GS Nguyễn Văn Tuấn: Trải nghiệm tự học của tôi

By admin on July 1, 2011

  • SumoMe

LTS. Tác giả bài viết tham gia diễn đàn kỳ này quê ở Bình Định, sang Úc từ năm 1982. Để mưu sinh, ông đi làm phụ bếp ban ngày, đêm đi học thêm. Từ một chân phụ bếp rồi phụ tá trong bệnh viện, ông đã trở thành tiến sĩ toán thống kê, tiến sĩ y khoa nội tiết học, chuyên gia nghiên cứu cao cấp hội đồng Nghiên cứu y tế và y khoa quốc gia Úc, giáo sư đại học New South Wales. Đến nay, ông đã công bố trên 160 công trình, bài báo khoa học và khoảng 100 báo cáo khoa học.

SGTT.VN – Bài học về sự chủ động trong học hành của tôi bắt đầu từ khoảng 30 năm về trước. Dạo đó, tôi mới sang Úc, và vào học chương trình master. Lần đầu tiên vào giảng đường, tôi bị sốc vì gặp một vị giáo sư cao tuổi rất lạ lùng.

 

Thầy đọc trò chép: cảnh quen thuộc trên các giảng đường Việt Nam. Ảnh: Hồng Thái

 

Bài học đắt giá

Ông đến lớp học hoàn toàn tay không. Không có bài giảng, và cũng không có tài liệu như các vị giáo sư khác. Ông ngồi trên bàn viết, một chân chấm đất, một chân đong đưa, thỉnh thoảng đi qua đi lại, và nói chuyện suốt gần hai tiếng đồng hồ. Ông nói về nghiên cứu của ông là chính, và tỏ ra cực kỳ hào hứng. Sinh viên chúng tôi há hốc ngồi nghe, chẳng ghi chép gì cả, và… chẳng hiểu gì cả. Trong suốt thời gian đó, ông không hề đụng đến bút mực, và dĩ nhiên là không bao giờ viết gì trên bảng (thời đó chưa có powerpoint). Đến giờ tan lớp, có sinh viên thắc mắc tại sao thầy không viết gì để sinh viên ghi lại vài ý, ông thản nhiên trả lời: “Đó không phải là việc của tôi, tôi chỉ cho các anh chị ý tưởng, các anh chị hãy về mà tìm thông tin mà học thêm”.

Câu nói tìm thông tin mà học thêm đó chính là một phương pháp giáo dục phổ biến trong các đại học phương Tây. Đó cũng chính là khái niệm tự học mà thuật ngữ giáo dục gọi là autodidacticism. Thật vậy, sinh viên càng học cao càng được khuyến khích tự học. Ngay từ bậc cử nhân và thạc sĩ, sinh viên đã được cơ hội làm quen với việc chủ động tìm thông tin, thẩm định thông tin, phản biện, và làm nghiên cứu khoa học. Họ được huấn luyện để tự mình phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, được dạy kỹ năng tự làm nghiên cứu, rèn luyện tinh thần tôn trọng sự thật và khách quan trong phán xét. Do đó, khi sinh viên tốt nghiệp đại học, họ tự tin về kiến thức, năng động trong công việc, và sẵn sàng tham gia vai trò lãnh đạo (nếu cần).

Có lần tôi nghe một anh người Mỹ còn trẻ nói chuyện về một đề tài thần kinh mà tôi cứ tưởng anh là nghiên cứu sinh tiến sĩ, nhưng thật ra anh chưa tốt nghiệp trường y. Một lần khác, tôi chứng kiến hai em bé người Mỹ chỉ mới 13 tuổi trình bày lưu loát một nghiên cứu (do chính hai em thực hiện) trong hội nghị loãng xương quốc tế với trên 5.000 người tham dự. Sự tự tin và kỹ năng nghiên cứu của họ đã được hun đúc ngay từ lúc còn nhỏ. Họ tự học từ kiến thức căn bản, và vì họ tự mình thu thập thông tin nên họ cảm nhận được và tự tin với điều mình nói.

Ngược lại, sinh viên Việt Nam chúng ta có xu hướng thụ động và thiếu tinh thần tự học. Chẳng nói đâu xa, có thể lấy cá nhân tôi ra làm ví dụ. Khi mới vào học ở Úc, có lần tôi được cho một bài tập chỉ vẻn vẹn hai câu văn, yêu cầu bình luận về một công trình nghiên cứu. Thật ra, lúc đó, chẳng ai trong chúng tôi biết chủ đề của công trình nghiên cứu, vì sinh viên xuất thân từ nhiều chuyên khoa khác nhau. Cần mở ngoặc ở đây là lần đó bài làm của tôi thất bại thê thảm vì tôi chỉ lặp lại những kiến thức cơ bản, và thầy phê chỉ một chữ duy nhất “boring” (có nghĩa là đọc thấy chán, chẳng có gì sáng tạo) với điểm gần 0, điểm thấp nhất trong đời đi học của tôi. Nhưng chính qua câu hỏi đó, chính qua sự thất bại thê thảm đó, tôi có dịp chẳng những tự tìm hiểu những vấn đề cơ bản, mà còn học cách đặt vấn đề, lượng giá khoa học của thông tin, và nhất là phát hiện vấn đề.

Môn thể thao trí tuệ tuyệt vời

 

Tác giả tại một hội thảo khoa học quốc tế.

 

Cũng chính qua thất bại đó mà tôi ý thức được sự khác biệt về cách dạy học ở Việt Nam và Úc. Trong khi ở Việt Nam, chúng ta quen với cách học “thầy giảng trò chép” bấy lâu nay, thì ở ngoài người ta đã bỏ cách dạy đó và tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự tìm tòi để nâng cao kiến thức và kỹ năng. Tôi có thể ví cách học ngoài này là người thầy cho sinh viên cái “cần câu” hay phương tiện để sử dụng trong tương lai, và phương tiện đó chính là tư duy độc lập và chủ động. Một khi sinh viên đã có phương tiện và tự tạo ra hay thu thập được dữ liệu / kỹ năng mới, họ sẽ tự tin hơn và hứng thú hơn với thành tựu của chính mình. Nếu họ chỉ sử dụng dữ liệu của người khác một cách thụ động thì đó không phải là cái gì đáng tự hào và sinh viên sẽ trở nên thiếu tự tin. Phải gần một năm trong môi trường giáo dục ở Úc, tôi mới làm quen với cách học chủ động.

Phần lớn sinh viên Việt Nam (hay Á châu nói chung) có xu hướng học theo công thức, nhưng còn rất kém trong sáng tạo. Thật vậy, kinh nghiệm của tôi trong vai trò người dạy cho thấy sinh viên Việt Nam nói chung giỏi giải những bài toán khó, nhưng khi hỏi họ ứng dụng trong thực tế thì họ gần như… bí. Khi học trong khuôn khổ, sinh viên Việt Nam rất khá; nhưng khi được cho “học tự do” như thiết kế thí nghiệm, phát kiến ý tưởng khoa học, thì sinh viên Việt Nam kém hẳn sinh viên địa phương. Do đó, trong những năm đầu, sinh viên Việt Nam khá hơn sinh viên Úc, nhưng khi học lên càng cao thì sinh viên Việt Nam càng kém.

Sinh viên Á châu và Việt Nam cũng kém tinh thần làm việc trong đội (team work). Một anh bạn tôi là giáo sư hoá học của đại học New South Wales nhận xét rằng khi làm việc trong nhóm, sinh viên phương Tây thường năng động, phát kiến tốt, tìm cách giải quyết vấn đề, chủ động đóng vai trò lãnh đạo; còn sinh viên Á châu nói chung và Việt Nam nói riêng chỉ giỏi làm những nhiệm vụ được giao phó! Anh bạn tôi kể rằng có lần anh đưa một sinh viên Úc năm cuối chương trình kỹ sư làm một đề án chuyên môn, sau khi nghe qua mục đích đề án chừng nửa giờ, cô ta đi tìm tài liệu, chủ động liên lạc với các tổ chức về môi sinh, với những chuyên gia khắp thế giới, thậm chí liên lạc cả Liên Hiệp Quốc mà không cần ai chỉ bảo. Về mặt kỹ thuật cô ta cũng tự học lấy những kỹ thuật tính toán mới mẻ bằng máy tính chưa hề được dạy. Sáu tháng sau, cô ta làm xong một công trình có giá trị, được đăng trong một tạp chí quốc tế, và có ít nhiều tiếng vang trong ngành. Sự tháo vát như vậy không phải là không có ở sinh viên Việt Nam, nhưng rất hiếm.

Tinh thần chủ động và tự học đóng vai trò rất quan trọng trong học tiến sĩ. Nghiên cứu sinh khi tốt nghiệp tiến sĩ phải chứng tỏ mình có những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành, phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, có kỹ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình. Nhưng một trong những tiêu chuẩn của tiến sĩ là nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình độc lập sau khi tốt nghiệp. Nhưng kỹ năng này phần lớn là do nghiên cứu sinh tự học, chứ rất ít khi nào thầy cô “cầm tay chỉ việc”. Thật vậy, học tiến sĩ thường phải làm việc với một hay hai thầy / cô hướng dẫn. Có ba “loại” thầy hướng dẫn chính: nhà khoa học, doanh nhân, và nhà độc tài. Người thầy trong vai trò nhà khoa học là đồng nghiệp của nghiên cứu sinh, cho định hướng nghiên cứu, nhiệt tình nâng đỡ và chia sẻ kiến thức với nghiên cứu sinh để cả hai thầy trò có thể thành công trong trường khoa học. Người thầy kiểu doanh nhân là người rất bận, ít có thì giờ để thường xuyên gặp nghiên cứu sinh, nhưng lúc nào cũng đòi hỏi phải có “sản phẩm” (tức bài báo khoa học), mà không mấy quan tâm đến chuyện nghiên cứu sinh phải xoay xở ra sao. Người thầy kiểu nhà độc tài là người rất khó tính, xem nghiên cứu như là “nô lệ” phục vụ cho sự nghiệp của họ, lúc nào cũng đòi hỏi nghiên cứu sinh phải báo cáo từng chi tiết một, và lúc nào cũng đòi hỏi phải có sản phẩm theo đúng định kì. (Cố nhiên, còn có một loại “thầy” thứ tư là loại… vô trách nhiệm, nhận nghiên cứu sinh mà không có định hướng cũng chẳng giúp gì cho nghiên cứu sinh, nhưng đây không thể xem là thầy nên không được tính ở đây). Dù học tiến sĩ dưới bất cứ loại thầy nào thì nghiên cứu sinh phải có tư duy độc lập, có tinh thần tự học và chủ động.

Tự học hay autodidacticism không dễ. Nó đòi hỏi người học phải tập trung, và học từ cơ bản chứ không phải học từ ngọn. Chẳng hạn như mỗi ngày tôi học một từ tiếng Anh, tôi phải học từ đó đến từ đâu, có nghĩa gì, và những cách sử dụng từ đó. Tự học không có nghĩa là học trong cô đơn, mà có giao tiếp với bạn bè để cùng học hỏi. Tự học không có nghĩa là chỉ đọc sách, đọc báo, mà phải làm theo sách, thực hành từ bài báo cho đến khi hiểu. Tự học cũng có nghĩa là học cách phản biện và phát hiện vấn đề. Tuy tự học không dễ, nhưng đó là hình thức thể thao trí tuệ tuyệt vời nhất và có hiệu quả nhất.

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội. Những mục tiêu đó không thể chỉ học trong vòng vài năm, mà phải học suốt đời, chính vì thế mà ở các nước phương Tây người ta có khái niệm lifelong learning – học suốt đời. Học suốt đời là một cách để chúng ta hấp thu tri thức và kỹ năng mới qua học hành và kinh nghiệm không chỉ trong nhà trường mà còn ngoài xã hội nói chung. Nhìn như thế để thấy rằng tư duy tự học và chủ động học tập đóng vai trò quan trọng số một trong cuộc sống.

NGUYỄN VĂN TUẤN

 

Người trẻ thảo luận chuyện tự học

Bên cạnh diễn đàn mở ra trên Sài Gòn Tiếp Thị, một diễn đàn trực tuyến của học sinh: www.hskl.net cũng mở ra cuộc thảo luận “Tự học dễ hay khó?”. Hiện đã có 80 ý kiến tham gia. Dưới đây là một số ý kiến đại diện:

– Để có thể tự học được hiệu quả là một nỗ lực cực kỳ lớn. Phải có một tinh thần tự giác rất cao. Tâm lý chung là những cái gì không có tính bắt buộc lắm thì sẽ không có hứng thú, không có độ quyết tâm làm. Phải cố nghĩ cho nó một cái mục đích gì đó để lấy được tâm lý “cái này cần phải làm”. Và đôi khi tự học thì cũng không biết là cần phải làm gì, bởi vì… nhiều cái để làm lắm! (rockbaby)

– Tự học là tốt, nhưng đôi khi, tự học mà không biết rõ hướng đi, cái gì cần học thì dẫn đến là học quá nhiều cái ko cần thiết, mà cái cần học thì lại ko học, nên trung quy là phải kết hợp cả hai, cả thầy và trò … (Trang Anh)

– Vừa dễ vừa khó. Nếu tự học được thì mình vừa là giáo viên cho chính mình luôn. Bí quyết để tự học được chính là tự giác và sáng tạo (sáng tạo trong cách học, trong giờ giấc học ) vì tớ thấy nhiều người tự học điên đảo, chẳng chú ý đến nghỉ ngơi, điều đó ko tốt đâu. Mục tiêu của tự học là học thật, học để lấy kiến thức, chứ nếu học để lấy điểm số cao thì có lẽ nê học vẹt, đỡ tốn thời gian và công sức như tự học (Trang)

– Mình thì thik tự học hơn. Lúc nào có hứng thú thì học, ko thì nghỉ, khá thoải mái. Chắc cũng 1 phần do môi trường tác động, thầy cô chỉ dạy y hệt sách mà lại ko bắt lên lớp. Mỗi lần lên trường đi đi về về mất thêm thời gian, mà bạn bè gặp nhau lại ngồi chém. Tự học thì có vài điểm mấu chốt thế này: xác định mục tiêu học tập,thường là gạch đầu dòng những phần chính phải học, lên lịch trước,hôm nay học phần này,mai học phần kia…., đọc hết sách mà thầy cô dùng để giảng dạy, ìm tài liệu tham khảo xung quanh vấn đề quan tâm (xucxich8x)

– Em tự học từ bé nên đối với em việc này thật đơn giản. Chính vì thế, em cảm thấy thật lạ đối với 1 số bạn k thể tự học được. Như ở lớp học thêm, có 1 số bạn mà lúc đầu, em có cảm tưởng đó là những người rất chăm học. Cứ thấy bài “hơi” khó là đi hỏi thầy cô bạn bè xung quanh. Nhưng tiếp xúc lâu, em lại cảm thấy họ là những người dường như học chỉ như đối phó. Bài tưởng chừng đơn giản nhất, cũng đem đi hỏi, 1 dạng bài mà cứ hỏi đi hỏi lại… thật là hài hước… Em k biết đó là do họ lười suy nghĩ hay luôn đem theo cái suy nghĩ ” Không biết phải hỏi” suốt đời được chứ. Đứng trước mỗi câu hỏi của họ, em không biết phải làm thế nào, chẳng lẽ trả lời cho họ mãi đc sao hay từ chối thẳng thừng với họ “Tự đi mà làm” . Không biết đối với họ, “Tự học” khó vậy sao (voi con)

T.L

 

(Nguồn: http://www.sgtt.com.vn/Khoa-giao/145375/Trai-nghiem-tu-hoc-cua-toi.html)