Archive for October 1st, 2011

Nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng


imagehandlerlarge.ashx.jpeg

Tác giả: Giáo sư Pierre Darriulat

http://www.academie-sciences.fr/academie/membre/Darriulat_Pierre.htm

*****

Một chủ đề hay được nhắc đến khi luận bàn về chính sách phát triển khoa học là sự phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Bài viết này nhằm góp phần nhìn nhận sự phân biệt đó trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay.
Trước hết, tôi xin nêu lại những nhận định chung thường được đưa ra tranh luận và được sự tán đồng rộng rãi của phần đông các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách.

Bất kỳ ai biết và yêu khoa học đều hiểu rằng khoa học được tạo nên bởi nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản; lý thuyết; quan sát và thí nghiệm; chúng có quan hệ tương hỗ và cần có nhau để phát triển.

Điều đầu tiên được sự đồng tình là không nên đối lập nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản mà thậm chí phân biệt thứ bậc giữa chúng cũng là điều không nên. Bất kỳ ai biết và yêu khoa học đều hiểu rằng khoa học được tạo nên bởi nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản; lý thuyết; quan sát và thí nghiệm; chúng có quan hệ tương hỗ và cần có nhau để phát triển. Bất kỳ ai biết và yêu khoa học đều hiểu rằng sự đa dạng của khoa học là một trong những giá trị chính của nó. Phân biệt thứ bậc giữa các ngành khác nhau, như những nhà nhận thức luận đang làm, không những vô ích mà còn rất nguy hiểm. Phân biệt giữa khoa học tốt và tồi không phải ở chủ đề mà ở chất lượng nghiên cứu, năng lực, sự nghiêm túc, kỹ năng và sự sáng tạo của nhà khoa học hoặc một nhóm các nhà khoa học. Dĩ nhiên, một nhà khoa học giỏi sẽ chọn đề tài nghiên cứu dựa vào tầm quan trọng của đề tài và cơ hội thành công của mình. Điều này đúng cho một nhà lý thuyết giỏi cũng như một nhà thực nghiệm giỏi; đúng cho nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu ứng dụng. Khi Penzias và Wilson phát hiện bức xạ phông nền vũ trụ, họ đang chỉnh ăng-ten tại Bell Telephone để liên lạc với vệ tinh; khi Anderson phát hiện hạt positron, ông cũng đang điều chỉnh buồng hơi  cho Millikan. Có rất nhiều ví dụ như vậy trong tất cả các lĩnh vực khác nhau. Thực ra, sự khác biệt giữa ứng dụng và cơ bản, giữa lý thuyết và thực nghiệm chỉ mới xuất hiện gần đây và đó là hệ quả đáng tiếc khi một số ngành khoa học trở nên quá phức tạp; chúng ta không nên bị huyễn hoặc  bởi sự khác biệt này.

Thực ra, sự khác biệt giữa ứng dụng và cơ bản, giữa lý thuyết và thực nghiệm chỉ mới xuất hiện gần đây và đó là hệ quả đáng tiếc khi một số ngành khoa học trở nên quá phức tạp; chúng ta không nên bị huyễn hoặc  bởi sự khác biệt này.

Ở đây, tôi không cần nhắc lại những luận điểm mà các nhà khoa học vẫn thường lặp đi lặp lại với một số nhà quản lý vốn chỉ ủng hộ nghiên cứu cơ bản một cách miễn cưỡng. Một trong những điển hình nhất trong số đó là câu trả lời của Faraday tới Bộ trưởng Tài chính khi ông này hỏi về giá trị thực tế của điện: “Thưa ngài, đến một lúc nào đó ngài sẽ có thể đánh thuế nó.” Hoặc câu chuyện vui rằng điện đã có thể không bao giờ được phát minh nếu người ta chỉ lo việc cải tiến những ngọn nến. Tuy nhiên, điều quan trọng là, những luận điểm này rất rõ ràng và có giá trị phổ quát, nhưng chúng lại có thể không áp dụng được vào một cộng đồng nhất định, chẳng hạn như các nước đang phát triển. Một Bộ nhà quản lý khoa học Việt Nam nào đó có thể nói rằng: “Tôi hoàn toàn nhận thức được tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản nhưng nó đang được tiến hành ở các nước phát triển; Việt Nam đang phát triển rất nhanh nhưng nguồn nhân lực của đất nước thì có hạn; điều quan trọng đối với chúng ta bây giờ là phát triển nghiên cứu ứng dụng để có thể đào tạo được nhiều kỹ sư và thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp; ở bất kỳ khía cạnh nào, chúng ta đều không thể cạnh tranh được với các nước phát triển về nghiên cứu cơ bản; hãy tạm thời quên nó đi và tập trung vào ứng dụng”.

Nếu thế, câu hỏi sẽ không còn là “Tại sao chúng ta phải làm nghiên cứu cơ bản?” mà sẽ là “Tại sao Việt Nam phải làm nghiên cứu cơ bản và nếu phải làm thì tỉ lệ nguồn tài lực phải đổ vào đấy  là bao nhiêu và  phải chọn hướng nghiên cứu nào?”

Tôi không có câu trả lời hoàn hảo cho những câu hỏi này, nhưng chúng ta hãy thử góp nhặt một vài ý trả lời cho những câu hỏi đó.

Một luận cứ rõ ràng và có sức thuyết phục, có thể là duy nhất: Hai nhà khoa học Penzias và Wilson được đề cập ở trên, một người được đào tạo tại Đại học Columbia và người còn lại tại Caltech, hai trong số các trường đại học uy tín nhất trên thế giới. Ở đó họ được hưởng thụ môi trường khoa học chất lượng rất cao như là  trường học của kỉ luật, cần cù và tôi dám nói là trường học của đạo đức. Ở đó, họ được làm việc với những nhà khoa học hàng đầu, những người truyền niềm đam mê khoa học cho họ. Ở đó, lần đầu tiên trong đời, họ bắt đầu hiểu khoa học thực sự là gì.

Các trường đại học và các phòng thí nghiệm Việt Nam vẫn còn đang phải hứng chịu những hậu quả sau nhiều năm chiến tranh. Chúng ta bị mất gần ba thế hệ giảng viên và các nhà khoa học. Chúng ta phải mất hàng thập kỷ để gây dựng lại những gì đã bị tàn phá bởi chiến tranh, đặc biệt trong trường hợp các trường đại học và phòng thí nghiệm nơi cần bắt đầu bằng việc đào tạo một thế hệ giảng viên mới trước khi đào tạo những thế hệ sinh viên mới. Tuy nhiên, các nước đang phát triển phải dành ưu tiên cao nhất để tạo dựng nên một môi trường tốt tại các trường đại học và các phòng thí nghiệm làm nền tảng cho các tài năng đua nở và lôi kéo họ ở lại làm việc trong nước.

Không có chiếc đũa thần nào có thể biến các trường đại học Việt Nam sau một đêm thành các đại học đẳng cấp quốc tế như người ta biến những quả bí ngô thành những chiếc xe tuấn mã. Không có công thức thần kỳ nào cả. Tuy nhiên, có thể xác định một vài yếu tố cần thiết cho công thức đó ví dụ như bắt đầu bằng việc hình thành một vài trung tâm chất lượng cao, giao phó trọng trách cho những tiến sỹ trẻ xuất sắc, lôi kéo những nhà khoa học thành công, phù hợp với yêu cầu chuyên môn, ở nước ngoài về nước làm việc, thành lập những  hội đồng khoa học trong đó có các thành viên nước ngoài có uy tín quốc tế tư vấn, đảm bảo thực hiện chính sách tuyển dụng nghiêm ngặt, chặt chẽ, tăng lương đủ để đảm bảo cho đội ngũ công chức không bị phân tâm bởi công việc ngoài giờ, vân vân …. Trong danh sách này, tôi muốn thêm vào ngoài những điều trên: phải tạo không gian cho nghiên cứu cơ bản.

Đó là một nhiệm vụ khó khăn và cấp thiết; để làm được điều đó đòi hỏi nhiều hơn điều đơn giản là ra nghị quyết. Không có chiếc đũa thần nào có thể biến các trường đại học Việt Nam sau một đêm thành các đại học đẳng cấp quốc tế như người ta biến những quả bí ngô thành những chiếc xe tuấn mã. Không có công thức thần kỳ nào cả. Tuy nhiên, có thể xác định một vài yếu tố cần thiết cho công thức đó ví dụ như bắt đầu bằng việc hình thành một vài trung tâm chất lượng cao, giao phó trọng trách cho những tiến sỹ trẻ xuất sắc, lôi kéo những nhà khoa học thành công, phù hợp với yêu cầu chuyên môn, ở nước ngoài về nước làm việc, thành lập những  hội đồng khoa học trong đó có các thành viên nước ngoài có uy tín quốc tế tư vấn, đảm bảo thực hiện chính sách tuyển dụng nghiêm ngặt, chặt chẽ, tăng lương đủ để đảm bảo cho đội ngũ công chức không bị phân tâm bởi công việc ngoài giờ, vân vân …. Trong danh sách này, tôi muốn thêm vào ngoài những điều trên: phải tạo không gian cho nghiên cứu cơ bản.


Tại sao lại phải làm vậy?

Đầu tiên, hãy nghĩ về một sinh viên tài năng có quyết tâm cống hiến cuộc đời cho khoa học. Anh ta sẽ luôn bị hấp dẫn bởi những vấn đề  lớn thuộc tuyến đầu của tri thức. Những vấn đề đó có thể gần với các ứng dụng có tiềm năng , như trong các lĩnh vực công nghệ nano, khoa học môi trường và hầu hết các ngành khoa học về sự sống, nhưng cũng có thể dường như khá xa với những ứng dụng trước mắt như trường hợp của vật lý thiên văn hoặc vật lý các hạt cơ bản . Đóng cửa đối với sự quan tâm tìm hiểu biết của anh ta với lý do rằng mối quan tâm đó thuộc lĩnh vực không có ứng dụng hiển nhiên chẳng khác nào buộc sinh viên đó phải rời bỏ đất nước, đấy là một tổn thất lớn cho Việt Nam. Đấy là chưa nói rằng hàng loạt các ứng dụng thực tế đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản và rất nhiều, có thể hầu hết, nghiên cứu ứng dụng đều xuất phát từ những phát minh mà mục đích ban đầu không phải là tìm các ứng dụng khả dĩ trước mắt.

Hàng loạt các ứng dụng thực tế đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản và rất nhiều, có thể hầu hết, nghiên cứu ứng dụng đều xuất phát từ những phát minh mà mục đích ban đầu không phải là tìm các ứng dụng khả dĩ trước mắt.

Thứ hai, một trường đại học tốt nên có một vài nhà khoa học trình độ quốc tế – ít nhất một người trong một khoa – có khả năng dạy sinh viên những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực của họ cũng như đào tạo những sinh viên này lên trình độ cao hơn. Hầu hết các ngành liên quan đến nền tảng của khoa học hiện đại như vật lý lượng tử, thuyết tương đối, sinh học phân tử, vân vân… không được giảng dạy vì các ứng dụng của nó mà vì những giá trị tự thân của chúng. Các kỹ thuật viên có thể bỏ qua những môn này. Nhưng các nhà khoa học và kỹ sư, bất kể làm gì trong một lĩnh vực có hoặc không có ứng dụng hiển nhiên, phải làm chủ được chúng nếu muốn thành công. Một lần nữa, chúng ta không nên nghĩ đến khía cạnh cơ bản hay ứng dụng mà đơn giản là phải nghĩ đến chất lượng. Đóng cửa với nghiên cứu cơ bản sẽ làm các trường đại học Việt Nam mất nhiều giáo sư và nhà khoa học xuất sắc.

Cách tiếp cận này nghe có vẻ như chỉ dành riêng cho một nhóm người. Tuy nhiên không phải thế. Đây là một tiếp cận thực tế: trong khi chúng ta có khả năng thành lập một vài trung tâm chất lượng cao, thì chúng ta không thể nào nâng toàn bộ hệ thống đại học của Việt Nam lên tầm cỡ quốc tế trong một lúc. Tuy nhiên các đại học của Việt Nam có thể hưởng lợi từ sự tồn tại của những trung tâm chất lượng cao này, thành công của những trung tâm này sẽ lan tỏa đến các trường và đóng vai trò như những hạt nhân cho những bước phát triển sâu rộng hơn.

Tất cả những điều tôi đang nói là một chính sách khoa học hợp lý phải tạo không gian cho nghiên cứu cơ bản hoặc, có thể nói là, cho nghiên cứu không có ứng dụng hiển nhiên trước mắt…Chính sách đó phải lựa chọn được các đề tài và các nhà khoa học dựa trên nền tảng chất lượng. Chính sách đó cũng phải cung cấp cho họ đủ nguồn tài chính, nhớ rằng một nhà khoa học làm việc trong một lĩnh vực không có ứng dụng rõ ràng gần như không thể kiếm được nguồn kinh phí hỗ trợ từ công nghiệp (ngược lại với các nhà khoa học làm việc trong các lĩnh vực có ứng dụng rõ ràng). Phải dành chỗ cho những nghiên cứu không có ứng dụng rõ ràng, bởi vì đó là điều kiện không thể thiếu để nâng cao đẳng cấp các đại học lên tầm quốc tế, để đào tạo các nhà khoa học và các kỹ sư hơn là các kỹ thuật viên. Để thành công, nghiên cứu ứng dụng cần phải đồng hành với nghiên cứu cơ bản.

Đầu tư cho khoa học càng nhiều càng tốt, nhưng để xác định đúng mức độ đầu tư đòi hỏi một sự phân tích chi tiết trước về tình hình, hiện trạng và một sự đánh giá khách quan những người có kĩ năng và tài năng với mục đích tìm ra được những người mà trình độ có thể nâng lên tầm quốc tế khi họ được cung cấp đủ các điều kiện cần thiết..

Trong một đất nước việc dành tỉ lệ nào đó cho khoa học mà không quan tâm đến những ứng dụng khả dĩ là một quyết định quan trọng của các nhà lãnh đạo. Mỗi quốc gia đều có một số lĩnh vực cần ưu tiên phát triển và trong các lĩnh vực đó tuyển chọn những đề tài nhất định. Trong hoàn cảnh Việt Nam, những ngành khoa học có những ứng dụng trong nông nghiệp, môi trường, y tế là những trường hợp hiển nhiên. Song đó cũng là trường hợp của vật lý hạt nhân để chuẩn bị vận hành, bảo trì và phát triển khoảng năm lò phản ứng hạt nhân mà Việt Nam dự định xây dựng đến trước năm 2025. Những ngành này cần có chính sách ưu tiên, cũng như phải được đầu tư nguồn nhân lực và vật lực, đó là những yếu tố quan trọng trong chính sách khoa học của đất nước. Những yếu tố này xác định mức độ nỗ lực của Nhà nước trong đầu tư nghiên cứu khoa học. Sự đầu tư cho nghiên cứu không để ý đến ứng dụng, lấy chất lượng làm tiêu chuẩn lựa chọn duy nhất, được đánh giá theo mức độ đó, điều này dẫn đến một quyết định về tỉ lệ đầu tư nghiên cứu của đất nước. Dĩ nhiên, đầu tư cho khoa học càng nhiều càng tốt, nhưng để xác định đúng mức độ đầu tư đòi hỏi một sự phân tích chi tiết trước về tình hình, hiện trạng và một sự đánh giá khách quan những người có kĩ năng và tài năng với mục đích tìm ra được những người mà trình độ có thể nâng lên tầm quốc tế khi họ được cung cấp đủ các điều kiện cần thiết..

Việt Nam hiện nay đang tiến hành từng bước quá trình hướng tới việc nâng cấp các trường đại học và các phòng thí nghiệm. Đây là một cơ hội tốt không thể bỏ qua để làm rõ chính sách  khoa học liên quan đến những vấn đề nêu ra.

Pierre Darriulat (Nguồn: www.tiasang.com.vn)

(nistpass.gov.vn)

Khoa học cơ bản không khác gì móng nhà

Khoa học cơ bản là tiền đề cho các ngành khoa học khác (trong đó có khoa học ứng dụng). Giống như anh xây cái móng ngôi nhà vậy thôi, nó chẳng làm ngôi nhà đẹp lên, nhưng là cơ sở vững chắc cho chủ nhà thoải mái xây cao, xây nặng trên đó.
Khoa học cơ bản có nâng cao mức sống?

Gửi Anh Tuấn,

Tôi không biết anh du học ở đâu, chứ suy nghĩ của anh như không vượt nổi cái ao làng. Tôi cũng không biết anh học ngành gì, chứ anh đã học kỹ thuật hay kinh tế thì chắc anh chẳng bao giờ nói câu đó đâu.

Ngay trong chính từ ngữ của ngành anh Ngô Bảo Châu theo đuổi “Khoa học cơ bản” đã mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Nó là ngành khoa học là tiền đề cho các ngành khoa học khác nghiên cứu (trong đó có cả “khoa học ứng dụng”). Giống như anh xây cái móng ngôi nhà vậy thôi, nó chẳng làm ngôi nhà đẹp lên, nhưng nó là cơ sở vững chắc cho chủ nhà thoải mái xây cao, xây nặng trên đó.

Tôi đồng ý với anh Phạm Quốc Vương, có những lúc những nghiên cứu mà chúng ta chẳng thấy ứng dụng của nó, nhưng người ta vẫn trân trọng. Như Copecnic, Galile, hoặc có người chịu chết thiêu như Bruno chỉ để bảo vệ thuyết Nhật tâm, nhưng ta có thấy ứng dụng của nó cho đời sống chúng ta không, trái đất có từ vị trí đứng yên chuyển qua chuyển động quanh mặt trời không khi học thuyết thay đổi không. Không, trái đất vẫn quay, loài người vẫn làm ăn sinh sống như bao đời nay. Nhưng nếu xét kỹ, anh vẫn thấy vì những ước mơ vươn tới những cái xa xôi đó mà người ta đã làm ra nào là máy bay, tên lửa, và hàng triệu những món đồ sinh ra phục vụ cho mục đích đó, làm cho cuộc sống chúng ta phát triển biết bao. Nếu không có những ước mơ đó thì chúng ta cứ hàng ngày dùng ngựa cho khỏe, cần gì suy nghĩ.

Tôi không biết anh Phan Bảo Lâm có biết nhiều về ngành khoa học vật liệu không, hay anh chỉ search và biết rằng có 20 lớp vật liệu chồng lên nhau. Anh biết rằng thuyết nguyên tử hiện đại (thứ làm nền tảng tạo ra những bán dẫn dùng cho phần cứng máy tính) dựa trên những dòng chữ của toán học về xác suất để mô tả, chưa kể những bố trí cấu trúc đó như thế nào thì cũng nhờ các thuật toán của Toán học, chứ kính hiển vi chưa thể “nhìn” thấy đâu anh.

Còn nếu anh có biết về Kinh tế, đặc biệt về Tài chính, thì chắc anh cũng biết các con số thống kê, các phương trình sắc xuất đặc biệt được sử dụng nhiều. Nó chỉ là một hình thức đơn giản của KHCB đó thôi.

Ngày nay, KHCB không còn chỉ là những con số cộng trừ nhân chia, tích phân,… mà các anh được học ở phổ thông (các anh làm những việc thông thường chắc dùng bằng này là đủ). Bây giờ là đi vào giải quyết các vấn đề sâu hơn, khó khăn hơn, các anh sẽ khó thấy nó hơn. Các công trình nghiên cứu đó có thể nằm đâu đó trong bài tính của một dự án phóng tên lửa, hay một nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, rất nhỏ nhưng nó làm giảm rất nhiều công sức, tạo sự tự tin.

Và tôi nói thật, anh muốn giúp đỡ người Việt Nam, còn người nước ngoài thì anh coi là đồ bỏ đi! Do đó, giúp đỡ nhân loại phát triển là giúp đỡ cho chính mình phát triển, mà anh chỉ là một chi tiết nhỏ trong guồng máy đó thôi (chẳng thể là một anh hùng to tát gì cho nhiều). Những người như anh Châu cũng là một chi tiết, nhưng chi tiết đó đặc biệt là nó giúp cho guồng máy đó tiến lên phía trước thay vì chạy ổn định ở một chỗ.

N.T.D.

(vnexpress.net)

Đầu tư cho khoa học cơ bản: Có cũng như không (kỳ cuối)

 

Kỳ 1: Lãng phí

Kỳ 2: Không hiệu quả

Kỳ cuối: Thiếu đồng bộ

 

SGTT.VN – Sự thiếu đồng bộ trong đầu tư cho nghiên cứu khoa học có thể thấy ở khắp nơi, khắp các lĩnh vực và hầu như khắp các công đoạn trong quy trình phức tạp để có được một công trình khoa học chất lượng.

 

Để có một công trình khoa học chất lượng, phải có sự đồng bộ trong mọi công đoạn từ đầu tư đến phê duyệt. Ảnh: Trung Dũng

 

Người rẻ hơn máy?

Trong các hạng mục đầu tư, đầu tư cho cơ sở vật chất và máy móc thường tốn kém nhất nhưng lại được phê duyệt dễ dàng nhất. Các chi phí khác như mua sách báo, tài liệu, chi phí đào tạo, chi phí mời chuyên gia, chi phí tham dự hội nghị quốc tế thường khó khăn hơn nhiều. Cơ sở vật chất và máy móc có trước nhưng người làm việc và sử dụng được những máy móc đó một cách hiệu quả lại không có. Và hệ quả tất yếu là nhiều phòng làm việc không ai ngồi, nhiều máy móc không ai dùng đến. Mà cơ sở vật chất và nhất là máy móc thì xuống cấp hàng ngày, hàng giờ và có thể mất hết giá trị chỉ sau ba – năm năm.

Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp, thời đại của nền kinh thế tri thức. Thế nhưng, thời gian của chuyên gia lại được đánh giá quá thấp. Từ đây mới dẫn đến những câu chuyện rất đáng suy ngẫm: nhiều giáo sư nước ngoài bỏ hàng ngàn đô để mua vé sang nói chuyện và giảng dạy tại Việt Nam, nhưng khung lương mà chúng ta có thể trả cho họ vẫn chỉ vài triệu đồng cho một tuần giảng dạy. Chúng ta có thể lãng phí hàng chục triệu đồng, thậm chí hàng trăm triệu đồng cho việc đi lại, ăn uống, tổ chức nhưng tiền thù lao cho báo cáo viên, cho giám khảo, cho các chuyên gia bao giờ cũng khiêm tốn đến chạnh lòng. Năm 2007, hơn 70 chuyên gia hàng đầu của Việt Nam từ nhiều quốc gia đã về nước để làm giám khảo cho kỳ thi toán quốc tế lần thứ 48, lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam (IMO 2007). Và thù lao cho một tuần làm việc vất vả và căng thẳng của họ chỉ là 3 triệu đồng! Theo GS Ngô Việt Trung, viện trưởng viện Toán học và là thành viên cốt cán của ban tổ chức IMO 2007 thì chi phí cho công tác chuyên môn (một trong những công tác quan trọng nhất đối với một kỳ thi) chiếm chưa đến 5% tổng chi phí.

Sự thiếu đồng bộ còn thể hiện ở quá trình theo dõi một đề tài, một dự án. Thường khâu khó khăn nhất chỉ là khâu phê duyệt đề tài. Có thể nói tất cả “tài năng” và “tâm huyết” của chủ nhiệm đề tài và các cộng sự chủ yếu được dồn vào nhiệm vụ thuyết minh đề tài thế nào để được phê duyệt, cấp kinh phí. Còn sau đó đề tài được thực hiện thế nào, tiến độ và chất lượng ra sao thì nói chung ít ai quan tâm, kiểm soát. Và, như đã đề cập, dự án nào, đề tài nào rồi cũng sẽ được nghiệm thu, được “hạ cánh an toàn”. Không đồng bộ ở khâu kiểm soát đề tài, dự án, chúng ta đã tiếp tục lãng phí cho các đầu tư không hiệu quả, tiếp tay cho những hình thức “hợp thức hoá” đầu tư của nhà nước, của nhân dân.

Không đồng bộ ở khâu kiểm soát đề tài, dự án, chúng ta đã tiếp tục lãng phí cho các đầu tư không hiệu quả, tiếp tay cho những hình thức “hợp thức hoá” đầu tư của nhà nước, của nhân dân.

Hội chứng thích cô đơn?

Vấn đề hợp tác liên ngành cũng là một biểu hiện của sự đầu tư thiếu đồng bộ. Chúng ta cũng rất thiếu các dự án nghiên cứu liên ngành. Các vấn đề của toán học, cơ học, vật lý, hoá học, sinh học, môi trường, thuỷ điện – thuỷ lợi được giải quyết một cách riêng lẻ, đầu tư một cách riêng lẻ. Điều này dẫn đến những đề tài xa rời thực tế của toán học và những đề tài thiếu một nền tảng và mô hình toán học vững chắc của các ngành khoa học thực nghiệm. Hai bên đều thiếu nhưng không biết tìm đến nhau, mà có biết tìm đến nhau thì cũng gặp khó khăn để có tiếng nói chung do những cơ chế hành chính và tài chính. Rất mừng là gần đây đã có nhiều lãnh đạo của các viện nghiên cứu ứng dụng nhìn thấy vấn đề này và đã đặt vấn đề hợp tác. Nhưng con đường đi từ mong muốn đến thực tế thực hiện được còn rất xa, vì thực sự chúng ta còn rất xa lạ với các hợp tác liên ngành.

Vừa qua, giới khoa học nói chung và giới toán học nói riêng rất phấn khởi với sự kiện GS Ngô Bảo Châu đạt huy chương toán học Fields danh giá. Tiếp đó, họ lại càng phấn khởi khi nghe tin Chính phủ đã phê duyệt chương trình trọng điểm phát triển toán học 2010 – 2020 với tổng số tiền đầu tư lên tới 651 tỉ đồng. Chưa bao giờ toán học được ưu ái đến thế. Tuy nhiên, sau những hồ hởi ban đầu, chúng ta lại tiếp tục lo lắng: liệu chúng ta có biết cách sử dụng số tiền đầu tư tương đối lớn đó không? Và liệu toán học có tìm được tiếng nói chung với các ngành khoa học khác để cùng phát triển toàn diện và đồng bộ được hay không? Bởi vì suy cho cùng, có tiền là một chuyện, biết sử dụng tiền thế nào cho hiệu quả là một chuyện khác.

TS TRẦN NAM DŨNG

(sgtt.vn)

Đầu tư cho khoa học cơ bản: Có cũng như không (kỳ 2)

Kỳ 1: Lãng phí

Kỳ 2: Không hiệu quả

Kỳ cuối: Thiếu đồng bộ

 

 

SGTT.VN – Không rõ kết quả đầu tư ở các ngành khác thì thế nào, nhưng ở ngành toán có thể nói thẳng là rất kém hiệu quả!

Kết quả cao nhất của một đề tài khoa học ngành toán có thể là một cuốn sách tham khảo, sách giáo khoa, một bài báo khoa học đăng trên tạp chí ngoài nước hoặc trong nước. Nhưng những kết quả như thế rất hiếm, phần lớn kết quả là một bài báo cáo nghiệm thu đề tài với một số điều đã làm được, những đề xuất định hướng tiếp theo và chữ ký nghiệm thu của các thành viên hội đồng. Sau đó đề tài sẽ được đóng theo đúng nghĩa của nó, gần như không ai biết đến và hơn nữa là dùng đến.

 

Nhóm học sinh trường phổ thông Năng khiếu (đại học Quốc gia TP.HCM) đang theo dõi sự kiện giáo sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng Fields 2010 – biết bao giờ mới có lại niềm vui này? Ảnh: Trung Dũng

 

Tại sao như vậy? Có phải vì trình độ nhà nghiên cứu của chúng ta kém? Có phải vì họ chưa thật tận tâm? Có phần đúng, nhưng chưa hẳn đã là nguyên nhân cốt lõi.

Giải đúng bài toán… sai

Để có một công trình khoa học tốt, cần có ba yếu tố: 1) có bài toán hay đề tài tốt, phù hợp khả năng và kinh phí thực hiện; 2) người thực hiện có đủ khả năng, tâm huyết và được hỗ trợ đầy đủ về kinh phí và môi trường thực hiện; 3) khâu nghiệm thu được tiến hành nghiêm túc, khoa học. Ở chúng ta, có lẽ cả ba khâu đều yếu. Và sự yếu kém này có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Bắt đầu từ khâu đề tài. Do không có một định hướng chung nên ở đây ta có thể thấy sự trăm hoa đua nở. Đề tài được lựa chọn hoàn toàn chủ quan theo định hướng và sở trường của chủ nhiệm đề tài. Khi thẩm định, vì không có chuyên gia nên việc này được làm một cách qua loa. Kết quả là chất lượng đề tài được phó mặc cho… may rủi. Nhưng, cũng như tầm quan trọng của khai cuộc trong cờ vua, việc chọn đề tài đúng đóng vai trò quan trọng và là mấu chốt cho thành công của một nghiên cứu. Điều này quan trọng đến nỗi một nhà toán học đã đúc kết: “Thà giải sai một bài toán đúng còn hơn giải đúng một bài toán sai”. Vấn đề đặt ra đã sai, thì mọi cố gắng phần sau chỉ là vô ích.

Đối phó là chính

Nhưng làm sao có thể được đề tài tốt, đi đúng hướng của khoa học, của công nghệ, của ngành công nghiệp nếu sự giao lưu, cọ xát của chúng ta với khoa học thế giới quá khiêm tốn, nếu sự liên kết liên ngành hầu như không có, nếu ngành công nghiệp Việt Nam không tự tin đặt ra những bài toán cho giới khoa học, giới toán học Việt Nam, thay vào đó là sử dụng các công nghệ nước ngoài?

Cũng như tầm quan trọng của khai cuộc trong cờ vua, việc chọn đề tài đúng đóng vai trò quan trọng và là mấu chốt cho thành công của một nghiên cứu.

Giả sử may mắn có được một đề tài tốt (nhờ vào những cố gắng cá nhân không mang tính hệ thống), đến khâu thực hiện cũng sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Hiện nay, mỗi đề tài cấp trường ở đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM được cấp 10 đến 20 triệu đồng trong thời gian sáu tháng đến một năm. Với số tiền đó thì làm được gì? Mua được mấy cuốn sách, mấy tài liệu, đi dự được mấy hội nghị? Nói gì đến thiết bị, đến thí nghiệm, đến đi khảo sát thực tế! Nói gì đến mô phỏng, tính toán hiệu năng cao! Hệ quả là những kết quả tương xứng và cách làm mang tính đối phó, hợp thức hoá đề tài nhiều hơn là làm đề tài. Tệ hại hơn, cách làm đó tiếp tục được lặp lại ở đề tài cấp đại học quốc gia, cấp sở, cấp bộ, dù số tiền có cao hơn, “hoành tráng” hơn.

Bệnh xuề xoà

Và nguyên nhân để các đề tài nghiên cứu khoa học không đến đâu đó tiếp tục được phê duyệt, tiếp tục được đầu tư là do chúng ta quá dễ dãi ở khâu cuối cùng: khâu nghiệm thu. Ở đây có thể phân tích sự dễ dãi của những người tham gia nghiệm thu có ba nguyên nhân chính: 1) họ không phải là người am hiểu lĩnh vực chuyên môn của đề tài nên chỉ đánh giá chung chung, ba phải; 2) họ chặc lưỡi “Ôi dào, đề tài có 20 triệu thì làm thế được rồi”; 3) họ cùng cạ với chủ nhiệm đề tài, theo kiểu “anh dễ với tôi thì sau này tôi sẽ dễ với anh”. Cho dù thế nào thì kết quả cuối cùng là đề tài được nghiệm thu và sau đó đa phần là… xếp xó.

Căn bệnh dễ dãi, xuề xoà này thực sự rất tai hại. Nó tiêu tốn thời gian của các “nhà khoa học”, tiêu tốn tiền của của Nhà nước, của nhân dân. Nó còn cản đường những nhà khoa học chân chính nhưng lại ít biết những “đường đi nước bước”, không rành thủ tục. Nó còn lây lan sang các đánh giá học thuật, tạo ra các luận văn tốt nghiệp đại học và luận văn thạc sĩ toàn điểm mười. Nó khiến chúng ta mơ ngủ trên các “thành tựu khoa học” của mình, của học trò mình, để rồi khi ra bên ngoài, hoà nhập với thế giới mới biết mình chỉ là “những dòng sông đã lâu không ra được biển rộng”.

TS TRẦN NAM DŨNG

(sgtt.vn)

Ngành khoa học cơ bản bắt đầu hút thí sinh

(Dân trí)- Trong khi các trường thành viên đều có lượng hồ sơ ĐKDT giảm so với năm trước, hồ sơ vào ĐH Khoa học TN- ĐHQGHN lại tăng ở cả hai khối A, B (gần 1.000 bộ). Điều này cho thấy ngành khoa học cơ bản “hút” thí sinh hơn trước. Vậy nguyên nhân là do đâu?

Để làm sáng tỏ vấn đề này, Dân trí đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Hữu Dư – phó hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội.

Thưa GS, một điều dễ nhận thấy là năm nay số lượng hồ sơ ĐKDT vào trường ĐH Khoa học Tư nhiên tăng lên đáng kể so với năm 2010. Vậy theo quan điểm của PGS có phải thí sinh đang ngày càng chú trọng đến các ngành học khoa học cơ bản (KHCB) hơn không?

GS.TS Nguyễn Hữu Dư: Việc số lượng hồ sơ ĐKDT vào Trường ĐH Khoa học Tự nhiên tăng lên phản ánh rằng xã hội đã và đang nhận thức vai trò quan trọng của KHCB đối với sự phát triển của đất nước. Chúng tôi nghĩ rằng thí sinh đã nắm bắt được chủ trương của nhà nước là sẽ rất chú trọng đến đào tạo KHCB vì đó là nhu cầu thực sự cho sự phát triển bền vững của một quốc gia.

GSDu06062011_31c28
GS. TS Nguyễn Hữu Dư.

Chúng tôi vừa được biết, Bộ Tài chính đã có đệ trình với Bộ Chính trị về phương án phân bổ ngân sách cho giáo dục đại học trong thời gian tới: Những ngành nghề được Nhà nước cần (trong đó có tất cả các ngành đào tạo thuộc KHCB) sẽ được đầu tư toàn bộ kinh phí đào tạo và kinh phí học tập cho sinh viên. Với chính sách đầu tư này, tôi tin rằng các ngành thuộc lĩnh vực KHCB sẽ phát triển để phục vụ đắc lực cho phát triển bền vững của đất nước và có cơ hội vượt trội trong khu vực. Học KHCB đúng là đòi hỏi cần cố gắng lớn trong quá trình học tập nhưng đổi lại, nhu cầu xã hội và nhà nước đối với tuyển dụng nhân lực từ đào tạo KHCB lại rất lớn. Vấn đề là sinh viên ra trường có đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cơ sở tuyển dụng hay không.Hơn nữa, việc các em lựa chọn thi vào Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN là các em đang lựa chọn vào học ở một trường đào tạo về KHCB hàng đầu của cả nước. Với truyền thống 55 của ĐH Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi có thể tự hào mà nói rằng ĐHKHTN là trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có học hàm, học vị cao nhất trong các trường đại học của cả nước.

Theo thống kê về nguyện vọng đăng ký thì chuyên ngành về Công nghệ sinh học, khoa học môi trường năm nay hút được một lượng lớn thí sinh ĐKDT, nhất là thí sinh dự thi khối B. Vậy đây có phải là hai ngành học “nóng” nhất của trường? Với xu hướng thí sinh đầu đơn nhiều như vậy thì liệu điểm chuẩn hai ngành học này có tăng đột biến trong kì thi tuyển sinh năm nay hay không?

Tôi vẫn thường nói rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của Công nghệ Sinh học, nửa đầu của thế kỷ 21 sẽ có rất nhiều vấn đề nóng bỏng liên quan đến Môi trường. Đông thí sinh dự thi vào ngành này thì đương nhiên điểm chuẩn có thể cao lên. Tuy vậy, chúng tôi có chính sách tuyển sinh hết sức linh động để những học sinh có khả năng và có nguyện vọng đều có thể vào học ở trường.

Nhiều thí sinh vẫn có quan điểm tỷ lệ “chọi” cao sẽ dẫn đến điểm chuẩn thấp và ngược lại. Quan điểm của GS về vấn đề này như thế nào? Một số ngành học của trường có số lượng thí sinh đăng ký không nhiều thì liệu điểm chuẩn có thấp đi hay không?

Không có một công thức nào biểu diễn mối quan hệ giữa tỷ lệ “chọi” và “điểm chuẩn”. Theo tôi, tỷ lệ “chọi” để vào trường năm nay là hợp lý. Vì vậy nó sẽ có một điểm chuẩn trúng tuyển hợp lý.

Điều quan trọng là ĐHKHTN sẽ có 2 điểm chuẩn: điểm chuẩn để vào ngành thí sinh đăng ký dự thi và điểm chuẩn để thí sinh trúng tuyển vào trường. Những thí sinh không trúng tuyển vào ngành mình đăng ký sẽ có quyền đăng ký vào học ở một ngành khác nếu còn chỉ tiêu.

Trước thềm kì thi tuyển sinh ĐH, CĐ sắp tới GS có lời khuyên gì đối với các bạn thí sinh, đặc biệt là những bạn đã đầu đơn vào trường ĐH Khoa học Tự nhiên?

Các bạn đang đứng trước lựa chọn quan trọng của cuộc đời. Các bạn hãy nhìn đến bức tranh khoa học kỹ thuật, kinh tế – xã hội trong 5-7 năm tới để quyết định mình dự thi vào ngành nghề nào là thích hợp nhất. Mọi cuộc chạy đua theo số đông thường dẫn đến kết quả trái với điều mong muốn của mình. Có những ngành bây giờ có số lượng sinh viên đăng ký cao, trường nào cũng mở đào tạo ngành đó thì liệu 5 năm nữa, bạn có cơ hội chen chân vào cánh cửa việc làm đúng ngành hay không.

Theo quan điểm của tôi thì đăng ký thi vào chuyên ngành của Khoa học cơ bản, thí sinh sẽ có cơ hội trúng tuyển cao, sẽ được đội ngũ chuyên gia giỏi nhất nước giảng dạy, hướng dẫn nghề nghiệp và 5-7 năm tới khi khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội phát triển thì cơ hội nghề nghiệp cũng sẽ rất rộng mở.

Xin cảm ơn GS!

Theo thống kê của trường ĐH Khoa học Tự nhiên, tỷ lệ “chọi” khối A ở các khoa tương đối đồng đều. Một số ngành học thường khó tuyển trong nhiều năm trước đây thì đã được thí sinh quan tâm nhiều hơn. Cụ thể, tỷ lệ “chọi” ngành Toán, Toán tin ứng dụng 1/2,7; Ngành Vật lý, Khoa học Vật liệu, CN Hạt nhận 1/3,0; Ngành Hóa học, Công nghệ Hóa học, Hóa dược 1/4,5; Ngành Địa lý, Địa chính 1/3,0; Ngành Địa chất, Địa Kỹ thuật-Địa Môi trường, Quản lý Tài nguyên thiên nhiên, Khí tượng – Thủy văn – Hải dương học 1/2.1

Nguyễn Hùng (DanTri)

(oisp.hcmut.edu.vn)

Next