Archive for September, 2011

Cần sự nổi dậy của tư duy giáo dục

(Dân trí) – Loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… là thực trạng buồn của giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu – GS. TSKH Hồ Ngọc Đại bày tỏ.
>>  Không có tư duy phản biện, không phải là trí thức!

Niên học 2007-2008 kết thúc với khá nhiều ấn tượng đáng ghi nhận. Ngành giáo dục, sau nhiều năm bê trễ và luẩn quẩn có vẻ như đã tìm được hơi thở mới. Hàng loạt các phong trào “Hai không”, “Bốn không” đã thu được những thành quả nhất định. Các kỳ thi đã diễn ra nghiêm túc  hơn, đặc biệt là kỳ thi đại học. Gần đây nhất, việc Bộ GD-ĐT cho in 3 cuốn  đính chính sai sót trong SGK đã thể hiện tinh thần cầu thị, nhìn thẳng vào  sự thật.

 

Tuy nhiên, trên tinh thần khoa học, thẳng thắn và xây dựng, không ít nhà chuyên môn cho rằng cách làm giáo dục theo kiểu phong trào nối tiếp phong trào như hiện nay sẽ khó đem lại hiệu quả lâu dài như mong muốn bởi phong trào chỉ mang lại hiệu quả trong những thời điểm nhất định. Hình như giáo dục của ta vẫn đang loay hoay với một tư duy giáo dục quen cam chịu, không dám “nổi loạn”.

 

Dân trí đã có cuộc trò chuyện với một nhà giáo dục nói dai, nói mãi, nói nhiều nhưng cũng là người nói đúng, nói trúng, nói quyết liệt và thẳng thắn đến mức nhiều khi “nghịch nhĩ” – GS. TSKH Hồ Ngọc Đại.

 

Thiếu lý luận giáo dục

 

Cách đây không lâu, khi trả lời phỏng vấn chúng tôi, TS Chu Hảo nói đại ý rằng, giáo dục của chúng ta lại đang đi vào bất cập như đã từng bất cập, rằng giáo dục chưa được bắt đúng “bệnh” và những thành công hiện nay là thành công của cách làm phong trào và không bền vững. Ông có đồng ý với nhận xét này?

 

Tôi xin được thay 2 chữ: Bất cập = Thất bại.

 

Có lẽ trong văn cảnh này thì bản chất của hai từ trên không khác nhau nhiều lắm. Nó cũng chỉ là cách nói “nhiều” với “không ít” thôi. Tuy nhiên, vì sao các ông lại có nhận xét bi quan thế?

 

Tôi không bi quan, hiện tại nó đang như thế. Có lẽ câu cần hỏi là vì sao lại vẫn cứ để cho điều đó xảy ra?

 

Vâng, cứ cho là như thế,  theo ông thì nguyên nhân sâu xa của nó là gì?

 

Đó là vì chúng ta làm giáo dục bằng kinh nghiệm, bằng thói quen, bằng mò mẫm, thậm chí không loại trừ bằng lợi ích của một nhóm người mà không xây dựng cho mình một nền tảng lý luận để phát triển giáo dục. Vì không có lý thuyết nên không có cách làm thực tiễn phù hợp với lý thuyết đó. Và do đó, không biết phải bắt đầu từ đâu, thực hiện điều đó như thế nào.

 

Trẻ em đang cần một nền giáo dục khác

 

Trước khi từ giã thế kỉ 20, chúng ta đã cố gắng hoàn thiện một nền tảng lý thuyết về giáo dục cho thế kỉ 21. Thế nhưng đã bước sang thế kỉ mới 8 năm rồi mà ông vẫn nói là vẫn chưa biết bắt đầu từ đâu?

 

Khi chuẩn bị việc đó, chúng ta vẫn là con đẻ của thế kỉ 20 đi lo công việc của thế kỉ 21. Đó là một sai lầm. Phải coi thế kỉ 20 ra đi như một kẻ đột tử mà không thể “ăn bám” vào nó thêm nữa. Do đó, thế kỉ 21 phải tự lo liệu thân mình. Đây là hai thế kỉ hoàn toàn khác nhau về bản chất. Những đứa trẻ của thế kỉ 21 không phải là những đứa trẻ của thế kỉ 20.

 

Chúng đi xe hiện đại, sử dụng điện thoại di động hiện đại, sử dung intenet siêu tốc và máy vi tính hiện đại. Ngay cả đồ chơi và trò chơi chúng cũng không còn chơi những đồ chơi và trò chơi của các thế kỉ trước. Do đó, chúng rất cần được hưởng nền giáo dục hiện đại, nội dung hiện đại, phương pháp hiện đại thì ngược lại, chúng đang bị “nhốt” trong cái lồng quá cũ và được “nhồi nhét” kiến thức theo phương cách cũ. Tóm lại, trẻ em hôm nay cần một nền giáo dục khác.

 

“Nền giáo dục khác” là nền giáo dục như thế nào?

 

Một nền giáo dục có lý thuyết, không mò mẫm, không đối phó, không lừa dối, dù lừa dối người khác hay tự lừa dối chính mình. Tiếc thay có nhiều điều tỉnh táo thì lại đang được thực hiện một cách ngông cuồng!

 

Ngông cuồng. Đó là những điều gì vậy?

 

Loạn trường đại học, loạn giáo sư, loạn tiến sỹ… Cái cần “nổi loạn” nhất là sự nổi loạn của tư duy thì lại trì trệ, lại không dám, chỉ biết cam chịu.

 

Bằng đại học “cỏ đồng ta”

 

Cái mà ông nói là “nổi loạn tư duy” cụ thể ở đây là cái gì vậy?

 

Là thay đổi cách học và nội dung cần học, đặc biệt là ở tiểu học và đại học.

 

Tại sao lại đặc biệt ở tiểu học và ở đại học?

 

Đó là hai bậc học hoàn toàn khác nhau về mục đích. Nếu bậc học tiểu học là cơ hội cuối cùng để duy trì, gìn giữ bản sắc dân tộc thì ở bậc đại học lại là cơ hội đầu tiên để hòa nhập, hội nhập quốc tế. Một chương trình tiểu học không cần phải giống nước nào và cũng không cần nơi nào công nhận thì ngược lại, chương trình đại học phải là chương trình quốc tế và bằng cấp phải được thế giới thừa nhận. Một bằng tốt nghiệp đại học chỉ dùng ở “tiêu thụ nội địa” là một bằng đại học “trâu ta ăn cỏ đồng ta”, chỉ có sức để kéo cày chìa vôi thôi.

 

Vô trách nhiệm là tội ác

 

Ông là người cả đời đi dạy tiểu học nên ông đặt vấn đề quá lớn về cấp tiểu học này chăng?

 

Tôi xin nói lại, không phải cả đời mà tính đến nay, tôi mới có 54 năm làm nghề sư phạm thì 40 năm gắn bó với tiểu học và tôi rất hiểu bậc học này. Đây mới là bậc học liên quan đến từng gia đình, toàn xã hội nên đòi hỏi phải có nghiệp vụ sư phạm tinh tế nhất, hiệu quả nhất, chặt chẽ nhất. Ở đây, đúng là đúng mãi mãi mà sai là sai mãi mãi, không thể sửa chữa sai lầm. Thiếu trách nhiệm, “bôi bẩn” những trang đầu đời của trẻ em là tội ác.

 

Theo ông, cần phải “bôi” cái gì lên trang giấy ấy? Hay nói cách khác, yêu cầu cụ thể ở từng lớp bậc tiểu học là gì?

 

Ví dụ lớp một là đọc thông, viết thạo, nắm vững luật chính tả, không thể tái mù. Đối với lớp hai viết thành câu, lớp ba không bao giờ viết sai câu. Thật vô lý khi 5 – 6 tuổi đã nói rất sõi, rất tinh tế, nhưng đến hết đại học vẫn viết sai chính tả. Viết sai tiếng mẹ đẻ là một điều sỉ nhục.

 

Sẽ sớm có sự thay đổi

 

Vừa qua trên Diễn đàn Dân trí, rất nhiều giảng viên trẻ rời bỏ giảng đường để đi tìm một môi trường khác mà theo họ, không chỉ là đồng lương. Ông giải thích gì về hiện tượng này?

 

Tôi có theo dõi diễn đàn này và thấy những người ra đi đều có lý của họ. Tôi trân trọng họ vì họ dám thể hiện quan điểm của mình. Một nền đại học là rao giảng, là bằng cấp, là đối phó… là vì những mục đích cá nhân đương nhiên là một môi trường bê trễ.

 

Quả là từ nhiều năm nay, nền giáo dục chưa bao giờ làm yên lòng dư luận xã hội, thậm chí chưa bao giờ không được coi là vấn đề bức bách. Theo ông, tình trạng này liệu còn kéo dài?

 

Không, không thể chịu được nữa rồi. Cuộc sống đã quá bí bách, không thể chịu được với thực trạng giáo dục, nên dứt khoát chỉ vài ba năm tới, sẽ có sự thay đổi lớn. Khi đó, những đòi hỏi chính đáng từ cuộc sống sẽ đủ sức mạnh vượt qua những lợi ích cục bộ, những lợi ích tạm thời của một nhóm người để giáo dục phát triển.

 

Nếu vài ba năm tới, giáo dục có một cuộc cách mạng thực sự và đem lại thành công sẽ là điều rất vui nhưng giả sử không có điều đó?

 

Thì sẽ là bi kịch lớn và giả sử có được thành công thì cũng vẫn là bi kịch, bởi đáng lẽ giáo dục, đào tạo phải lĩnh ấn tiên phong, đi trước, dự đoán trước những đòi hỏi của xã hội mà bây giờ mới làm chạy theo, đuổi theo, lẽo đẽo theo. Nói vậy thôi, muộn còn hơn không.

 

Tôi chỉ là người cảm nhận được hơi thở thời đại

 

Thưa giáo sư Hồ Ngọc Đại, cách đây tròn 30 năm (1978), khi đó Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục vừa ra đời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có hỏi ông và khi đó, ông đã nói là sẽ thất bại. Giờ đây, ông lại nói về những bi kịch của giáo dục Việt Nam. Ông là người bi quan hay bởi cái tính thích nói khác người?

 

Tôi luôn luôn dựa trên những luận cứ khoa học. Tôi không bi quan, không lạc quan mà cũng không bao giờ cho mình được phép nói khác những điều mình thu nhận được. Cũng xin nhắc lại rằng nhận định của tôi 30 năm trước đã hoàn toàn chính xác và trên thực tế, rất tiếc là công cuộc cải cách giáo dục đã thất bại. Còn những gì tôi nói hôm nay là thực tế đang diễn ra ở ngay ngày hôm nay ở mọi lớp học, cấp học, mọi trường, mọi lớp.

 

Ông là người hay nói những điều “nghịch nhĩ”, thậm chí có người còn cho là gàn. Phải chăng vì là con rể của cố Tổng bí thư Lê Duẩn nên ông tự cho mình cái quyền gàn đó?

 

Ông Lê Duẩn đã mất cách đây 22 năm và 22 năm qua đầy biến động. Tôi là con đẻ của thời đại, cảm nhận được hơi thở của thời đại và cũng dám bỏ qua những lợi ích tầm thường để đi theo tiếng gọi của thời đại. Tiếc nỗi tôi đã 72 tuổi, cái quỹ thời gian không còn nhiều…

 

Nếu như được yêu cầu góp ý cho giáo dục hiện nay, ông sẽ nói điều gì?

 

Như anh Chu Hảo nói, không thể cải cách giáo dục bằng phong trào và làm phong trào nhiều như thế là đủ rồi. Nói “không” với cái xấu, cái ác là cần thiết nhưng quan trọng không phải là những cái “không” mà làm ra một cái “có”; trên cơ sở cái “có”, hãy tập trung vào xây dựng một chiến lược phát triển giáo dục cho thế kỉ 21. Đừng chần chừ! Mất thời gian là mất tuyệt đối!

 

Xin cám ơn giáo sư!

 

Bùi Hoàng Tám
(Thực hiện)

(dantri.com.vn

GS Hoàng Tụy và khát vọng chấn hưng giáo dục

(Dân trí)- Giới khoa học thế giới ngưỡng mộ, tôn kính ông, bởi ông là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”. Trong nước ông được nhận Giải thưởng Phan Châu Trinh cho “những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực giáo dục, góp phần phát triển nền giáo dục nước nhà” – đó là GS Hoàng Tụy.
>>  Tìm hướng đi cho cải cách giáo dục
GS Hoàng Tụy được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục” với những thuật ngữ mà bất cứ ai trên thế giới muốn đi vào chuyên ngành này đều phải học như Tuy’s cut (lát cắt Tụy), Tuy-type algorithm (thuật toán kiểu Tụy), Tuy’s inconsistency condition (điều kiện không tương thích Tụy)…
GS Hoàng Tụy Ông là người đầu tiên trên thế giới được nhận giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” do Tổ chức quốc tế Tối ưu Toàn cục đề xướng năm 2011.

Tháng 9/2011, ông được tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục trao tặng giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize”. Tiêu chuẩn công trình nhận giải thưởng này bao gồm tính xuất sắc, độc đáo, ý nghĩa, chiều sâu và ảnh hưởng của cống hiến khoa học. Như vậy, ông là người đầu tiên trên thế giới được nhận giải thưởng này. Một lần nữa thế giới lại vinh danh ông. Trước đây đã có những hội thảo quốc tế chúc mừng ông nhân dịp ông 70 tuổi (Thụy Điển, 1997) và 80 tuổi (Pháp, 2007).

Năm nay, GS Hoàng Tụy đã bước sang tuổi 84 nhưng suốt quãng thời gian hơn 60 năm qua ông đã cống hiến hết mình cho khoa học và cho nền giáo dục nước nhà. Ông cùng với GS Lê Văn Thiêm đề xuất xây dựng Viện Toán và Viện Toán đã trở thành cái nôi đào tạo nhiều nhà toán học nổi tiếng của Việt Nam và trên thế giới.

“Khi được nhận giải thưởng này tôi cảm thấy bình thường thôi vì lâu nay mọi người làm về tối ưu toàn cục đều biết rõ những đóng góp cơ bản của tôi trong lĩnh vực này. Giải thưởng này chỉ là một lần nữa chính thức khẳng định những đóng góp ấy và xác định vị trí hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực “Tối ưu toàn cục” trên thế giới” – ông khiêm tốn khi nói về thành quả nghiên cứu khoa học của mình.

Cải cách giáo dục - mệnh lệnh cuộc sống

Cải cách giáo dục – đó là điều GS Hoàng Tụy tâm huyết, đau đáu và kiên quyết theo đuổi hàng chục năm qua mặc dù có rất nhiều trở ngại, thậm chí là thất bại. Nhiều lúc ông đã nản lòng nhưng rồi ông nhìn thực tế, ông không chịu được lại tiếp tục đấu tranh và kiến nghị.

Theo ông, ba thập kỷ nay giáo dục là chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển của xã hội Việt Nam. Đến bây giờ sự thật hiển nhiên không cần phải bàn cãi nữa. Vì vậy cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện và triệt để là mệnh lệnh khẩn cấp của cuộc sống hiện nay. Chính điều đó ông và một nhóm tri thức đã có hai bản kiến nghị gửi lên Trung ương năm 2004 và năm 2009.
Đối với giáo dục đại học, GS Hoàng Tụy đề nghị cần cải cách mạnh mẽ đại học theo hướng hiện đại hóa, quốc tế hóa.

“Phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, trong đó cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề. Bởi hiện nay trong khi số lượng và  năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của các doanh nghiệp thì hàng năm vẫn có hàng chục vạn HS, SV ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu “nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm qua. Cơ cấu đào tạo khiến cho trong nước thiếu công nhân lành nghề, thiếu kỹ thuật viên trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi” - GS Tụy bức xúc.

Trong bản kiến nghị năm 2009, GS Hoàng Tụy và một nhóm tri thức đã kiến nghị về cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục. Cụ thể, sau THCS phần lớn học sinh sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ một tỷ lệ nhỏ vào THPT. Mỗi loại trường này đều cung cấp cho học sinh một vốn văn hóa phổ quát dù để sau này tiếp tục học lên cao hơn, đồng thời trung học hướng nghiệp được học kỹ về một số ngành nghề được lựa chọn. Còn THPT thì không phân ban cứng nhắc mà tạo điều kiện cho học sinh được học theo năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lượng đầu vào đại học, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đại học. Như vậy, sau 12 năm học, HS trung học hướng nghiệp nếu ra đời thì đã có nghề để kiếm sống tốt, rồi sau đó học tiếp nữa khi có điều kiện, còn học sinh THPT sẽ có nhiều lựa chọn và cơ hội để có thể tiếp tục học ở đại học mà không bị cản trở bởi cánh cửa hẹp của đại học như hiện nay.

Đổi mới tư duy cách học và thi

Theo GS Hoàng Tụy, thay đổi căn bản nhất hiện nay là cách học và thi. Ông cho rằng: “Học thì cứ miệt mài, nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi vẫn mãi một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng có thể là cơ hội kinh doanh, làm tiền của một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. Đã có rất nhiều hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, nhưng cho đến nay chủ yếu vấn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Ngoài việc bức thiết phải đổi mới hoàn toàn tư duy về học và thi, việc quan trọng hơn về lâu dài là phải nghiên cứu giải phóng nhà trường khỏi tình trạng giáo điều, kinh kệ bằng một giải pháp tương tụ như thế tục hóa giáo dục ở phương Tây”.

Đối với giáo dục đại học, GS Hoàng Tụy đề nghị cần cải cách mạnh mẽ đại học theo hướng  hiện đại hóa, quốc tế hóa.

“Giáo dục đại học của chúng ta đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới và đó chính là nguồn gốc của mọi thứ khó khăn, vấp váp đã khiến chúng ta ngày càng chìm sâu vào lạc hậu. Từ nội dung, phương pháp giảng dạy, cho đến việc đào tạo tiến sĩ, tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay tuy đã có một ít tiến bộ chúng ta vẫn còn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng, cực kỳ lạc hậu, chẳng giống ai. Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của chúng ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới mà phải thay đổi tận gốc từ chiến lược phát triển cho đến từng việc quản lý cụ thể. Trong đó, cần những giải pháp mạnh trong 3 vấn đề lớn: Cải thiện chất lượng đầu vào; thay đổi phương thức đào tạo; tháo gỡ các rào cản nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, rất đáng quan tâm là việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm” - GS Tụy đề nghị.
Tuy buồn nhưng GS Hoàng Tụy vẫn luôn hy vọng những ý kiến tâm huyết về giáo dục của ông được lắng nghe.

Buồn và hy vọng

Điều GS Hoàng Tụy cho là then chốt nhất trong cải cách giáo dục đó là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Theo ông, không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo.

“Chúng ta vẫn chưa tôn sư trọng đạo, thầy giáo đồng lương không đảm bảo một mức sống tối thiểu bình thường, chưa nói là tử tế, khiến họ phải tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm, toàn ý mới làm tốt được nhiệm vụ” - GS Hoàng Tụy nói.

GS Tụy nhấn mạnh: “Cải cách giáo dục là việc lớn, không thể làm tùy tiện, vội vã nhưng nếu lấy cớ đó mà phải đợi cho nghiên cứu thật thấu triệt mọi khía cạnh triết lý giáo dục, mọi kinh nghiệm thành bại của thế giới, rồi mới chịu làm thì đó chính là sự bảo thủ trì trệ kéo dài vô thời hạn tình trạng khủng hoảng của giáo dục từ nhiều năm nay”.

“Cha đẻ của tối ưu toàn cục” nhiều năm qua lúc nào cũng buồn, ông buồn lắm vì mọi góp ý, kiến nghị của ông và nhiều bậc thức giả trong nước, ngoài nước, dường như chẳng mang lại kết quả gì đáng kể. Nhưng ông vẫn tin, tin đến thời điểm nào đó những ý kiến đúng đắn và tâm huyết về cải cách giáo dục sẽ phải được lắng nghe và thực hiện. Chỉ mong sao thời điểm đó không phải quá dài và còn kịp cho đất nước tiến lên đuổi kịp thiên hạ.

Hồng Hạnh

(dantri.com.vn)

Tiến sĩ Võ Đình Tuấn – một trong 100 thiên tài đương đại

Creator Synectics, một công ty tư vấn kinh doanh toàn cầu trụ sở tại Anh, đã công bố danh sách “100 thiên tài đương thời thế giới”. Trong danh sách có một nhà khoa học gốc Việt là tiến sĩ Võ Đình Tuấn, xếp hạng 43.

Hiện ông là viện trưởng Viện Vật lý lượng tử Fitzpatrick của Đại học Duke (Bắc Carolina, Mỹ).

Từ đồ chơi tự chế…

Tiến sĩ Võ Đình Tuấn sinh ở Việt Nam. Giống như nhiều nhà bác học nổi tiếng khác, khi còn nhỏ ông tự tạo ra những đồ chơi cho mình. Niềm say mê chế tạo không những là sở thích mà còn như một bản năng, luôn thúc đẩy ông học tập và vươn tới những chân trời khám phá.

Năm 17 tuổi, từ Sài Gòn ông đi Thụy Sĩ du học. Ông tốt nghiệp cử nhân vật lý tại Trường Bách khoa liên bang Lausanne (1971), và bốn năm sau ông được trao bằng tiến sĩ hóa lý sinh (biophysical chemistry) tại Viện Kỹ thuật liên bang Zurich, Thụy Sĩ. Sau khi nhận bằng tiến sĩ, ông sang định cư tại Hoa Kỳ.

Trang web của Cơ quan Thương hiệu và phát minh Hoa Kỳ (USPTO, trực thuộc Chính phủ Mỹ) cho biết bằng phát minh đầu tiên của Võ Đình Tuấn trao cho sáng chế “Băng dán cứu sinh” (1987) là một loại băng rất nhỏ  và dễ sản xuất hàng loạt, dùng để gắn vào áo của công nhân khi họ làm việc trong những môi trường có nguy cơ cao, nhằm ghi lại các thông số của loại chất độc hại mà họ bị mắc phải trong quá trình lao động. Chỉ cần 11 giây người ta đã biết mình bị ngộ độc ở mức độ nào và chữa chạy ngay mà không cần phải đưa vào bệnh viện, rồi phải tốn thì giờ lấy máu, nước tiểu để xét nghiệm.

Theo trang web của Hội Thanh niên sinh viên VN tại Nhật Bản (http://www.vysa.jp/), trong lĩnh vực y khoa, tiến sĩ Tuấn đã tìm ra sự biến đổi gen trong cơ thể người và nhờ đó phát minh ra những hệ thống chẩn đoán sử dụng việc khám phá các ADN gây bệnh tiểu đường và ung thư. Tất cả hệ thống của ông đều dựa trên phương pháp “Tia sáng đồng hành” (SL: synchronous luminesence) dễ ứng dụng, do các dữ kiện được ghi lại hiển thị và được đọc cùng lúc bằng tia laser và sợi quang. Nhờ vậy mà bệnh tật có thể được điều chỉnh kịp thời mà không cần phải uống thuốc… Phương pháp của ông cũng được các công ty dược và tổ chức môi trường chấp nhận.

Tới giảm nỗi đau con người

Creator Synetics – chuyên tư vấn hỗ trợ cho các công ty, tổ chức liên quan đến phát minh, sáng tạo và các tư tưởng đột phá – đã tính điểm các ứng viên theo năm tiêu chuẩn: tạo ra những thay đổi lớn, được nhiều người biết đến, quyền lực của tri thức, thành tựu và tầm quan trọng về văn hóa. Công ty đã gửi email đến 4.000 người Anh hiểu biết hè vừa qua và yêu cầu họ đề cử mười người họ cho là thiên tài hiện còn sống. Kết quả, Synetics nhận được các đề cử tới 1.100 nhân vật, nhưng chỉ 60% trong số này còn sống. Synetics đã lập ra một hội đồng gồm các chuyên gia trong lĩnh vực phát minh, sáng tạo để cho điểm (tới mười trên các tiêu chí đã nêu) để lọc ra “100 thiên tài đương đại”.

 

Các viện nghiên cứu lớn đã sử dụng kỹ thuật của ông như Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và hầu như tất cả bệnh viện của Mỹ đều áp dụng phương pháp và thiết bị chẩn đoán của ông. Đến nay ông có hơn 30 bằng sáng chế. Tiến sĩ Tuấn cho rằng những nghiên cứu của ông chỉ có mục đích đơn giản là góp phần làm giảm những nỗi đau của con người. “Cái khó nhất đối với bệnh nan y như ung thư hay AIDS chính là phát hiện ra nó”.

Năm 2003, USPTO đã tôn vinh bốn nhà khoa học Mỹ, gốc Á trong đó có nhà bác học Võ Đình Tuấn. Bản thông cáo chính thức USPTO cho biết: “Các nhà khoa học này đã có những đóng góp to lớn vào thành tựu của khoa học và y khoa, nhất là những phát minh của họ đã giúp bệnh nhân chống lại nỗi đau tuyệt vọng của con người”.

Vào ngày 9-5-2002, nhân kỷ niệm tháng truyền thống của các dân tộc thiểu số châu Á tại Mỹ, bà J. C. Hayward – người phát ngôn của USTPO – cho rằng những phát minh của tiến sĩ Võ Đình Tuấn cùng các nhà khoa học khác đã góp phần làm cho nước Mỹ trở thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới. Điều đáng nói là Võ Đình Tuấn đều có tên trong cả hai danh sách được vinh danh năm 2002.

Trong năm 2002, các trường tiểu học và trung học của Mỹ đều chiếu cuốn video về những nhà khoa học, trong đó có tiến sĩ Tuấn, cho các học sinh xem như một chương trình ngoại khóa. Bà Hayward nói: “Chủ yếu để thế hệ trẻ Hoa Kỳ nhớ đến những nhà bác học của các dân tộc và màu da khác nhau đã có những đóng góp to lớn không những cho xứ sở Hoa Kỳ mà còn cho toàn thế giới”.

Tiến sĩ Võ Đình Tuấn còn là viện sĩ Viện Hóa học Mỹ và là biên tập viên cũng như cố vấn của nhiều tạp chí quốc tế chuyên ngành. Ông đã đoạt năm giải thưởng nghiên cứu & phát triển (R&D) vào các năm 1981, 1987, 1992, 1994 và 1996; tác giả của hơn 300 công trình được in ấn trên các tạp chí khoa học.

Ông cũng nhận được rất nhiều giải thưởng quốc tế khác. Hiện nay, nhà khoa học tài năng này đang nghiên cứu cải tiến những công nghệ mới để sản xuất những thiết bị y khoa hiện đại, có kích thước nhỏ và giá thành thấp nhằm góp phần nâng cao tính hiệu quả và tiết kiệm trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Và những “thiên tài đương đại” khác

Đứng đầu danh sách mà Creator Synetics công bố ngày 29-10 là nhà hóa học Thụy Sĩ Albert Hoffman (đã 101 tuổi, nổi tiếng thế giới như người phát minh ra LCD) và thiên tài máy tính người Anh Tim Berners – Lee (một trong những người sáng tạo ra mạng Internet). Ba người còn lại trong nhóm năm người đầu tiên là nhà đầu tư George Soros (Mỹ), Matt Groening (nhà làm phim hoạt hình châm biếm, Mỹ) và chính khách, cựu tổng thống Nam Phi Nelson Mandela.

Ngoài ra, danh sách cũng có những đại diện của Nga (nhà toán học Grigory Perelman đứng thứ 10 hay nhà chế tạo súng tự động nổi tiếng nhất thế giới Mikhail Kalashnikov ở vị trí 83), Brazil, Trung Quốc, Iran, Nhật Bản (nhà sáng chế robot Hiroshi Ishiguro), Ireland, Ba Lan, Đức, Canada, Philippines, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ấn Độ, New Zealand, Áo và Na Uy.

Chỉ có 15 phụ nữ trong nhóm 100 thiên tài còn sống này, trong đó có Joan Rowling – tác giả cuốn Harry Potter (Anh) và nữ diễn viên Meryl Streep (Mỹ). Nhiều người trong danh sách là những nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa cộng đồng, ví dụ như ca sĩ Paul McCartney (Mỹ) và nhạc sĩ David Bowie (Anh), đạo diễn Quentin Tarantino (Mỹ), nhà văn Stephen King (Mỹ).

Theo danh sách này, Mỹ là nước có nhiều thiên tài đương đại nhất (43), tiếp đó là Anh (23), 13 nhân vật đến từ châu Âu và 11 từ châu Á, trong đó chỉ có một người châu Phi. Các báo Anh (Telegraph, Daily Mail) đưa tin này đã tự hào vương quốc Anh là nước có nhiều thiên tài đương đại tính theo bình quân đầu người nhất: cứ 2,5 triệu người Anh lại có một thiên tài đang còn sống. Mỹ xếp thứ hai với một thiên tài còn sống trên 6,9 triệu dân.

nguồn : Conduogthanhcong.com

(khoinghiep.info)

Phải thay đổi gấp cách nghĩ, cách làm giáo dục

Hội thảo khoa học “Tọa đàm khoa học về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì ngày 27-9 vừa qua đã đặt ra nhiều giải pháp, hướng đi hướng tới một cuộc chấn hưng giáo dục mạnh mẽ. Trước thực trạng nền giáo dục nước nhà được đánh giá còn nhiều bất cập, yếu kém, cần phải được đổi mới, nhiều đại biểu nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các giáo sư đầu ngành tâm huyết cho rằng, việc đổi mới là cấp thiết, nhưng không được làm kiểu chữa cháy, chắp vá mà phải có lộ trình tổng thể…
“Muốn chuyển biến căn bản và toàn diện nền giáo dục
nhất thiết phải làm một cuộc cải cách giáo dục”
Ảnh: HOÀNG LONG

Đổi mới lâu nay chưa bám sát thực tế

Xoay quanh mục tiêu đóng góp ý kiến về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết, 10 năm qua bên cạnh những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển và đổi mới đất nước, giáo dục nước ta vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Việc xây dựng chiến lược phát triển giáo dục trong thời gian tới cần phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển đất nước. Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 sẽ được hình thành mang tính thiết thực, hiệu quả cao với 7 giải pháp được đưa ra lựa chọn. Trong đó, 3 giải pháp có tính đột phá gồm đổi mới quản lý giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã có những đóng góp đầy tâm huyết: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục chính là cải cách giáo dục! Muốn chuyển biến căn bản và toàn diện nền giáo dục thì nhất thiết chúng ta phải làm một cuộc cải cách giáo dục. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, đổi mới hay cải cách không đơn thuần là khác biệt về câu chữ. Hiện nay, tồn tại một thực trạng là đổi mới chắp vá, thiếu một tầm nhìn tổng thể, một kế hoạch đồng bộ. Điều đó diễn ra khi chưa có một đề án tổng thể, chưa xác định rõ phương hướng của cả hệ thống giáo dục mà đã tính chuyện làm mới chương trình và SGK thì đổi mới ấy còn xa mới có tính căn bản và toàn diện”. “Muốn giáo dục đổi mới căn bản, toàn diện nhất thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm giáo dục”, bà Bình nhấn mạnh.

GS. TSKH Vũ Ngọc Hải, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT nói, điều then chốt thực hiện lộ trình này là “đổi mới căn bản quản lý giáo dục và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”. Đó là một trong những giải pháp quan trọng để củng cố, nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nền tảng vững chắc từ yếu tố người thầy-có vai trò không thể thiếu truyền thụ kiến thức và định hướng cho học sinh-nhằm tạo hiệu quả và sự thành công. Theo TS.Trần Quốc Toản-nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nền giáo dục nước ta đang đứng trước nhiều đòi hỏi, thách thức và cơ hội lớn. Muốn thực hiện đúng ý nghĩa việc đổi mới, nền giáo dục nước nhà phải trả lời được ba câu hỏi lớn: Vì sao lại phải đổi mới căn bản, toàn diện bền giáo dục? Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục là đổi mới thế nào? Làm thế nào để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục? Còn theo GS. Lâm Quang Thiệp, sự đổi mới giáo dục chúng ta đã làm lâu nay diễn ra ngập ngừng, không nhất quán, thiếu đồng bộ. Nghĩa là không chỉ ra được, không xác định được quan điểm cơ bản làm nền tảng, điều đó kéo theo giải pháp chỉ mang tính tạm thời, không triệt để.

Cần nâng cao đời sống người giảng dạy

Từng giữ chức Bộ trưởng Bộ GD&ĐT từ nhiều năm trước, bà Nguyễn Thị Bình rất tâm huyết với chủ trương đổi mới giáo dục, mà thực chất là cuộc cải cách toàn giáo dục trên quy mô lớn. Một trong những vấn đề bà Bình tâm huyết là “Định hướng phát triển giáo dục phổ thông 10-15 năm tới” (đây cũng là tên một cuốn sách do bà làm chủ biên, xuất bản năm 2010). Trong đó, điều nan giải nhất hiện nay là thu nhập của giáo viên quá thấp, đời sống nhà giáo chưa được cải thiện. Vì vậy, để giải quyết tận gốc vấn đề giáo viên, không có gì khác là phải sớm bắt đầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và phải thay đổi chính sách đãi ngộ để nhà giáo sống được bằng lương và các khoản phụ cấp nghề nghiệp chứ không thể để các thầy, cô giáo sống bằng dạy thêm hoặc bằng một nghề nào khác, bà Bình nói thêm.

GS Hoàng Tụy, một trong những “cây đại thụ” đầu ngành giáo dục, được mọi người biết đến với Bản điều trần chấn hưng nền giáo dục (gửi Chính phủ năm 2004), đã chỉ ra, chấn hưng, cái cách nền giáo dục hiện nay phải đi từ triết lý giáo dục căn bản. Bàn về vấn đề tiền lương, cải cách, ông nói: “Việc cải cách tiền lương cần đi liền với chống tham nhũng. Lương phải thực chất thì mới chống tham nhũng, cải cách được giáo dục”. Theo ông, về lý thuyết, giảng viên đại học chỉ có mức lương 5-6 triệu đồng, những trên thực tế tổng thu của họ lại lên tới 50-60 triệu đồng. Có nhiều nguồn để làm nên tổng thu lớn như vậy. Đơn cử, ở nước ngoài tiền tài trợ cho các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ được dùng để mua thêm phương tiện để nghiên cứu, chứ tuyệt đối không được dùng tiền tài trợ đó để tiêu cho bản thân. Nhưng tại một số trường ĐH hiện nay, việc đăng ký được đề tài khoa học (Nhà nước tài trợ kinh phí) là một số cá nhân đã có tiền bỏ túi. Đôi khi, việc làm đề tài lại liên quan đến việc lên chức, nâng lương, tăng thu nhập đáng kể. “Điều đó đã nảy sinh nạn chạy đề tài nghiên cứu khoa học. Nếu tình trạng cơ cấu thu nhập bất hợp lý còn tồn tại thì sẽ là kẽ hở cho tham nhũng”, GS Hoàng Tuỵ phân tích.

Hoàng Anh Thắng
Đánh giá về thực trạng đời sống giáo viên ngành sư phạm, PGS. TS. Vũ Trọng Rỹ (Viện Khoa học Giáo dục) cho biết, về thu nhập thì giáo viên trẻ mới ra trường khoảng 2 triệu đồng/ tháng, giáo viên có thâm niên trên dưới 10 năm, khoảng 3 triệu đồng/tháng. Trong khi đó quỹ thời gian lao động chiếm rất nhiều với hơn chục đầu việc ngoài giờ lên lớp. Quy định về số giờ lao động của công chức, viên chức là 40 giờ/tuần, thì ở cấp tiểu học là 62,95 giờ/tuần; THCS là 62,82 giờ/tuần, THPT là 72, 48 giờ/tuần.

 

(daidoanket.vn)

Lạm phát sinh viên khá, giỏi

Nhiều trường ĐH, CĐ công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi, xuất sắc trên 90%, thậm chí có trường lên đến 98,6%. Nhiều người đặt câu hỏi liệu tỉ lệ “gần tuyệt đối” ấy có phản ánh đúng thực tế học tập của sinh viên?
Sinh viên Trường ĐH Tôn Đức Thắng trong lễ tốt nghiệp tháng 4-2011. Đây là trường có tỉ lệ tốt nghiệp khá, giỏi thấp, chỉ với 0,8% giỏi và 19,7% khá.
Giữa tháng 6-2011, Trường ĐH Duy Tân tổ chức lễ trao bằng tốt nghiệp cho 1.424 tân kiến trúc sư, kỹ sư, cử nhân của trường. Tại buổi lễ, TS Võ Thanh Hải – phó hiệu trưởng nhà trường – cho biết: “Trong tổng số sinh viên tốt nghiệp có 103 sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, 536 sinh viên đạt loại giỏi, 707 sinh viên đạt loại khá, 21 sinh viên loại trung bình khá và 57 sinh viên loại trung bình. Như vậy, số sinh viên được nhận bằng loại khá, giỏi, xuất sắc trong năm 2011 của Trường ĐH Duy Tân chiếm đến 94,5% (1.346 sinh viên).
98,6% khá, giỏi, xuất sắc
Tương tự, tại lễ tốt nghiệp của Trường ĐH Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội) được tổ chức cuối tháng 6 vừa rồi, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc – hiệu trưởng nhà trường – cho biết trên 97% sinh viên của trường tốt nghiệp loại khá, giỏi trong tổng số 271 sinh viên nhận bằng tốt nghiệp.
Mỗi trường một kiểu

Giảng viên đang giảng dạy tại một số trường ĐH, CĐ thừa nhận số lượng sinh viên khá, giỏi thực tại nhiều trường “không nhiều đến mức ấy”. Trong khi đó, một giáo sư nguyên là quan chức của Bộ GD-ĐT lại cho biết thước đo tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp các loại được mỗi trường thực hiện một kiểu và không theo quy chuẩn nào. “Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi có lên xuống cũng… không có ý nghĩa gì” – vị này nhận định.

Trong khi đó, dẫn đầu về tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi, xuất sắc trong năm nay phải kể đến Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) khi tỉ lệ này lên đến 98,6%. Cụ thể, trong 986 sinh viên có 9 sinh viên đạt loại xuất sắc, 236 sinh viên đạt loại giỏi (23,11%), 771 sinh viên tốt nghiệp loại khá (chiếm 75,5%) và số sinh viên tốt nghiệp loại trung bình chỉ ở mức 0,7% (8 sinh viên).
Ngoài ra, một số trường ĐH, CĐ khác cũng có tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi ở mức cao như ĐH Đà Lạt (78,3%), ĐH An Giang (70,7%), ĐH Hải Phòng (70%), CĐ Công nghệ Đông Á (75%), CĐ Phương Đông Đà Nẵng (74,9%)…
Giảng viên một số trường ĐH, CĐ nhận định không thể phủ nhận sự cố gắng, nỗ lực của sinh viên và nhà trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, thạc sĩ N.C.H., giảng viên một trường ĐH công lập, thỉnh giảng tại một số trường ĐH ngoài công lập khác, đánh giá: “Qua kinh nghiệm giảng dạy của tôi, tỉ lệ sinh viên giỏi thật ở các trường ĐH công lập và ngoài công lập là rất ít, số sinh viên khá cũng chỉ ở mức độ khiêm tốn. Trong khi đó, sức học thực của sinh viên đạt loại trung bình khá và trung bình luôn chiếm đa số”.
Có du di?
Nhìn từ góc độ khác, một tiến sĩ đang tham gia giảng dạy tại một số trường ĐH công lập và ngoài công lập cho rằng có sự “du di” trong việc cho điểm, đánh giá sinh viên: “Mình là giảng viên, trước khi hợp đồng giảng dạy, nhân viên nhà trường luôn dặn dò phải thế này, thế kia về điểm số, phải hạn chế đến mức thấp nhất việc đánh rớt sinh viên. Chỉ cho điểm kém khi sinh viên bỏ học quá nhiều, chứ có đi học, có làm bài thi thì cho điểm trên trung bình. Vì thương hiệu, nhiều trường vẫn áp đặt giảng viên trong việc cho điểm sinh viên”. Cũng theo giảng viên này, trong 100 bài thi của sinh viên ở một số trường, nếu “chấm thẳng tay” có hơn nửa sinh viên không đạt, nhưng nhiều giảng viên chỉ đánh rớt khoảng 10% “trong giới hạn cho phép” của trường.
Bên cạnh đó, nhiều giảng viên cũng thừa nhận đang hình thành tâm lý “ngại cho điểm kém” của một bộ phận giảng viên. “Nói chung, em nào có làm bài thi là đạt điểm trên trung bình. Mình chấm điểm kém nhiều quá, trường sẽ hỏi anh dạy thế nào mà sinh viên điểm kém. Nếu đánh rớt sinh viên nhiều quá sẽ bị trường cắt hợp đồng, nên nhiều giảng viên đành phải làm vậy” – một giảng viên phân trần.
Trong khi đó, “Khi nhận đơn xin việc, tôi không quan tâm lắm đến việc bạn đó có bằng tốt nghiệp loại gì – bà Đinh Thị Hồng Vương, giám đốc điều hành Công ty truyền thông Rossor, cho biết – Tôi chỉ quan tâm đến việc các bạn có thích nghi nhanh với môi trường làm việc, có chăm chỉ, cần cù, chịu khó học hỏi hay không mà thôi”.
Tương tự, ông Trần Minh Dũng – trưởng ban thuyền viên Tổng công ty Vận tải dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – cho biết qua kinh nghiệm làm việc ở nhiều công ty, ông nhận thấy các doanh nghiệp chỉ chú trọng đến tác phong, thái độ trong công việc mà không quan trọng bằng tốt nghiệp loại ưu. Bởi, theo ông Dũng, bằng tốt nghiệp loại khá, giỏi, xuất sắc tại nhiều trường hiện nay “không thực chất lắm và đôi khi được trường tạo điều kiện”.
Là người công tác lâu năm trong lĩnh vực tuyển dụng, bà Nguyễn Thị Minh Tâm – giám đốc đào tạo Công ty Unity, nhận định: “Sinh viên ra trường, có bạn xếp loại trung bình, có bạn khá, giỏi nhưng các bạn thường na ná như nhau”. Bà Tâm cũng kể câu chuyện bà muốn “té xỉu” khi nhận được bản kế hoạch marketing của một sinh viên tốt nghiệp loại khá chính quy từ một trường ĐH.
Trò đánh giá thầy: “con dao hai lưỡi”!

Theo một số giảng viên, quy chế “sinh viên đánh giá giảng viên” của nhiều trường đang khiến giảng viên “rụt rè” khi chấm điểm cho sinh viên. “Sinh viên không cần biết thầy dạy hay, dở, chỉ dễ với các bạn là được. Sinh viên đánh giá giảng viên là điều tốt nhưng đôi khi là con dao hai lưỡi trong việc giảng dạy, cho điểm của giảng viên. Vì nhiều lý do, nhiều giảng viên vẫn chấm điểm “đẹp” cho sinh viên để được đánh giá tốt” – một giảng viên đưa ra ý kiến.

Theo Hà Bình
Tuổi Trẻ

(dantri.com.vn)

Next