Archive for July, 2011

Tài liệu về Biển Đông đang được lưu trữ ở đâu?

Việt Nam quy hoạch phát triển nhân lực đến 2020

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân:

Lần đầu tiên có quy hoạch nhân lực

 

Nhân dịp Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ đã phỏng vấn  Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân xung quanh quy hoạch này.

Phó Thủ tướng Ngụyễn Thiện Nhân: Khi có đầu bài rồi, ngành giáo dục và đào tạo, ngành dạy nghề và các ban, ngành phối hợp mới làm cho việc đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước -

PV: Kính thưa Phó Thủ tướng, ngày 22/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1216/2011/QĐ/TTg phê duyệt quy hoạch nguồn nhân lực giai đoạn 2011- 2020. Quy hoạch này được các nhà quản lý  đánh giá là bản quy hoạch chiến lược phát triển nhân lực đầy đủ và toàn diện nhất kể từ năm 1975 tới nay mà Chính phủ thực hiện. Xin Phó Thủ tướng cho biết ý nghĩa của bản quy hoạch này?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Như chúng ta đã biết, Đảng, Nhà nước rất coi trọng việc phát triển giáo dục đào tạo nói riêng và phát triển nhân lực cho đất nước nói chung. Trong thời gian qua chúng ta đã ban hành nhiều văn bản để phục vụ mục tiêu này. Ví dụ, ngành giáo dục, ngành dạy nghề 10 năm qua đã thực hiện chiến lược phát triển. Tuy nhiên, có một thực tiễn là nhiều năm qua việc cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế xã hội mặc dù vẫn đáp ứng nhu cầu nhưng không thể đầy đủ, đặc biệt là trong những ngành đòi hỏi nhân lực có trình độ cao. Chúng ta cũng đã tìm cách lý giải điều này nhưng chưa trọn vẹn. Qua đánh giá tình hình cuối năm 2009 đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải bổ sung một giải pháp quan trọng trong việc phát triển nhân lực đất nước. Đó là phải xây dựng một bản quy hoạch nhân lực 2011-2020.

Vậy quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam 10 năm tới là gì? Đó là xác định nhu cầu nhân lực của chúng ta về mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề cho từng ngành kinh tế, ví dụ cho công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giao thông vận tải và đến từng vùng kinh tế. Trên cơ sở đó, hiện nay các tỉnh xây dựng quy hoạch nhân lực cho từng địa phương mình. Như vậy, chúng ta lần đầu tiên có một đầu bài, mục tiêu rõ ràng về nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như từng ngành, địa phương. Khi có đầu bài rồi, ngành giáo dục và đào tạo, ngành dạy nghề và các ban, ngành phối hợp thực hiện làm cho việc đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

PV: Xin Phó Thủ tướng cho biết những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể mà Chính phủ sẽ thực hiện trong thời gian tới?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Phải thẳng thắn nhìn nhận là từ trước đến nay chúng ta chưa xây dựng được quy hoạch nguồn nhân lực. Làm việc này rõ ràng là không hề dễ dàng bởi vì từ xưa đến nay, chưa ai làm cơ quan đầu mối để chỉ huy. Qua thảo luận, Chính phủ thống nhất cho rằng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chính là cơ quan tham mưu cho Chính phủ quyết định các ngành kinh tế phát triển như thế nào. Bây giờ phải tham mưu thêm một lĩnh vực là quy hoạch nguồn nhân lực.

Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn và các bộ, ngành và 63 tỉnh, thành xây dựng quy hoạch nhân lực từ cơ sở. Từ đó, mới có bản quy hoạch tổng hợp về nhu cầu phát triển nhân lực quốc gia 10 năm tới. Và ngay sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, ngành phê duyệt quy hoạch nhân lực của chính ngành mình. Coi đó là một giải pháp quan trọng, 1 trong 4 nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển ngành và kinh tế xã hội các địa phương.

PV: Qua một gần một năm rưỡi triển khai khảo sát thảo luận, xây dựng bản quy hoạch, theo Phó Thủ tướng, đâu là những khó khăn lớn nhất khi triển khai thực hiện đề án này?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Khó khăn thứ nhất là nhận thức và thói quen xây dựng chiến lược. Khi chúng tôi làm việc với các địa phương để dự báo nhu cầu nhân lực cho các địa phương thì cũng chỉ rõ đối với khu vực đô thị nên quan tâm đến công nghiệp, dịch vụ, giao thông như thế nào, vùng nông thôn, miền núi, đồng bằng quan tâm đến nông nghiệp ra sao.

Hiện nay chúng ta có thói quen là khi nói đến nhu cầu phát triển thì dự báo rất chính xác là cần có bao nhiêu tiền vốn, quy hoạch khu công nghiệp, nông nghiệp rất rõ ràng nhưng khi hỏi nhân lực cần bao nhiêu thì không trả lời được. Rõ ràng khó khăn đầu tiên là chưa có phương pháp luận, chưa có sự phối hợp giữa các ngành với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Do vậy, qua hơn 1 năm khảo sát từ tháng 4/2010, sau 6 tháng các bộ làm phiên bản đầu tiên và sau đó Chính phủ đối thoại với tất cả 63 tỉnh, thành thảo luận đề án quy hoạch thông qua 7 vùng, thì các địa phương, các bộ, ngành mới hoàn thiện vòng hai. Và đến tháng 3/2011 thì mới xây dựng được bản dự thảo quy hoạch cho các bộ, ngành địa phương.

Khó khăn thứ hai là sau khi có quy hoạch rồi thì ai sẽ triển khai. Rõ ràng chúng ta phải xác định khi quy hoạch có nghĩa là ra đầu bài. “Tổng tham mưu trưởng” nắm chắc đầu bài chính là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhưng nhu cầu nhân lực cụ thể thì là do từng ngành cụ thể xác định. Như vậy, đến từng giai đoạn tiếp theo, từng ngành khi biết nhu cầu của mình thì phải phối hợp với ngành giáo dục, ngành dạy nghề tổ chức, cử người đi đào tạo, tổ chức thu hút học sinh, sinh viên ra trường về làm đúng nhu cầu của mình.

Khó khăn thứ ba là phải tạo cơ chế cho cả xã  hội quan tâm đến công tác đào tạo và sử  dụng nhân lực.

PV: Thưa Phó Thủ tướng, một trong những yếu tố  quan trọng để đề án triển khai được đồng bộ và có hiệu quả là  sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương (vốn chưa thật tốt từ trước đến nay) sẽ phải như thế nào?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Chúng ta có thuận lợi là trong một năm rưỡi qua, khi các bộ, ngành địa phương xây dựng quy hoạch thì bắt đầu có sự phối hợp chặt chẽ hơn với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Dạy nghề. Có nghĩa là bên đặt hàng là các bên quản lý ngành và bên đáp ứng là ngành giáo dục và đào tạo, dạy nghề đã có sự gắn bó với nhau trong việc xây dựng kế hoạch.

Còn sắp tới là phải triển khai kế hoạch. Ví dụ khi chúng tôi họp về quy hoạch nhân lực khu vực Tây Nguyên thì thấy 5 tỉnh Tây Nguyên cần có nhân lực về văn hóa cho đồng bào Tây Nguyên, nhưng nếu cả 5 tỉnh mà  chỉ có một trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật thì không hợp lý. Qua thảo luận đã thống nhất phương án chọn 1 trong 5 tỉnh Tây Nguyên để đặt 1 trường đại học văn hóa cho cả khu vực. Hoặc là khu vực Bắc Trung bộ có nhu cầu cần phải có một trường đại học văn hóa và trường thể thao thì thống nhất nên đặt ở Thanh Hóa vì Thanh Hóa trước đó đã có trường cao đẳng về văn hóa nghệ thuật, và trong 1 năm qua Thanh Hóa đã nỗ lực chuẩn bị rất tốt.

Trong ngày 22/7, đúng ngày Thủ tướng ký quyết định phê duyệt quy hoạch nhân lực thì cũng đồng thời đồng ý về chủ trương thành lập trường Đại học Văn hóa, Thể thao, Du lịch tại tỉnh Thanh Hóa cho vùng Bắc Trung bộ. Đó chính là sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung ương và các địa phương.

Còn một vấn  đề nữa là sẽ cụ thể hóa quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cơ sở dạy nghề cả nước. Trên cơ sở quy hoạch này, từng địa phương sẽ xây dựng quy hoạch của mình. Thủ tướng đã yêu cầu  hàng năm phải có báo cáo về kết quả thực hiện.

Xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng !

Từ Lương (thực hiện)

(C) Chinhphu.vn


 

Bản Quy hoạch phát triển nhân lực đầu tiên của VN

Vietnam+ (24/07/2011) Thủ tướng Chính phủ vừa ký Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nhằm đảm bảo yêu cầu nhân lực thực hiện thành công đường lối công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển nhanh những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh quốc tế.
 

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một bản Quy hoạch về phát triển nguồn nhân lực.

Nhân dịp này, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân về ý nghĩa, nội dung và các giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong 10 năm tới.

- Thưa Phó Thủ tướng, mới đây (22/7), Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 1216/QĐ-TTG phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

Là một người đã nêu ý tưởng từ rất sớm và tâm huyết với bài toán tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội từ khi còn ở cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo, xin Phó Thủ tướng cho biết ý nghĩa của bản Quy hoạch đầu tiên về phát triển nhân lực của đất nước ?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Phải nói là việc xây dựng quy hoạch nhân lực chúng ta chưa bao giờ làm từ năm 1975 tới giờ. Xa hơn trước, có lẽ là từ năm 1961, khi chúng ta xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần đầu tiên đã chưa tính đến việc dự báo nhu cầu nhân lực cụ thể cho các ngành và các địa phương.

Chúng ta mới có quy hoạch về huy động vốn phát triển kinh tế do Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì tham mưu Chính phủ; Quy hoạch sử dụng đất do Bộ Tài nguyên Môi trường thực hiện là chính. Trong nhận thức, trong thói quen khi xây dựng chiến lược, lâu nay chúng ta chưa đề cập đến việc dự báo về nhu cầu nhân lực.

Khi chúng tôi làm việc với địa phương, họ biết rất rõ cần bao nhiêu vốn và đất cho nhu cầu phát triển. Tại các khu vực đô thị thường quan tâm đến phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, giao thông; vùng núi, vùng đồng bằng quan tâm đến ngành nông nghiệp, khoáng sản… nhưng khi hỏi nhu cầu cần bao nhiêu nhân lực, trình độ gì cho mỗi ngành thì không ai biết cách tính cả?

Đây là lần đầu tiên chúng ta có một bản quy hoạch về phát triển nhân lực, xác định nhu cầu nhân lực của chúng ta về mặt số lượng, chất lượng về cơ cấu ngành nghề cho toàn bộ nền kinh tế và từng ngành kinh tế, từng địa phương, ví dụ cho y tế, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông… trong 10 năm tới. Trên cơ sở đó các tỉnh, các ngành xây dựng quy hoạch nhân lực cho đơn vị mình.

Với bản quy hoạch này lần đầu tiên chúng ta có một bức tranh tổng thể, có đầu bài, có mục tiêu rõ ràng về đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế cả nước nói chung và từng ngành, từng địa phương nói riêng. Từ đó, ngành giáo dục đào tạo, dạy nghề và các ban ngành phối hợp làm cho đào tạo nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước của chúng ta. Đây là căn cứ để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, gắn bó cung và cầu trong đào tạo nhân lực.

Từ đầu bài này, toàn ngành giáo dục, dạy nghề mới chuyển động theo và lúc đó mới bố trí ngân sách đúng nhu cầu, mới kêu gọi được đầu tư, nhất là đầu tư của xã hội, của nước ngoài tham gia vào đào tạo nhân lực. Nhà đầu tư có thể xây dựng trường đại học, cao đẳng… nhưng khi hỏi đất nước này cần bao nhiêu nhân lực, trình độ gì mà không trả lời được thì họ không yên tâm đầu tư. Khi biết được đầu bài, rõ nhu cầu rồi họ sẽ tham gia.

Từ Quy hoạch phát triển nhân lực, thời gian tới các ngành, các tỉnh, từng doanh nghiệp, từng cơ quan sẽ phải cụ thể hóa trong kế hoạch phát triển kinh tế, kế hoạch làm ăn… Ngoài vấn đề lo vốn, lo đất, các đơn vị sẽ phải lo xây dựng đội ngũ và phải cùng ngành giáo dục lo đào tạo nhân lực.

Từ nay vấn đề nhân lực không phải là riêng của giáo dục và dạy nghề mà là trước hết là việc của các bộ trưởng, các Chủ tịch tỉnh, các giám đốc… Bản Quy hoạch này có ý nghĩa tạo cơ chế toàn xã hội chăm lo giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.

Có thể nói đúng vào lúc chúng ta chuẩn bị thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm của đất nước thì bản Quy hoạch phát triển nhân lực mà Thủ tướng phê duyệt là nền tảng rất quan trọng để triển khai đồng bộ, để phát triển nguồn nhân lực là khâu đột phá, làm cho nhân lực gắn với khoa học công nghệ là một giải pháp then chốt thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội giai đoạn tới; góp phần chuyển đổi từ mô hình nặng về phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, phát triển dựa vào hiệu quả và lợi thế của đất nước Việt Nam là trí tuệ Việt Nam, con người Việt Nam .

- Với bản Quy hoạch vừa được phê duyệt này, thời gian tới, các bộ, ngành sẽ phải thực hiện các công việc cụ thể gì để xây dựng nguồn nhân lực có lợi thế cạnh tranh cho đất nước, thưa Phó Thủ tướng?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Ngay sau khi ban hành Quyết định 1216 Bộ Kế hoạch Đầu tư hướng dẫn các bộ, các ngành phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực của chính đơn vị mình và coi đó là 1 giải pháp quan trọng, 1 trong 4 nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển ngành và kinh tế-xã hội cho các địa phương trong 10 năm tới.

Bộ Kế hoạch Đầu tư phải làm 3 việc là hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực 10 năm của đơn vị mình; xây dựng hệ thống thông tin về nhân lực trên toàn quốc để từ đó theo dõi tình hình biến động nhân lực giữa cung và cầu; ban hành tiêu chí để giám sát sự phát triển nhân lực trong cả nước (những việc này trong 2011 phải làm xong).

Với các bộ, ngành khác, Thủ tướng yêu cầu phải phê duyệt quy hoạch quy hoạch nhân lực của chính mình. Việc này có thể làm xong trong tháng 8 vì vừa qua khi chuẩn bị xây dựng bản Quy hoạch này, các cơ quan đã chuẩn bị tương đối kỹ.

Các địa phương xem xét lại kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm của mình và đưa vào đó cấu phần kế hoạch phát triển nhân lực 5 năm để làm cho kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội mang tính khả thi cao, dự kiến hoàn tất tháng 9 hoặc tháng 10.

Ngành giáo dục đào tạo và dạy nghề căn cứ vào quy hoạch nhân lực này xây dựng và phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng, đại học, dạy nghề cả nước và trình Chính phủ chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và dạy nghề (dự kiến trong tháng 8).

- Xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng!

Hoàng Hoa

 

Việt Nam đã có quy hoạch nhân lực đến 2020

 

Vietnamnet (24/07/2011)- Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng được quy hoạch nguồn nhân lực quốc gia.

Phát triển đất nước: nhân lực là nền tảng, lợi thế quan trọng nhất

Chiến lược này là Chiến lược tổng hợp cấp quốc gia để định hướng, làm cơ sở cho việc lập, trình duyệt và triển khai thực hiện các quy hoạch, chương trình và đề án phát triển nhân lực của các ngành, chuyên ngành, tổ chức và các địa phương, thông tin được đăng trên Báo Giáo dục&Thời đại.

Các cử nhân nhận bằng tốt nghiệp (Ảnh: Lê Anh Dũng)


Mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới.

Phấn đấu đến năm 2015, Việt Nam sẽ đạt 55% tỷ lệ lao động qua đào tạo; 40% tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề; 300 sinh viên ĐH, CĐ trên 10 nghìn dân; 5 trường dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế (đến năm 2020 là trên 10 trường dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế và trên trường đại học xuất sắc trình độ quốc tế); 100.000 giảng viên ĐH, CĐ…

Đến năm 2015, phấn đấu tuổi thọ trung bình của người dân đạt 74 tuổi, năm 2020 là 75 tuổi; chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam là trên 1,63m vào năm 2015 và trên 1,65m năm 2020; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dưới 10 % vào năm 2015 và dưới 5% vào năm 2020.

Để phát triển nhân lực, những giải pháp đột phá được thực hiện bao gồm: Đổi mới nhận thức về phát triển và sử dụng nhân lực; đổi mới căn bản quản lý nhà nước về phát triển và sử dụng nhân lực. Cùng với đó, tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm như: Xây dựng một số cơ sở đào tạo bậc đại học và dạy nghề đạt trình độ quốc; đổi mới đào tạo và chính sách sử dụng cán bộ, công chức; xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo và chính sách trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực, đặc biệt là hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong quản lý hành chính, ngoại giao và kinh tế đối ngoại, quản trị kinh doanh, giáo dục, đào tạo, khoa học – công nghệ, tư vấn hoạch định chính sách, pháp lý, y học, văn hóa, nghệ thuật; thực hiện đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh; triển khai quyết liệt đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành một nước mạnh về CNTT – truyền thông”, trong đó phát triển và đảm bảo nhân lực là giải pháp hàng đầu…

Mỗi Bộ ngành và địa phương phải xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của mình. Các doanh nghiệp và tổ chức phải có kế hoạch phát triển nhân lực. Bên cạnh đó, cần sử dụng rộng rãi, hiệu quả các cơ chế và công cụ của kinh tế thị trường để mở rộng quy mô, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực và huy động các nguồn vốn cho phát triển đào tạo nhân lực…

 

Vì sao cần có quy hoạch?

Nói rõ thêm về quy hoạch này trên Báo điện tử Chính phủ, theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: “Có một thực tiễn là nhiều năm qua việc cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế xã hội mặc dù vẫn đáp ứng nhu cầu nhưng không thể đầy đủ, đặc biệt là trong những ngành đòi hỏi nhân lực có trình độ cao. Chúng ta cũng đã tìm cách lý giải điều này nhưng chưa trọn vẹn. Qua đánh giá tình hình cuối năm 2009 đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải bổ sung một giải pháp quan trọng trong việc phát triển nhân lực đất nước. Đó là phải xây dựng một bản quy hoạch nhân lực 2011-2020.

(…)Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn và các bộ, ngành và 63 tỉnh, thành xây dựng quy hoạch nhân lực từ cơ sở. Từ đó, mới có bản quy hoạch tổng hợp về nhu cầu phát triển nhân lực quốc gia 10 năm tới.

Về việc phối hợp thực hiện giữa các bộ, ngành, địa phương vốn chưa thật tốt từ trước đến nay được PV báo đưa ra, theo Phó Thủ tướng: “Chúng ta có thuận lợi là trong một năm rưỡi qua, khi các bộ, ngành địa phương xây dựng quy hoạch thì bắt đầu có sự phối hợp chặt chẽ hơn với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Dạy nghề. Có nghĩa là bên đặt hàng là các bên quản lý ngành và bên đáp ứng là ngành giáo dục và đào tạo, dạy nghề đã có sự gắn bó với nhau trong việc xây dựng kế hoạch.

Còn sắp tới là phải triển khai kế hoạch. Ví dụ khi chúng tôi họp về quy hoạch nhân lực khu vực Tây Nguyên thì thấy 5 tỉnh Tây Nguyên cần có nhân lực về văn hóa cho đồng bào Tây Nguyên, nhưng nếu cả 5 tỉnh mà  chỉ có một trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật thì không hợp lý. Qua thảo luận đã thống nhất phương án chọn 1 trong 5 tỉnh Tây Nguyên để đặt 1 trường đại học văn hóa cho cả khu vực. Hoặc là khu vực Bắc Trung bộ có nhu cầu cần phải có một trường đại học văn hóa và trường thể thao thì thống nhất nên đặt ở Thanh Hóa vì Thanh Hóa trước đó đã có trường cao đẳng về văn hóa nghệ thuật, và trong 1 năm qua Thanh Hóa đã nỗ lực chuẩn bị rất tốt.

Trong ngày 22/7, đúng ngày Thủ tướng ký quyết định phê duyệt quy hoạch nhân lực thì cũng đồng thời đồng ý về chủ trương thành lập trường Đại học Văn hóa, Thể thao, Du lịch tại tỉnh Thanh Hóa cho vùng Bắc Trung bộ. Đó chính là sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung ương và các địa phương.

Còn một vấn  đề nữa là sẽ cụ thể hóa quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cơ sở dạy nghề cả nước. Trên cơ sở quy hoạch này, từng địa phương sẽ xây dựng quy hoạch của mình. Thủ tướng đã yêu cầu  hàng năm phải có báo cáo về kết quả thực hiện”.

Văn Chung (Tổng hợp)

(C) Vietnamnet

Chỉ cần được học dù phải đánh đổi bằng sinh mạng

Đại đoàn kết (23/07/2011) – Đấy là cam kết của Nguyễn Chiến Thắng- chàng trai mang nỗi đau da cam với các giáo sư Pháp. Cũng vì Chiến Thắng muốn được theo học Trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế ở Pháp nhưng các giáo sư e dè: Trong não anh khu trú một loại chất độc hoá học, nếu suy nghĩ quá căng thẳng thì anh có thể chết ngay tại bàn làm việc vì đứt mạch máu não.

1. Biến điều không thể thành có thể!

Vừa qua, trong hội nghị thi đua lần thứ nhất của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Hà Nội và Hội nghị điển hình tiến tiến của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, bài báo cáo điển hình của Nguyễn Chiến Thắng có nhắc đến một người bạn với niềm trân trọng: “Là người bạn, người thầy và người cha thứ hai sinh ra Thắng”. Nhiều người thắc mắc, Thắng mủm mỉm cười: “Một Việt kiều tại Pháp và là một hacker chuyên nghiệp”. Còn vì sao Thắng lại tôn vinh người bạn ấy như thế cũng là vì nhờ hacker này mà gần như cuộc đời của Thắng bước sang trang mới!

Đấy là cái lần phiêu lưu trên mạng. Một hacker đã thách đố. Không ngại ngần Thắng thách đố lại. Chỉ một ngày hai máy vi tính của hacker thành phế thải mà cậu ta vẫn chẳng thể xâm nhập vào mạnh Lan của Thắng. Hai người bạn lúc ấy mới nói chuyện với nhau. Thì ra họ đồng cảnh. Tình bằng hữu không biên giới được nối liền.

Hacker đó đã giới thiệu với Thắng về một khoá học tại Trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế tại Pháp- nơi cậu ta đang làm việc. Đọc hồ sơ của Nguyễn Chiến Thắng, các giáo sư ở đây đã mỉm cười hài hước: “Được thôi, nếu thi đỗ, chúng tôi sẽ miễn học phí (9000USD/tháng) cho cậu!” Thắng vào cuộc.

Từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành, bố Thắng- Đại tá Nguyễn Vĩnh Trân đã bao lần chứng kiến những điều “không tưởng” của con. Đấy là sau khoá học hết lớp 3 ở làng Hoà Bình, Thắng đã tự học hết chương trình toán cấp III như thế nào. Đấy là lần Thắng thi lấy chứng chỉ hai chương trình tin học Exel và Forboro. Hay ghê gớm nhất là một năm học chương trình lập trình công nghệ thông tin của Aptech. Dù gì, những chương trình đào tạo ấy được giới hạn ở phạm vi trong nước còn lần này, Thắng định vươn tận sang Pháp? Ông Trân cũng chẳng dám tin khi Thắng báo cậu đã lọt vào một trong 10 người được vào học tại Trung tâm. Ông nhìn đi nhìn lại một danh sách các thí sinh dài dằng dặc đến trên một trăm người. Phần lớn họ đều là những kỹ sư công nghệ thông tin hàng đầu đến từ các nước Anh, Pháp, Israel, Mỹ, Tây Ban Nha… Vậy mà con ông đã Chiến Thắng!

Trước khoá học, Trung tâm tiến hành kiểm tra sức khoẻ của Thắng. “Không thể được, chúng tôi rất lấy làm tiếc”- Chuyên viên y tế Pháp đã lắc đầu- “Ở bán cầu não trái của cậu ấy có một chất hoá học khu trú nên nó làm tổn thương toàn bộ hệ thần kinh bên phải. Cậu ấy phải chung sống hoà bình với nó, nghĩa là không được tư duy nhiều. Trong khi đó chương trình học của chúng tôi rất căng thẳng. Có những bài tập cần tập trung suy nghĩ cao độ mà điều đó có thể khiến cậu ấy đứt mạch máu não mà chết ngay trên bàn làm việc”. Thắng khóc, có lẽ đây là lần đầu tiên! Ông Trân thở phào- coi như ông đã cố gắng thoả mọi ước nguyện của con. Ông nghĩ rằng, con ông sẽ dừng cuộc phiêu lưu ở đây. Nhưng ai ngờ, một tuần sau Thắng bảo bố: “Con bắt đầu tham gia lớp học. Là buổi tối bố ạ: từ 23h- 4h sáng hôm sau” Ông Trân chỉ biết tròn mắt mà nghe con nói. Hỏi ra thì Thắng bảo: “người bạn hacker đã giúp con bày tỏ nguyện vọng với ban giám đốc Trung tâm. Chúng con cam đoan sẽ chịu trách nhiệm mọi việc, kể cả nếu con đứt mạch máu não…”

Đêm, bên ngoài mịt mùng nhưng căn phòng của Thắng luôn sáng ánh đèn. Thắng học trực tuyến với các bạn trên khắp thế giới. Người cha già cố chợp mắt nhưng ông cứ giật mình thon thót khi tỉnh giậy rồi vội vã nhìn vào bàn học của con. Ông lặng lẽ đếm mỗi ngày trôi qua…

Năm thứ hai, chương trình học bắt đầu trìu tượng hơn, hóc búa hơn. Đêm mưa gió. Thắng ôm đầu vật vã. Người cha già vội xoa đầu cho con, những tưởng điều khủng khiếp sẽ xảy ra… Thắng sốt cao và nằm thiêm thiếp trong vòng tay ông. Nước mắt con mặn mòi chảy nơi khoé mắt như bóp nghẹt tim cha! 6 tiếng! Thắng lại vùng dậy và lao vào máy tính. Ông Trân ngăn cũng chẳng được. Lại những đêm căn phòng học của Thắng sáng đèn!

Ông Trân cứ căng ra như dây đàn mà hồi hộp mong ngày cuối cùng của ba năm học trôi qua. Con ông vẫn mạnh khoẻ. Cái đầu vẫn ngúc ngoắc liên hồi. Nó còn cười thật tươi với ông mà khoe: “Con được nhận bằng Microsoft xuất sắc có chữ ký danh dự của Bill Gate. Ngoài ra là 5 chứng chỉ xuất sắc về an ninh mạng. đó cha”.

2. Hạnh phúc lớn lao!

Đến số nhà 29, ngõ 80, Lê Trọng Tấn, Hà Nội, tôi bấm chuông. Chậm chạp, một thanh niên “ngật ngưỡng” ra mở cửa. Đấy là Nguyễn Chiến Thắng- nạn nhân chất độc da cam có cái cổ to hơn cái đầu vì nó ngúc ngoắc cả ngày. Và cả cái miệng méo xệch, tay phải và chân phải cứng đơ khiến việc vận động rất khó khăn. Nguyễn Chiến Thắng nói, tôi kiên nhẫn chờ và căng tai ra nghe. Ông Trân pha trà mời khách và là phiên dịch viên cho con. Hỏi về chiến trường năm xưa, ông Trân kể đến những trận đánh ác liệt nơi miền Tây Quảng Trị, chiến trường Tây Nguyên và Campuchia. Ông bảo: “Sinh con ra, gặp phải nỗi đau này chúng tôi chết lặng. Lúc đó không ai biết nguyên nhân vì sao, nên vẫn còn niềm hy vọng về thế hệ sau. Khi hiểu về chất độc da cam của Mỹ thì nỗi đau càng quặn thắt…”

Nguyễn Chiến Thắng rước đuốc Olympic Bắc Kinh

Năm 2008, Nguyễn Chiến Thắng cưới vợ. Đó là Nguyễn Thị Hồng- sinh viên trường Đại học Công đoàn vì cảm phục nghị lực của Thắng mà chuyển sang học CNTT để có cớ được gặp gỡ. Duyên bén. Ông Trân vui lắm. Nhưng ông vẫn thấp thỏm mong chờ… Ngày con dâu mang bầu, ông đếm từng ngày. Chuyên gia nước ngoài dự đoán ông sẽ có một cháu trai khoẻ mạnh, thông minh vì đối với trường hợp nhiễm chất độc da cam của ông chỉ bị di truyền một thế hệ- con ông. Dẫu vậy, ông vẫn không tin.

Ngày con dâu sinh, ông Trân đến tận bệnh viện để đón cháu. Ông ngắm nghía từng tí cứ như thể một giấc mơ! Rồi cháu bé lớn lên, với cớ thể lành lặn, khoẻ mạnh. Niềm vui thể hiện trong từng lời nói, ông nghẹn ngào: “Mừng là giờ tôi đã có đứa cháu nội kháu khỉnh. Bởi vậy, tôi cũng muốn nhắn nhủ với những nạn nhân da cam khác rằng, hãy cùng hướng đến tương lai để đứng dậy, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào”

Người Việt Nam đầu tiên được nhận tấm bằng Microsoft có chữ ký danh dự của Bill Gate là chàng trai Nguyễn Chiến Thắng. Mới học hết chương trình phổ thông của lớp 3 song là chủ nhân của 5 chứng chỉ sau đại học về an ninh mạng với số điểm xuất sắc do Trung tâm đào tạo lập trình viên quốc tế ở Pháp cấp cũng là chàng trai ấy… Còn nữa, năm 2004, Nguyễn Chiến Thắng được nhận giải Nghị lực cuộc thi Trí tụê Việt Nam. Năm 2008, Thắng là một trong 60 gương mặt được chọn để rước đuốc Olympic Bắc Kinh. Dù mang trong mình nỗi đau da cam nhưng Nguyễn Chiến Thắng đã không ngừng vươn lên, thậm chí dám đánh đổi cả sự sống của mình cho khát vọng được học, được cống hiến!

(C)  Đại đoàn kết

 

Diplomatic Note 1958 with Vietnam’s sovereignty

VietNamNet Bridge – Prime Minister Pham Van Dong’s Diplomatic Note 1958 did not state to give up Vietnam’s sovereignty over the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands.

Nui Le Island in the Spratly Archipelago

China has recently slandered the so-called “indisputable sovereignty” over the Paracel and Spratly Islands. China’s interpretation of the Diplomatic Note dated September 14, 1958 by Prime Minister Pham Van Dong as an evidence that Vietnam recognized China’s sovereignty over the Paracel and Spratly Islands is completely one-sided, and it is the distortion of the contents and the meaning of that document, is entirely strange to Vietnam’s legal foundation as well as international law and ignores the objective fact of the historical background at that time.

China’s distortion of the Diplomatic Note 1958 is an act in a series of intentional acts to create excuses and gradually regularize China’s groundless claims of sovereignty over Vietnam’s Paracel and Spratly Islands.

According to China’s explanation, on September 4, 1958 Chinese Premier Zhou Enlai declared to the world China’s decision regarding the 12 nautical mile territorial waters from mainland China, which also included a map clearly depicting sea borders and sea territories (which also included the two archipelagos Paracel and Spratly or Hoang Sa and Truong Sa of Vietnam).

On September 14, 1958, PM Pham Van Dong representing the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) sent a Diplomatic Note to his Chinese counterpart, with the full text as bellows:

“We would like to inform you that the Government of the Democratic Republic of Vietnam has noted and support the September 4, 1958 declaration by the People’s Republic of China regarding territorial waters of China.

The government of the Democratic Republic of Vietnam respects this decision and will direct the proper government agencies to respect absolutely the 12 nautical mile territorial waters of China in all dealings with the People’s Republic of China on the sea. We would like to send our sincere regards.”

The above statements of China and the Democratic Republic of Vietnam were made in a complicated and urgent context for China related to the territorial waters under international law and the tension at the Taiwan Strait.

In 1956, the United Nations began organizing international conferences to discuss the Law of the Sea. Some agreements were signed in 1958 but they did not satisfy some countries’ claims of territorial waters.

Since the early 20th century, many countries began paying attention to the huge sources of income from marine natural resources and showing their designs to expand their sovereignty in the sea.

China, though did not pay attention to the sea in its history, began being interested in expanding and seeking privileges in the sea. It was not a member of the United Nations at that time, but China raised its voice to the international community to solve sea-related issues in the way benefiting itself. In the strategy for the future, competition in the sea and seeking marine natural resources was considered by China.

In fact, as of the early 20th century, China began eyeing on Vietnam’s Paracel and Spratly Islands. Obviously, occupying these archipelagos has part of China’s ambitious strategy on expanding its marine border.

On May 26, 1950, the Korean War broke out. US President Harry S. Truman ordered the 7th Fleet to enter the Taiwan Strait to prevent China’s attack to the islands there. By this action, the US actually protected Taiwan, despite of China’s severe protest. To show its determination to liberate Taiwan, on September 3, 1954, China attacked some islands like Quemoy and Matsu. This is called the First Taiwan Strait Crisis which lasted from August 11, 1954 to May 1 1955.

On August 11, 1954, Chinese PM Zhou Enlai stated to “liberate” Taiwan and China continued artillery attack to the two above islands.

On September 12, 1954 the US Joint Chiefs of Staff recommended the possibility of using nuclear weapons against China.

In 1958, the Second Taiwan Strait Crisis happened. On August 23, 1958, China intensified artillery attacks to Quemoy and Matsu islands. US President Eisenhower sent US warships to protect the logistic route from Taiwan to Quemoy and Matsu islands.

Apart from the above “complicated and urgent” context for China as being analyzed above, according to researcher Hoang Viet from the Southeast Asian Sea Research Foundation, PM Pham Van Dong’s diplomatic note was released in the specific situation and context of the special relations between the Democratic Republic of Vietnam and China at that time – “both comrades and brothers”.

In 1949, Vietnamese soldiers attacked and took Truc Son, which belonged to China’s territory, from other forces and handed it over to the Chinese People’s Liberation Army. In 1957, China took Vietnam’s Bach Long Vi Island from other forces and then handed it over to Vietnam. This fact showed the special relations between the Democratic Republic of Vietnam and China at that time.

The Diplomatic Note 1958 of the Democratic Republic of Vietnam, signed by PM Pham Van Dong.

Therefore, in the situation that China was facing the threat of being separated, the Second Taiwan Strait Crisis and the intervention of the US navy, China made the declaration on territorial waters, including Taiwan, in order to confirm its marine sovereignty in the urgent situation at the Taiwan Strait. However, China did not forget its long-term plot in the East Sea and added Vietnam’s Hoang Sa and Truong Sa archipelagos to the declaration.

Prime Minister Pham Van Dong’s Diplomatic Note 1958 was released based on the special ties with China at the time the Democratic Republic of Vietnam needed support and assistance from countries in the socialist block and it was a diplomatic behavior showing the support of the Democratic Republic of Vietnam to China in respecting China’s 12 nautical mile territorial waters before complicated developments in the Taiwan Strait.

PM Pham Van Dong spoke support of China in the urgent circumstance when the war was escalating–the US’ 7th Fleet was entering the Taiwan Strait and threatened China.

The contents of the Diplomatic Note 1958 was very cautious, and especially it did not declare to give up Vietnam’s sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. The PM of the Democratic Republic of Vietnam understood clearly that the right to make declaration of the national sovereignty belongs to the country’s highest power institution – the National Assembly, and defending sovereignty and territorial integrity is always the top priority of the State and Vietnamese people, especially in the circumstance the Diplomatic Note was issued.

The Diplomatic Note 1958 has two clear contents: The first is the government of the Democratic Republic of Vietnam noted China’s 12 nautical mile territorial waters. The second is the government of the Democratic Republic of Vietnam instructed its state agencies to respect China’s 12 nautical mile territorial waters.

The Diplomatic Note 1958 did not have a single word about territory and sovereignty or name any island. Therefore, the interpretation that Diplomatic Note 1958 declared Vietnam’s abandonment of its sovereignty over the Paracel and Spratly Islands and considers that diplomatic document as the evidence for Vietnam’s recognition of China’s sovereignty over the two archipelagos, which is the distortion of history and has no legal ground.

At the San Francisco conference in 1951, attending countries rejected China’s claims over the Paracel and Spratly Islands. Also at this conference, Vietnam declared its long-standing and continuous sovereignty over the two archipelagoes at the plenary session, without any protest from all attendant countries. It means that since 1951, the international community recognized Vietnam’s historical and legal sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. China’s unilateral declaration of sovereignty over the two archipelagoes is invalid under international law.

The Geneva Accords1954, which had China as an official attendant, also recognizes Vietnam’s sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. The Accords asked attending countries to respect independence, sovereignty and national unity and territorial integrity of Vietnam. Therefore, China’s statement of sovereignty over the two archipelagos dated September 4, 1958 is invalid under international law.

In the Diplomatic Note 1958, PM Pham Van Dong did not mention the Paracel and Spratly Islands because under the Geneva Accords 1954, the two archipelagos, which are located to the south of the 17 parallel north, were managed by the government of the Republic of Vietnam (South Vietnam). At that time, the government of the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) did not have the duty or power to exercise sovereignty over the two archipelagoes under the international law.

The Diplomatic Note 1958 obviously only agreed with the legal contents in China’s declaration, which were recognized by the international community based on international law at that time. Part of China’s declaration on September 4, 1958 seriously violated Vietnam’s territorial sovereignty and legal foundations on Vietnam’s sovereignty over the Paracel and Spratly Islands which have been recognized by the international communities many times.

The government of the Democratic Republic of Vietnam in the context of the special ties with China at that time only agreed with China’s 12 nautical mile territorial waters. Other contents that exceeded China’s scope of sovereignty under international conventions were not mentioned as the natural consideration of its invalidity under the international law.

Meanwhile, the government of the Republic of Vietnam (South Vietnam), under the Geneva Accords 1954, continuously performed Vietnam’s long-standing sovereignty over the Paracel and Spratly Islands through state administrative documents and actual performance of sovereignty. The highlight of that is the fierce battle of the Republic of Vietnam against China’s invasion by ships and airplanes to the Paracel Islands in 1974.

In the special historical circumstance as being analyzed above, it is obvious that the PM Pham Van Dong’s Diplomatic Note 1958 simply recognized China’s 12 nautical mile territorial waters. This document, in nature, expressed a political attitude and friendship behavior to China’s declaration of 12 nautical mile territorial waters. It is absurd to slander and distort (as China did) that PM Pham Van Dong, an outstanding personality, signed this document to give up Vietnam’s territory and sovereignty while he and the entire Vietnamese people struggled with all their hearts to win independent and freedom.

Before 1975, the countries and territories involved in the East Sea disputes included China, Taiwan, South Vietnam, and the Philippines. Therefore, declarations made by North Vietnam may be seen as declarations of a third party, which had no effect on the conflict itself.

Supposing that the Democratic Republic of Vietnam (North) and the Republic of Vietnam (South) were one country, then based on international law, this declaration is also invalid. However, some has espoused the doctrine of “estoppel” in order to argue that this declaration has validity and Vietnam cannot go back on its words.

According to international law, there is no other legal bar that creates obligation for those who make unilateral declaration other than “estoppel”. Estoppel is a principle in which a country cannot say or do in contrast to what was said or done before. In other words, “one cannot at the same time blow hot and cold.” However, estoppel does not mean that a country is obligated to whatever it declares.

The estoppel doctrine had its beginning in English law, and was later brought into international law. The main purpose is to prevent countries from benefitting from its dishonest actions, and hurting other countries. Therefore, estoppel must meet the following criteria:

1. The declaration or action must be taken by a representative of a country in a clear and unequivocal manner.

2. The country that claims “estoppel” must prove that based on that declaration or action; there are actions or inactions being carried out by that country which constitutes “reliance”, as is called in English and American law.

3. The country claiming “estoppel” also has to prove that based on the declaration of the other country, it has suffered damage, or that the other country has benefitted when making that declaration.

4. Some judgments demand that this declaration must be made in a continuous manner over time.

In addition, if the declaration has the characteristic of a promise, which means that the country declares that it will or will not do something, it must have true intention of wanting to be obligated by that promise, and truly wants to execute that promise.

The estoppel doctrine has many precedents in international courts and countries who have made certain declarations have found to not be obligated to follow them because not all the conditions are met.

Applying these criteria of estoppel to the declaration of the Democratic Republic of Vietnam, we can see that conditions 2 and 3 are missing. In the years 1956, 1958, and 1965, China did not have any attitude or make any changes in its attitude based on North Vietnam’s declaration. China also cannot prove that it suffered damage for relying on that declaration. North Vietnam did not benefit in any way from making that declaration.

At that time, Vietnam and China saw themselves as close comrades and friends. The declaration made by PM Pham Van Dong was based on that friendship. Moreover, the wording of the declaration does not clearly and unequivocally affirm Chinese ownership of the Paracel and Spratly Islands. The letter only states: “The government of the Democratic Republic of Vietnam respects this decision (the decision to determine the 12 nautical mile territorial waters of China), and will direct the proper government agencies to respect absolutely the 12 nautical mile territorial waters of China…”

The declaration of PM Pham Van Dong may also be understood as a unilateral promise, a declaration of intention. In fact, this is a promise to respect the decision of China in its determination of sea territories, and a promise to order national agencies to respect Chinese territories.

If it is a mere promise, then it is even more difficult to obligate a country to follow that promise. The International Court has provided one more condition to make a promise obligatory: the true intention of the country making that promise. That is, whether that country really wants to be obligated to its promise or not. In order to determine this intention, the court examines every event surrounding the declaration, to see in what context and circumstances was the declaration made. Moreover, if the court sees that the country can obligate itself through signing agreements with the other country, then the declaration is not needed, and the court will conclude that the country making the declaration does not truly want to be obligated to that declaration. Therefore, the declaration does not have an obligatory characteristic.

In this case, when PM Pham Van Dong declared that Vietnam will respect Chinese sea territories, he did not intend to speak of ownership of the Paracel and Spratly Islands. He made this declaration in urgent circumstances, in which the war with the United States was escalating. The American 7th Fleet was carrying out activities in the Taiwan Strait threatening China. He had to immediately voice support of China in order to counter against American threat.

Estoppel doctrine is only applied if we consider North Vietnam and The Socialist Republic of Vietnam as one; and even France during the colonial period, and the Republic of Vietnam (South Vietnam) as the same entity as the present Vietnam. If we consider the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) as a separate country, then estoppel cannot be applied because, as stated above, the declaration will be seen as a declaration made by a country that does not have authority over territories being disputed. Therefore, if Vietnam is seen as one single entity from history until the present, then the declarations made by North Vietnam are only statements that carry political meaning during wartimes, compared to the attitude and viewpoint of Vietnam in general from the 17th century until the present.

In summary, the declaration that we are analyzing is missing many factors that allow for estoppel to be applied. The factors of reliance and intention are very significant. If the reliance factor does not exist in order to limit the application of estoppel, countries will be prevented in making their foreign policies. They will be forced to follow out-dated ways to execute their foreign policies. When conditions change, the foreign policy of the other country changes, the foreign policy of this country must also change. It is normal for countries to be friends one moment and then turn into enemies the next.

As for unilateral promises without true intention of following, they are no more than empty promises, similar to those of politicians and candidates in political elections. In the international arena, the principle of sovereignty is very important. Outside international procedures and the articles of Jus Congens, there is no law that obligates a country contrary to its wishes, when it is not causing damage to another country. Therefore, the intention of the country has a decisive role in determining obligation of a unilateral promise.

While carrying out its plot to occupy the East Sea, China has many times distorted historical documents to intentionally mislead Chinese people and the international community of this issue to benefit itself. However, historical evidence of truth under the light of international law, China’s distortion shows its plot and tricks in the process to swallow the East Sea.

Source: Dai Doan Ket

(C) VietNamNet Bridge

Teen Việt được Tổng thống Obama ký tặng bằng khen

Kênh14 (23/07/2011) Đây thực sự là một động lực rất lớn cho cá nhân bạn ấy, đồng thời cũng là dấu ấn cho trí thức trẻ Việt Nam mà chàng cựu sinh trường Marie Curie này là một tấm gương tiêu biểu.

Được 8 trường đại học top của Mỹ trao tặng học bổng mời nhập học (Saint Johnis University, Universy of Porland, Portland State Universty, Seton Hall University, Universty of Mount Union, Saint Johnis University, Iona College, Arizona State University). Không những thế, với thành tích học tập xuất sắc đặc biệt, cậu học trò sinh năm 1992 này đã được đích thân tổng thống Obama ký tặng bằng khen.

Đó chính là Nguyễn Văn Thành Mỹ, chàng trai đất Hà Thành đang theo học chương trình IB (Chương trình THPT Quốc tế) của trường Ef International Academy – tại thành phố New York, Mỹ.

Bằng khen cho thành tích xuất sắc của Nguyễn Văn Thành Mỹ được đích thân Tổng thống Mỹ Obama ký tặng.

Được biết, Thành Mỹ là một trong số 3 gương mặt học viên xuất sắc nhất của trường được nhận bằng khen do chính Tổng thống Obama ký tặng.

Ngay từ đầu năm lớp 12, cậu học trò người Hà Nội đã được 8 trường đại học của Mỹ cấp học bổng đại học, vì yêu thích các môn kinh tế, do đó Thành Mỹ chọn ngành Tài chính – Quản lý trường Saint Johnis University và tháng 8 này bạn ấy bắt đầu cho 4 năm đại học.

Thành Mỹ trong Lễ tốt nghiệp đón bằng khen của Tổng thống, Mỹ vinh dự được đeo dây vàng (dành cho học sinh xuất sắc nhất của trường).

Ngoài việc học, hè nào Thành Mỹ cũng dành thời gian dạy học cho các em nhỏ của một số trung tâm chăm sóc trẻ mồ côi, tham gia các hoạt động của cộng đồng du học sinh ở Mỹ.

Chia sẻ về khó khăn trong những ngày đầu nhập học tại Mỹ, Thành Mỹ cho biết: “Khi mới sang mình rất bỡ ngỡ, mọi thứ đều mới lạ. Sau mấy buổi học trên lớp thầy giao cho viết một bài luận 700 từ. Mình viết mãi cũng chỉ được 400 từ, hôm đó mình đã thức chọn một ngày một đêm để tìm tài liệu viết cho đủ 700 từ và đến sáng hôm sau mình hoàn thành bài luận vào lúc 7h sáng và chỉ kịp ăn sáng nhanh để lên lớp. Kết quả bài luận của mình cũng chỉ được loại C, nhưng mình không buồn vì mình đã làm hết khả năng. Và bài luận ấy là bài duy nhất mình được điểm C, những bài sau mình đều đạt loại A”.

Thành Mỹ rất thích kết bạn với các bạn du học sinh khác, làm quen với các anh chị đi trước để học hỏi kinh nghiệm.

Thành Mỹ chia sẻ: “Mình thấy cách này rất hiệu quả và cũng đúng với sở thích của mình là “thích kết bạn”, thích đi du lịch khám phá những chân trời mới”. Thành Mỹ còn rất thích học ngoại ngữ, Mỹ đang học thêm tiếng Tây Ba Nha.

Sau khi trải qua “khổ ải” của chương trình học IB, Thành Mỹ đã chọn trường Saint Johnis University nhờ những kiến thức vững chắc và niềm đam mê kinh tế, tự nhiên.

Trường Saint Johnis University, ngôi trường đẳng cấp mà Thành Mỹ chọn học.

Hy vọng rằng trong tương lai Thành Mỹ sẽ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa để làm rạng danh cho đất nước, quê hương nhỏ bé của chúng ta các bạn nhỉ?

(C) Kenh14

Next