ lâm thời MTGPMN, cho là Việt Nam có chủ quyền ở Hoàng Sa và chủ quyền đó bị tranh chấp.

• Chính phủ VNDCCH, dù không có thẩm quyền ở Hoàng Sa, cho là Việt Nam có chủ quyền ở Hoàng Sa. Đây là lời tuyên bố sau cùng của VNDCCH về chủ quyền ở Hoàng Sa trước khi Việt Nam thống nhất.

Hình 10: Chiến hạm HQ-4 Trần Khánh Dư, một trong 4 chiến hạm VNCH chiến đấu trong trận bảo vệ Hoàng Sa (11)

Từ 1974 tới nay, Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Việt Nam đã mất chủ quyền ở Hoàng Sa. Luật Liên Hiệp Quốc không chấp nhận chiếm đoạt lãnh thổ bằng bạo lực và công nhận chủ quyền dựa trên chiếm đoạt và chiếm đóng bằng bạo lực.

2.2 Một số đề nghị đấu tranh cho Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam như Hà Nội, Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa của điều đó rất rõ với dân dộc Việt Nam, một dân tộc đã từng đấu tranh 1,000 năm để có một lãnh thổ và 1,000 năm để giữ gìn lãnh thổ.

Hình 11: Bản đồ 3: Ba trường hợp thiệt hại trên biển cho Việt Nam. Bản đồ thứ nhất: trường hợp Trung Quốc “chỉ” giành được chủ quyền Hoàng Sa. Bản đồ thứ nhì: trường hợp Trung Quốc thực hiện được đường cơ sở thẳng chung quanh Hoàng Sa. Bản đồ thứ ba: trường hợp Trung Quốc giành được vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho Hoàng Sa

Ý nghĩa của Hoàng Sa không chỉ nằm ở các đảo mà còn ở cả những vùng biển lân cận. Cụ thể là nếu Trung Quốc chiếm được Hoàng Sa và đường cơ sở thẳng của họ được chấp nhận, Việt Nam sẽ bị mất đi những vùng biển dưới đây:

• 16,000 km vuông sẽ bị biến thành nội thuỷ Trung Quốc. Như vậy tàu thuyền,máy bay Việt Nam sẽ không được phép đi qua vùng này, dù chỉ với tư cách “đi qua không gây hại” (innocent passage).

• 14,000 km vuông trên biển sẽ bị biến thành lãnh hải của Trung Quốc.

• Dùng đường cơ sở thẳng đó, Trung Quốc sẽ đòi một vùng đặc quyền kinh tế lấn vào tới cách bờ biển Việt Nam 70 hải lý, trong khi luật biển Liên Hiệp Quốc cho Việt Nam vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ra tới trung tuyến với Trung Quốc. Ở vùng Hoàng Sa, đường trung tuyến này cách bờ biển Việt Nam 190 hải lý, ở vùng Macclesfields Bank, đường trung tuyến này cách bờ biển Việt Nam 350 hải lý.

Bản đồ dưới đây cho thấy thiệt hại cho vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam nếu Trung Quốc giành được chủ quyền Hoàng Sa và thực hiện được chủ trương Hoàng Sa được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Hình 12: Bản đồ 4: Bên trái là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam nếu Hoàng Sa không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bên phải là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam nếu Trung Quốc giành được chủ quyền Hoàng Sa và Hoàng Sa được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với 100% hiệu lực (12)

Vì ý nghĩa của Hoàng Sa nằm ở cả đảo và biển, Việt Nam phải đấu tranh cho 3 điều khác nhau:

• Khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa.

• Đấu tranh phản đối việc áp dụng đường cơ sở thẳng cho Hoàng Sa, bất kể chủ quyền thuộc về nước nào. Điều này tránh việc Trung Quốc dùng Hoàng Sa để đòi chiếm một vùng biển rất rộng của Việt Nam.

• Đấu tranh cho việc Hoàng Sa không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, bất kể chủ quyền thuộc về nước nào. Như vậy những vùng này sẽ được chia đồng đều giữa Trung Quốc và Việt Nam, bất kể chủ quyền Hoàng Sa thuộc về nước nào.

Chú thích Phần 2

(1) Hình từ VNN

(2) Hình từ “Bản hùng ca bất tử”, VNN, 01/03/2008

(3) Văn hàm số 704-A_Ex, ngày 20/03/1930, từ Tổng Đốc Đông Dương Pasquier gửi Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp kể:“Following the wreck in 1898 of the British vessels Bellona and Huneji Maru, which were then looted by Chinese fishermen, the Viceroy of Canton countered the protests of the Minister of Great Britain in Peking with the retort: ‘The Paracels are abandoned islands which belong no more to China than to Annam, they are not administratively attached to any district of Hainan and no special authority is responsible for policing them.’”

(4) Thư ngày 04/05/1909 từ ông Beauvais, Lãnh Sự Pháp ở Quảng Đông gửi Bộ Trưởng BNG Pháp viết:

“In my opinion, France has as many rights to the islands as China.

However, should the game not be worth the candle, it would perhaps be preferable, all
things considered, to turn a blind eye, since any intervention on our part
might lead to a fresh wave of nationalist feeling in the population, more
damaging to us than the possession of the Paracel Islands would be useful.”

(5) Văn hàm số 704-A_Ex, ngày 20/03/1930, từ Tổng Đốc Đông Dương Pasquier gửi Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp nói: “However, in 1921 Mr Maugras, Charge d’ Affaires in Peking, and later Mr de Fleuriau, deemed that it would be inadvisable to initiate negotiations on the Paracels with a Government which did not have any authority in southern China”

(6) VNN

(7) Tập San Sử Địa Số 29, Nhà Xuất Bản Khai Trí, 1974

(8) “Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa”, Vũ Hữu San, 2007

(9) “The Sino-Vietnamese Difference on the Hoàng Sa and Trường Sa Archipelagoes”, trang 74,Lưu Văn Lợi, NXB Thế Giới, 1996

(10) “Tập San Sử Địa 29: Đặc khảo Hoàng Sa, Trường Sa”, NXB Khai Trí, 1974

(11) “Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa”, Vũ Hữu San, 2007

(12) “Sharing the Resources of the South China Sea”, Valencia, Van Dyke, Ludwig, Đại Học Hawaii, 1999

3. Một số đề nghị đấu tranh cho Trường Sa

3.1 Lịch sử tranh chấp trên quần đảo Trường Sa

3.1.1 Trước 1925

Đặc điểm của giai đoạn này là có thể không có nước nào có chủ quyền ở Trường Sa.

Trước 1925, dù Trường Sa được biết tới, đi tới, sử dụng bởi dân từ nhiều nước và đề cập tới trong sử sách và bản đồ của nhiều nước, không bằng chứng tuyệt đối là có nước nào tuyên bố chủ quyền và có thi hành chủ quyền ở Trường Sa. Vì vậy, trước 1925, có thể không có nước nào có chủ quyền ở Trường Sa. (Tuy nhiên, TS Nguyễn Nhã và GS Monique Chemillier-Gendreau cho là Việt Nam có tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Trường Sa).

3.1.2 Từ 1925 tới 1939

Đặc điểm của giai đoạn này là:

• Pháp là nước đầu tiên trên thế giới tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa, vào năm, 1925.

• Trong 14 năm kế tiếp không có nước nào phản đối việc Pháp tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Trường Sa, kể cả Trung Quốc, Nhật, Mỹ, Anh và các cường quốc khác.

Năm 1925, viên toàn quyền Đông Dương tuyên bố sát nhập Trường Sa vào lãnh thổ của Pháp. Đây là lần đầu tiên có nước tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

Từ năm 1925 tới 1930, Pháp thi hành chủ quyền ở Hoàng Sa. Không có nước nào phản đối. Đặc biệt là năm 1927 chính phủ hỏi Pháp chủ quyền Trường Sa thuộc về ai.

Năm 1929, Pháp sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Năm 1930, Pháp thông báo cho các cường quốc khác biết Pháp đã sát nhập Trường Sa. Không có nước nào phản đối, cụ thể là:

• Trung Quốc: Trung Quốc chỉ tranh chấp chủ quyền ở Hoàng Sa.

• Mỹ: là nước có trách nhiệm với chủ quyền của Philippines.

• Anh: là nước có trách nhiệm với chủ quyền của Malaysia.

• Nhật: là nước chiếm đóng Trường Sa trong Thế Chiến 2.

Từ 1930 tới 1939, Pháp tiếp tục thi hành chủ quyền ở Trường Sa.

3.1.3 Từ 1939 tới 1946

Đặc điểm của giai đoạn này là năm 1939 Nhật thành nước thứ nhì tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa, 14 năm sau Pháp.

Năm 1939, Nhật chiếm đóng đảo Ba Bình và gửi thư cho đại sứ quán Pháp nêu cớ là Nhật là nước đầu tiên trên thế giới thám sát Trường Sa, vào năm 1917. Pháp phản đối việc chiếm đóng của Nhật. Không có nước nào khác phản đối, kể cả Trung Quốc, Mỹ và Anh.

Hai điều trên cho thấy vào năm 1939 không có nước nào tranh chấp chủ quyền ở Hoàng Sa ngoài Pháp, và Nhật tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa 14 năm sau khi Pháp đã tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

Năm 1943, tại Hội Nghị Cairo, Mỹ, Anh và Trung Quốc tuyên bố là sẽ tước những vùng lãnh thổ Nhật đã chiếm từ Trung Quốc và hoàn lại cho Trung quốc, những vùng lãnh thổ này bao gồm Mãn Châu, Đài Loan và Pescadores. Lưu ý là Mỹ, Anh và cả Trung Quốc không liệt kê Hoàng Sa và Trường Sa dưới danh sách các vùng lãnh thổ Nhật chiếm từ Trung Quốc và phải hoàn lại cho Trung Quốc.

3.1.4 Từ 1946 tới 1951

Đặc điểm của giai đoạn này là:

• Năm 1947, Trung Quốc trở thành nước thứ ba tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa, 22 năm sau Pháp.

• Năm 1951, Philippines trở thành nước thứ tư tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa, 26 năm sau Pháp.

• Theo Hiệp Định San Francisco 1951, về việc đầu hàng của Nhật, Nhật phải trả lại lãnh thổ đã chiếm từ các nước khác, trong đó có Trường Sa. Hiệp Định San Francisco không nói những vùng lãnh thổ này được trả lại cho nước nào. Theo lô gíc, những vùng lãnh thổ này được trả lại cho những nước có chủ quyền (hay đã từng tuyên bố chủ quyền) trước khi bị Nhật đòi chủ quyền và chiếm. Trước khi Nhật đòi chủ quyền và chiếm Trường Sa, Việt Nam là nước duy nhất đã từng tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Trường Sa. Thêm vào đó, không có nước nào, kể cả Trung Quốc, phản đối việc Việt Nam tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Trường Sa. Ở hội nghị San Francisco, 48 trong 51 nước phản đối đề nghị chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc; không nước nào phản đối lời khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

Năm 1946, lợi dụng chiến trang giành độc lập của Việt Nam, Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) viện cớ tước vũ khí quân đội Nhật và đổ bộ lên đảo Ba Bình.

Năm 1947, chính phủ Tưởng Giới Thạch ra chỉ thị là cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc quyên cố chủ quyền ở Trường Sa, 22 năm sau khi Pháp đã tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Trường Sa.

Năm 1950, vì Trung Hoa Dân Quốc bị thua trong nội chiến và phải di tản sang Đài Loan, họ rút khỏi đảo Ba Bình.

Năm 1951, Philippines tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa nhưng không nói rõ ranh giới của chủ quyền.

Năm 1951, tại hiệp định San Francisco về việc đầu hàng của Nhật, Liên Xô đề nghị là chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Đề nghị này bị 48 nước trong 51 nước ở hội nghị phản đối. Sau đó trong hội nghị, chính phủ Bảo Đại khẳng định chủ quyền cuả Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Không có nước nào phản đối. Bản tuyên bố của hiệp định San Francisco chỉ nói Nhật trả lại Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng không nói trả lại cho nước nào.

3.1.4 Từ 1951 tới 1975

Đặc điểm của giai đoạn này là VNCH, Trung Quốc và Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa.

Trong thập niên 50, Việt Nam (ban đầu dưới sự bảo hộ của Pháp), Philippines, Đài Loan và CHND Trung Hoa tiếp tục tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa.

Năm 1956 có một số biến cố:

• Một thường dân Philippines tên Tomas Clona đổ bộ lên 7 đảo ở Trường Sa, tuyên bố là “khám phá” những đảo này và dâng cho chính phủ Philippines. Chính phủ Philippines tuyên bố chủ quyền ở những đảo này và tuyên bố là những đảo khác vô chủ.

• Việt Nam, Trung Quốc và Trung Hoa Dân Quốc phản đối Philippines.

• Trung Hoa Dân Quốc gửi lính tới chiếm đóng đảo Ba Bình lần thứ hai. Họ chiếm đóng đả Ba Bình cho tới nay.

• VNCH gửi lính tới đóng quân ở đảo Trường Sa. VNCH đóng quân ở đảo Trường Sa cho tới 1975.

Hình 13: Đảo Ba Bình, bị Đài Loan chiếm đóng từ 1956

Năm 1974, Philippines chiếm 5 đảo Trường Sa: Đảo Vĩnh Viễn, Đảo Bình Nguyên, Đảo Bến Lộc, Đảo Song Tử Đông và Đảo Thị Tứ (1).

3.1.5 Từ 1975 tới nay

Hình 14: Binh lính Việt Nam chào cờ trên đảo Trường Sa (2)

Đặc điểm của giai đoạn này là:

• CHXHCNVN tiếp thu chủ quyền ở Hoàng Sa từ VNCH.

• Philippines leo thang việc đòi chủ quyền để bao gồm phần lớn Trường Sa.

• Malaysia bắt đầu đòi chủ quyền trên 3 đảo.

• Các nước khác xâu xé những đảo Việt Nam chưa chiếm đóng ở Trường Sa.

• Trung Quốc chiếm đóng một số đảo ở Trường Sa lần đầu tiên trong lịch sử trnh chấp.

Năm 1975, Việt Nam thống nhất, VNDCCH tiếp thu và đóng quân những đảo Trường Sa.

Năm 1978, Philippines tuyên bố chủ trên phần lớn quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa, dựa trên lý lẽ Trường Sa là đất vô chủ. Sau đó, Philippines chiếm thêm 3 đảo: Đảo Lakiam, Đảo Loại Ta, và Đá Công Đo.

Năm 1982, Brunei tuyên bố vùng đánh cá 200 hải lý từ bờ biển của nước này (3).

Năm 1984, Brunei tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (4).

Năm 1988, Brunei tuyên bố chủ quyền trên Đá Kiệu Ngựa (Louisa Bank), Bãi Vũng Mây (Rifleman Bank) và thềm lục địa 350 hải lý, ra tới vùng Bãi Tư Chính (5).

Từ năm 1983, Malaysia tuyên bố chủ quyền trên 12 đơn vị ở Trường Sa với hai lý lẽ:

• Những đơn vị này năm trên thềm lục địa của Malaysia.

• Những đơn vị này được Malaysia khám phá và chiếm đóng.

Từ năm 1983 tới 1987, Malaysia chiếm 6 đơn vị ở Trường Sa, trong đó có Đá Hoa Lau, Đá Kỳ Vân và Đá Kiệu Ngựa.

Năm 1988, lần đầu tiên trong lịch sử tranh chấp, Trung Quốc gửi hải quân tới Trường Sa và chiếm đóng một số đảo: Đá Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Huy Gơ, Xu Bi. Ngày 14/03/1988, Trung Quốc tấn công 3 đảo nữa của Việt Nam: Cô Lin, Gạc Ma và Đảo Len. Việt Nam bảo vệ được Cô Lin và Đảo Len nhưng 74 chiến sĩ bị hy sinh và Việt Nam bị chìm 2 tàu vận tải và một chiến hạm.

Hình 15: Trung Quốc xây căn cứ quân sự chính ở vùng Trường Sa trên Đá Chữ Thập sau khi họ chiếm năm 1988

Năm 1989, Trung Quốc chiếm đóng thêm một đảo.

Năm 1995, Trung Quốc chiếm đóng Đá Vành Khăn (Mischief Reef).

Năm 2002, các nước ASEAN và Trung Quốc tuyên bố bản Code of Conduct cho Biển Đông. Bản tuyên bố này nói các nước sẽ không dùng vũ lực hay làm tình hình phức tạp thêm. Tuy nhiên, bản tuyên bố này không phải là một hiệp định và không có hiệu lực của một hiệp định.

Từ 2002 cho tới nay, tình hình ở Trường Sa vẫn căng thẳng. Các nước trong tranh chấp vẫn có những hành động nhằm củng cố vị trí quân sự và pháp lý của mình.

Hình 16: Binh lính Việt Nam tập luyện ở Trường Sa

3.1.6 Tóm tắt tranh chấp Trường Sa

Nhiều chuyên gia luật biển quốc tế cho tranh chấp Trường Sa là tranh chấp lãnh thổ phức tạp nhất thế giới. Tranh chấp Trường Sa cũng là một trong những điểm nóng của thế giới, có nguy cơ bùng nổ thành chiến tranh. Trên diện pháp lý, chủ quyền Trường Sa thuộc về nước đầu tiên tuyên bố chủ quyền và thi hành chủ quyền một cách hoà bình, không bị tranh chấp. Việc tuyên bố và thi hành chủ quyền của các nước ở Trường Sa có thể được tóm tắt như sau:

Bảng 1: Tóm tắt tuyên bố và thi hành chủ quyền ở Trường Sa)

3.2 Một số đề nghị đấu tranh cho Trường Sa


3.2.1 Đấu tranh cho chủ quyền ở Trường Sa

Hình 18: Hải đăng Việt Nam xây trên Đá An Ban năm 1938 là một chứng cớ Việt Nam là nước đầu tiên thi hành chủ quyền ở Trường Sa (6)

Vì Trung Quốc, Philippines và Malaysia tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa 22, 25 và 58 năm sau khi chủ quyền của Việt Nam được tuyên bố và thi hành ở Trường Sa, Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam, không khác gì đảo Phú Quốc và đảo Bạch Long Vĩ. Đấu tranh cho chủ quyền ở Trường Sa là điều dĩ nhiên.

Tuy nhiên, vì Trung Quốc là mối đe doạ lớn nhất cho Việt Nam, với chủ trương và sức mạnh của họ, Việt Nam có thể đề nghị với Phlippines và Malaysia gác vấn đề chủ quyền trên các đảo sang một bên để cùng nhau đấu tranh bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mỗi nước từ bờ biển của mình.

Hình 19: Hải đăng Đá Tây, một thể hiện chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa (7)

3.2.2 Đấu tranh cho Trường Sa không được hưởng đường cơ sở thẳng, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Nếu Trung Quốc giành được Trường Sa, họ sẽ vạch đường cơ sở thẳng chung quanh Trường Sa và đòi là 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và 350 hải lý thềm lục địa từ đường cơ sở đó thuộc về họ. Trong trường hợp đó,

• Thềm lục địa Việt Nam ngoài khơi Vũng Tàu, thay vì được ra tới 300 hải lý (tới trung tuyến với bờ biển Malaysia), sẽ chỉ còn được ra tới 150 hải lý (tới trung tuyến với quần đảo Trường Sa).

• Thềm lục địa Việt Nam ngoài khơi Nha Trang, thay vì được ra tới 280 hải lý (tới trung tuyến với bờ biển Philippines), sẽ chỉ còn được ra tới 140 hải lý.

• Vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam ngoài khơi Vũng Tàu, thay vì được ra tới 200 hải lý, sẽ chỉ còn được ra tới 150 hải lý (tới trung tuyến với quần đảo Trường Sa).

• Vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam ngoài khơi Nha Trang, thay vì được ra tới 200 hải lý, sẽ chỉ còn được ra tới 140 hải lý.

• Đại khái là, từ Đà Nẵng vào tới Vũng Tàu, Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng phân nửa thềm lục địa và một phần tư vùng đặc quyền kinh tế.

Ngược lại, Việt Nam không cần Trường Sa được hưởng quy chế đường cơ sở thẳng, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mới được hưởng 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và 350 hải lý thềm lục địa từ bờ biển nước mình.

Vì vậy, ngoài việc khẳng định và giữ vững chủ quyền ở Trường Sa, Việt Nam cần phải đấu tranh để Trường Sa không được hưởng quy chế đường cơ sở thẳng, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Như vậy, nếu Trung Quốc có giành được Trường Sa đi nữa, họ sẽ không có cớ để dùng Trường Sa làm bàn đạp pháp lý cho việc xâm lấn vào vùng đạc quyền kinh tế và thềm lục địa từ bờ biển Việt Nam. Đấu tranh này quan trọng vì nó là phòng tuyến thứ nhì để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ bờ biển Việt Nam.

May mắn cho Việt Nam, phòng tuyến thứ nhì này rất thuận lợi cho đấu tranh của Việt Nam:

• Trên phương diện công pháp quốc tế, theo điều 121.3 của luật biển Liên Hiệp Quốc UNCLOS, các đảo nhỏ không tự có đời sống kinh tế không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nhiều chuyên gia luật biển quốc tế cho là các đảo Trường Sa thuộc diện này. Việt Nam cần đấu tranh cho quan điểm pháp lý này trên diễn đàn quốc tế.

• Trên phương diện ngoại giao, nếu các đảo Trường Sa không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở đó sẽ thuộc về Philippines, Malaysia, Brunei. Vùng đặc quyền kinh tế phía tân nam Trường Sa sẽ thuộc về Indonesia, vùng đặc quyền kinh tế phía tây Trường Sa sẽ thuộc về Việt Nam. Lưu ý là điều này hoàn toàn không cần và không có nghĩa Việt Nam phải nhường bất cứ đảo Trường Sa nào cho Philippines, Malaysia, Brunei hay Indonesia.

Hình 20: Bản đồ 5: Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước chung quanh Biển Đông nếu Trường Sa không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa . Bản đồ này không có nghĩa phải nhường một số đảo Trường Sa cho các nước khác. Việt Nam cần đấu tranh để thực hiện được đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như trong bản đồ trên. (8)

Như vậy, trong khi Việt Nam bảo vệ được vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia cũng được hưởng lợi vì những vùng nói trên (dù Việt Nam không cần nhường đảo nào cho họ). Vì vậy, nếu Việt Nam đấu tranh cho quan điểm này thì các nước kia sẽ đấu tranh với ta.

Cho tới nay, Việt Nam vẫn chưa có nhiều nỗ lực đáng kể trên diện pháp lý và diện ngoại giao để đấu tranh cho phòng tuyến thứ hai. Đây là phòng tuyến rất quan trọng cho Việt Nam và là nơi Việt Nam có ưu thế. Vì vậy, Việt Nam phải đấu tranh cho phòng tuyến này càng sớm càng tốt.

3.2.3 Kết luận về đấu tranh ở Trường Sa

Dù nhiều nước tranh chấp Trường Sa với Việt Nam, Trung Quốc, với chủ trường và sức mạnh của họ, là nước nguy hiểm nhất cho Việt Nam và các nước khác. Trong tranh chấp Trường Sa, Việt Nam cần đấu tranh trên hai phòng tuyến.

• Phòng tuyến thứ nhất là bảo vệ chủ quyền trên các đảo.

• Phòng tuyến thứ nhì là bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ bờ biển Việt Nam.

Trên phòng tuyến thứ nhì, Việt Nam có ưu thế trên diện pháp lý và ngoại giao. Cho tới nay,Việt Nam chưa có nhiều nỗ lực để đấu tranh cho phòng tuyến thứ nhì. Việt Nam cần làm điều này càng sớm càng tốt.

Chú thích Phần 3

(1) “Sharing the Resources of the South China Sea”, Valencia, Van Dyke, Ludwig, Đại Học Hawaii, 1999

(2) Hình từ VNN

(3) “The Spratly Archipelago: The Origin of the Claims and Possible Solutions”, trang 6,76, Ning Lu, The International Centre, Washington D.C., 1993

(4) “The Spratly Archipelago: The Origin of the Claims and Possible Solutions”, trang 6, 76, Ning Lu, The International Centre, Washington D.C., 1993

(5) “The Spratly Islands Dispute and the Law of the Sea”, Cordner, 25 Ocean Development and International Law 64, 1994

(6) http://www.vovnews.vn/?page=109&nid=42479

(7) Hình từ Công Ty Bảo Đảm An Toàn Hàng Hải Việt Nam

(8) “Sharing the Resources of the South China Sea”, Valencia, Van Dyke, Ludwig, Đại Học Hawaii, 1999

4. Tranh chấp trên Biển Đông

4.1 Lịch sử Biển Đông

Từ thời tiền sử tới nay, Biển Đông không thuộc về bất cứ nước nào. Từ thời tiền sử các nước trên thế giới đã tự do đi lại, khai thác và dùng Biển Đông cho mục đích quân sự mà không cần xin phép bất cứ nước nào. Vì vậy, từ xưa tới nay Biển Đông không phải là nội thuỷ hay biển lịch sử của bất cứ nước nào.

Các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng không hề tuyên bố hay thi hành chủ quyền trên Biển Đông. Bất kể điều này, ngày nay một số tác giả Trung Quốc cho Biển Đông là biển lịch sử của Trung Quốc, nhưng đó chỉ là giấc mơ đế quốc và bành trướng.

Nói chung, trước thế kỷ 20 các nước trên thế giới chưa có khái niệm về chủ quyền trên biển. Năm 1982, Công Ước về Luật Biển Liên Hiệp Quốc (United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS) ra đời. Công Ước này cho các nước ven biển hưởng một vùng đặc quyền kin tế ra tới tối đa 200 hải lý và thềm lục địa ra tói tối đa 350 hải lý. Trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một nước, nếu ngoài lãnh hải 12 hải lý, các nước khác vẫn có quyền đi lại và thi hành công tác quân sự. Vì vậy, từ xưa tới nay, dù với Công Ước về Luật Biển Liên Hiệp Quốc, các nước trên thế giới luôn có quyền đi lại và thi hành công tác quân sự trên Biển Đông.

4.2 Trung Quốc và tranh chấp Biển Đông

Năm 1948. Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) bắt đầu vẽ bản đồ với một ranh giới bằng 9 đường gạch chấm khoanh 2.6 triệu km vuông trên 3.5 triệu km vuông Biển Đông cho họ.

Năm 1958, Trung Quốc tuyên bố nguyên tắc đường cơ sở thẳng và lãnh hải 12 hải lý dọc bờ biển họ và tuyên bố là nguyên tắc đó được áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1992, Trung Quốc tuyên bố luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải.

Năm 1996, Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng dọc bờ biển họ và chung quanh Hoàng Sa.

Năm 2006, Trung Quốc ra chỉ thị là tất cả các bản đồ Trung Quốc phải vẽ 9 đường gạch chấm này để nói là vùng biển trong phạm vi 9 gạch chấm đó thuộc về Trung Quốc.

Từ 1948 cho tới nay, Trung Quốc chưa hề chính thức nói ranh giới 9 đường gạch chấm đó gó nghĩa gì. Chúng có thể có một hay một số trong những nghĩa sau:

• Tất cả các đảo trong ranh giới đó thuộc về Trung Quốc.

• Tất cả tài nguyên biển và thềm lục địa trong ranh giới đó thuộc về Trung Quốc. Trên thực tế, Trung Quốc đã từng tranh phần chấp thềm lục địa nước ta trong ranh giới đó.

• Bên trong ranh giới đó là biển lịch sử của Trung Quốc.

• Bên trong ranh giới đó là biển của Trung Quốc.

Tuy nhiên không nước nào biết ranh giới đó chính thức có nghĩa gì. Dù sao đi nữa, ranh gới đó thể hiện chủ trương chiếm đoạt điều gì đó trên 2.6 triệu km vuông trên Biển Đông. Điều đó ít nhất là tất cả cả tài nguyên biển và thềm lục địa và tối đa có thể là tất cả quyền lợi và quyền trên biển và thềm lục địa.

Hình 21: Bản đồ 6: Chín (9) đường gạch chấm Trung Quốc vạch ở Biển Đông

Có lẽ dụng ý của Trung Quốc khi họ không nói rõ ý nghĩa của ranh giới chủ trương của họ là để các nước khác không phản đối, không biết điều gì cần phản đối. Sau vài thập niên, Trung Quốc sẽ nói là họ đã vạch ranh giới đó từ nằm 1948, tức là gần 100 năm, mà không nước nào phản đối, vì vậy, vùng biển bên trong ranh giới đó đã trở thành biển lịch sử của họ.

4.3 Các nước Đông Nam Á và tranh chấp Biển Đông

Hình 22: Bản đồ 7: Ranh giới chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước Đông Nam Á và ranh giới chủ trương của Trung Quốc (1). Hiện nay Việt Nam chưa có ranh giới chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Các nước Đông Nam Á vạch ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như trên. Những ranh giới này và ranh giới chủ trương của Trung Quốc gây ra một số tranh chấp khác biệt với tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Có một số điều đáng lưu ý:

• Trong những nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam là nước duy nhất chưa vạch ranh giới chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là một điều thiệt thòi cho Việt Nam.

• Tranh chấp giữa Việt Nam và Indonesia về phân chia thềm lục địa giữa vùng Nam Côn Sơn của Việt Nam và Biển Natuna của Indonesia đã được giải quyết trong qua đàm phán. Hiệp định phân chi thềm lục địa VN-Indonesia bắt đầu có hiệu lực vào năm 2007.

• Ranh giới chủ trương của Philippines, Malaysia và Brunei không đe doạ vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa 350 hải lý hay tới trung tuyến từ bờ biển Việt Nam. Ngược lại, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa 350 hải lý hay tới trung tuyến từ bờ biển Việt Nam cũng không đe doạ ranh giới chủ trương của Philippines, Malaysia và Brunei. Vì vậy, ngoài tranh chấp Trường Sa, không có tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.

• Ranh giới chủ trương của Trung Quốc xâm lấn vào trong ranh giới chủ trương của Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Ranh giới chủ trương của Trung Quốc cũng xâm lấn vào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa 350 hải lý hay tới trung tuyến từ bờ biển Việt Nam. Vì vậy, ranh giới chủ trường của Trung Quốc đe doạ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của tất cả các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia

4.3 Tóm tắt và ý nghĩa tranh chấp Biển Đông

Tranh chấp Biển Đông là một tranh chấp rộng hơn tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa trên cả hai diện địa lý và pháp lý. Tranh chấp này nguy hiểm hơn tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Nguyên nhân của tranh chấp này là việc Trung Quốc vạch ranh giới đòi chiếm 2.6 triệu km vuông trên 3.3 triệu km vuông ở Biển Đông. Ranh giới chủ trương này chiếm 75% Biển Đông cho Trung Quốc, để lại 25% cho Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia chia nhau. Trung bình mỗi nước được 5% và Trung Quốc được gấp 15 lần. Ranh giới chủ trương này lấn vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các nước Đông Nam Á như sau:

Hình 23: Bản đồ 8: Bên trái là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước theo luật biển LHQ (2). Bên phải là ranh giới chủ trương của Trung Quốc

Bản đồ trên cho thấy ranh giới chủ trương của Trung Quốc xâm lấn trầm trọng vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia (dù Indonesia không nằm trong các nước tranh chấp Biển Đông). Dưới đây là một số số liệu cụ thể về tỷ lệ diện tích bị xâm lấn.

Bảng 7: Tỷ lệ các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa bị ranh giới chủ trương của Trung Quốc xâm lấn (3)

Những tỷ lệ trên cho thấy ranh giới chủ trương của Trung Quốc có tầm năng gây hại cho Việt Nam hơn cả tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa. Giả sử Trung Quốc có chiếm được hoàn toàn Hoàng Sa và Trường Sa một cách hợp pháp và giả sử Trung Quốc đòi được là hai quần đảo này được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, thì Việt Nam sẽ bị mất khoảng 50% vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ bờ biển nước mình, tức là khoảng 375,000 km vuông, một diện tích lơn hơn lãnh thổ trên bộ. Trong khi đó, ranh giới chủ trương của Trung Quốc xâm lấn từ 50% tới 85% vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, tuỳ theo địa điểm.
Chú thích Phần 4

(1) “Atlas for Marine Policy in South East Asian Seas”, Morgan, Valencia. Đại Học California, 1983

(2) “Sharing the Resources of the South China Sea”, Valencia, Van Dyke, Ludwig, Đại Học Hawaii, 1999

(3) Số liệu được đo từ bản đồ trong “Sharing the Resources of the South China Sea”, Valencia, Van Dyke, Ludwig, University of Hawaii, 1999

5. Kết luận

Bài báo đã trình bày tầm quan trọng về kinh tế và quốc phòng của Biển Đông đối với Việt Nam cùng các tranh chấp trên Biển Đông giữa các quốc gia cùng chung Biển Đông. Sự tranh chấp lớn nhất và nguy hiểm nhất là từ phía Trung Quốc với mộng bá quyền trên Biển Đông nhằm thực hiện ý đồ bành trướng, chiếm trọn và khai thác Biển Đông cũng như tập trận trên Biển Đông. Tung Quốc đang dùng chiến lược “để lâu theo thời gian” cùng với việc đưa ra các thông tin đại chúng giáo dục dân chúng Trung Quốc và đưa ra trường quốc tế nhằm hợp pháp hóa những phần biển đảo mà Trung Quốc cưỡng chiếm của các nước khác. Bài báo cũng trình bày lịch sử tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng một số đề nghị đấu tranh nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống Biển Đông và đấu tranh cho một Biển Đông vì hòa bình ổn định và phát triển trong khu vực. Chính phủ Việt Nam cần phải có những biện pháp mềm dẻo nhưng kiên quyết trong nhiều lĩnh vực để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Biển Đông là những vùng hải đảo và biển mà Việt Nam đã từng có tuyên bố chủ quyền và thực thi chủ quyền qua nhiều thế kỷ trước khi người Pháp vào Việt Nam và trước khi các quốc gia khác tuyên bố chủ quyền.

Theo Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

 

  • http://twitter.com/tammyMtruong TammyTruong

    English version is needed. Please use Google Translate, its’ translation is almost perfect. Please help circulate.

    Xin dịch ra ngoại ngữ. Chiến đấu thời đại cần sự ủng hộ của thế giới. Nước non đang gặp nguy. Đây không phải chỉ là đất và dầu mõ, mà là sự tự do, an ninh và phát triển của toàn Quốc.