Archive for October 31st, 2011

Vietnam: Universities cry about the lack of lecturers

Universities cannot persuade graduates to stay at the schools to work as lecturers, while it is very difficult to “hunt for heads” on the market.

Series of universities in HCM City began recruiting lecturers right when the new academic year started. However, none of them has recruited enough lecturers they need.

Excellent graduates keep indifferent

Under the current regulations, the graduates, who become lecturers after finishing schools, would not be allowed to give lectures in the first year of working, while they can only make scientific research, attend teaching hours of colleagues or undertake students’ affairs. Therefore, a lot of new lecturers feel discouraged and decide to give up the job.

“The salary is low, while the job is boring, therefore, it is very difficult to retain them,” said Hoang Manh Dung, Head of the Administrative Division of the HCM City Open University.

Dung said that the school tries to ensure the permanent staff accounting for 50-60 percent of the total lecturers. However, it is always very difficult to ensure the percentage. It launched the campaign of recruiting new lecturers for the school, but only 40 applications were made, and only 25 lecturers were recruited.

Dung revealed that the school tried to persuade excellent graduates to stay at the school to work as lecturers, but most of them refused the invitation. Only several students, who got university degrees at good level, accepted the invitation, but it seems that they do not have high enthusiasm.

In the past, the postgraduate training regulations allowed 5 percent of excellent graduates to continue studying for master degree without having to attend exams. Meanwhile, the current regulations stipulate that all university graduates have to sit exams to enter the training courses. Therefore, according to Dung, it is now very difficult to retain excellent graduates to be trained to become lecturers.

The HCM City Law University has received 72 applications for the post of lecturers after three months of seeking lecturers. Phan Le Hoang Toan, Deputy Head of the Administration and Personnel Division of the school, most of the candidates were bachelors, and only seven of them got university degrees at excellent level.

Nguyen Manh Hung, President of the Nguyen Tat Thanh University, also said that his school finds it very difficult to recruit lecturers.

Working as lecturers while waiting for better opportunities to come

Universities all believe that it is difficult to recruit lecturers nowadays because the income of lecturers is too low.

Dung said that a new lecturer would receive the salary of VND3-4 million (USD143.5-191.38) a month for the first year of working, if he has the university degree at excellent level. Meanwhile, a new school graduate can get 5-6 million dong at least if he goes working for a company.

That explains why most of the candidates for the post of lecturers are female graduates, who do not try to earn money at any cost and feel satisfactory with stable lives.

There are also male candidates, but they make such decisions just because they want to have time to follow new training courses for master degree or seek scholarships to go studying abroad. After they return from overseas with the master degree, they would leave the schools for other jobs which can bring better income.

According to Dung, the HCM City Law University has surveyed its students about if they intend to become lecturers. 70-80 percent of them said they intend to stay at the school, but just to make scientific research and have more opportunities to study further, while they did not mention the plan to become lecturers to earn their living.

(dtinews.vn)

Điện gió – những lời giải cụ thể

TTCT – Những chỉ dấu cụ thể về sự ủng hộ của Chính phủ đối với việc phát triển các dạng năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió, đã được thể hiện qua hàng loạt văn bản quan trọng liên tiếp được ban hành gần đây.

Nhưng hiện thực hóa một hướng đi cho điện gió cũng chính là giải những bài toán rất cụ thể về công nghệ, giá điện và cả cách nghĩ, cách làm của người trong cuộc.

1.600 đồng và 1.000 MW

LTS: Là người trực tiếp gửi kiến nghị lên Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đề xuất cách tính trợ giá mới, ông Trần Khang Thụy chia sẻ với TTCT về cách làm này.

 

Hàng chục dự án điện gió đã được cấp phép đang chờ cơ hội tốt để triển khai. Trong ảnh: Nhà máy điện gió quy mô lớn đầu tiên ở Bình Thuận – Ảnh: T.T.D.

 

Trong quy hoạch điện VI, chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình tới năm 2020 với  dự báo của Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia thì vào năm 2020 hoàn toàn không có sự tham gia của các loại năng lượng tái tạo (NLTT) như điện gió, điện mặt trời, địa nhiệt…

Đột phá từ chính sách

Còn trong chiến lược đến năm 2015 phát triển các nguồn năng lượng tái tạo hòa lưới điện quốc gia, điện gió được quy hoạch chỉ có 30MW. Trong quy hoạch, chiến lược phát triển năng lượng VN giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến năm 2050, ngành năng lượng phấn đấu tăng tỉ lệ các nguồn năng lượng mới và NLTT (chủ yếu là thủy điện dưới 30MW) lên khoảng 5% và 11% tổng năng lượng thương mại sơ cấp lần lượt vào các năm 2020 và 2050. Do vậy, cũng có thể coi Quy hoạch điện VII là một bước đột phá, dù chưa đủ và chưa tương xứng với tài nguyên thiên phú của nước ta về nắng, gió…

Nếu NLTT không có hoặc có ít trong quy hoạch cơ cấu nguồn điện thì chưa chắc các nhà máy NLTT sẽ được nằm trong quy hoạch phát triển lưới điện và được đấu nối với mạng lưới điện quốc gia (truyền tải phải đồng bộ với tiến độ vận hành các nhà máy điện để đạt được hiệu quả đầu tư chung của toàn hệ thống). Mặt khác, điều này cũng ảnh hưởng đến  nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý cũng sẽ bị chậm lại.

Đột phá còn đến từ hai văn bản rất quan trọng khác của Chính phủ vừa được ban hành về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại VN, thể hiện nhiều điểm tiến bộ về quản lý đầu tư xây dựng công trình điện gió tại VN.

 

 

Khung cửa hẹp?

Nhưng với mức giá mua điện gió hiện nay là 7,8 xu Mỹ/kWh thì cửa vẫn chưa mở hết với các dự án điện gió. “Theo tính toán của Viện Năng lượng (Bộ Công thương) cho phương án cơ sở của dự án điện gió với một số thông số cơ bản, nếu sử dụng công nghệ từ các nước Mỹ và châu Âu, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn IEC (Hội đồng kỹ thuật điện quốc tế) về điện gió thì suất đầu tư của dự án điện gió là 2.250 USD/kW, giá điện bình quân quy dẫn là khoảng 10,68 xu Mỹ/kWh. Còn nếu sử dụng công nghệ đến từ Trung Quốc thì suất đầu tư sẽ là 1.700 USD/kW, giá bán điện cũng là 8,6 xu Mỹ/kWh.

Do đó, nếu chỉ trông chờ vào giá bán điện thuần túy, khó có nhà đầu tư nào can đảm bỏ tiền ra để tham gia cuộc chơi tốn kém của năng lượng sạch mà nhìn thấy trước là lỗ” (*).

Tại sao cánh cửa chỉ mở hé để một số nhà đầu tư nếu sử dụng thiết bị, công nghệ với giá thấp, kể cả việc sắp xếp về tín dụng  mới có thể vào được? Chưa kể đến việc tuôcbin điện gió có khả năng gây nhiễu ảnh hưởng tới quá trình thu phát sóng vô tuyến, viễn thông và các hệ thống rađa – vốn rất có thể bị lợi dụng cho các mục đích bất lợi khác như quấy nhiễu hoặc cản trở công tác quản lý không lưu, an ninh quốc phòng… Bởi đây chính là điều khiến Mỹ và châu Âu có những quy định về các chỉ tiêu chất lượng rất khắt khe đối với lĩnh vực này.

Và cho đến nay, chưa có một tổ máy phát điện gió hoàn chỉnh nào từ các nhà sản xuất theo công nghệ “sao chép” (giá rẻ) thâm nhập được vào các nước này.

Trong một cuộc họp với các bộ, ngành hữu quan đầu tháng 4 vừa qua, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Công thương sớm lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ xem xét, quyết định chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển các nguồn NLTT ở VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, lưu ý cơ quan soạn thảo xây dựng các cơ chế cụ thể… để tạo thuận lợi tối đa, phát triển hiệu quả lĩnh vực này mà trong nhiều năm qua chưa thực hiện được.

Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu do tính kinh tế của nguồn năng lượng này chưa thật sự hấp dẫn (?), ngoài việc các cơ chế chính sách, việc tổ chức thực hiện, cơ sở dữ liệu, trình độ áp dụng công nghệ liên quan cũng chưa đầy đủ.

Như vậy, thị trường NLTT VN trong thời gian qua và cho đến nay, kể cả trong tương lai gần vẫn chưa chắc chắn có thể phát triển được.

Không lấy tiền ngân sách

 

* Điện năng sản xuất của 1.000 MW điện gió x 1.000 kW x 365 ngày x 24 giờ x 90% (ước hao hụt khoảng 10%) x 25% (công suất khả thi của điện gió trong điều kiện trung bình của VN)  =  1,971 tỉ kWh, tính tròn 2 tỉ kWh, tương đương với cách tính của Quy hoạch điện VII, khoảng 2 tỉ kWh.

* Với mức hỗ trợ giá 1 xu Mỹ, tính tròn là 200 đồng/kWh x 2 tỉ kWh, tổng số tiền phải chi để hỗ trợ giá là 400 tỉ đồng, chia đều cho khoảng 20 triệu khách hàng trả tiền điện trực  tiếp (đến năm 2020) thì số tiền mỗi hộ tính bình quân sẽ trả thêm khoảng 20.000 đồng một năm hay 1.666 đồng một tháng.

* Nếu với mức hỗ trợ là 4 xu Mỹ, tính tròn là 800 đồng/kWh, giá mua điện của EVN là 10,8 xu Mỹ/kWh đã bảo đảm thu hồi được chi phí và có mức lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư với thiết bị, công nghệ cao, thì tổng số tiền phải chi để hỗ trợ giá là 1.600 tỉ đồng, chia đều cho khoảng 20 triệu khách hàng, số tiền mỗi khách hàng tính bình quân sẽ trả thêm vào thời điểm năm 2020 khoảng 80.000 đồng một năm hay 6.666 đồng một tháng.

Vấn đề bế tắc ở đây có lẽ không phải là mức hỗ trợ giá mua điện mà là cơ chế trợ giá: nguồn thu để hỗ trợ giá từ ngân sách hay từ khách hàng sử dụng điện. Theo các văn bản đã được ban hành thì mức hỗ trợ thông qua hay không thông qua Quỹ bảo vệ môi trường VN (dự án điện gió nối lưới hay không nối lưới) đều từ ngân sách nhà nước. Nếu việc sắp ban hành cơ chế cho các loại năng lượng mới khác cũng sẽ tính toán như cơ chế điện gió, rất cần cân nhắc và xem xét lại để tìm một giải pháp phù hợp với nền kinh tế VN và cách làm của các nước đã thành công hay đang phát triển tốt ngành NLTT.

 

FIT (feed-in-tariff) là một cơ chế chính sách được đưa ra nhằm khuyến khích phát triển các nguồn NLTT, giá bán điện được tính toán để nhà đầu tư thanh toán đủ chi phí đầu tư, có lãi vừa phải và giá này được giữ cố định trong 20 năm.

Điện gió sẽ bổ sung và góp phần giảm giá điện bán ngay (spot rate), điều quan trọng là chênh lệch giữa giá FIT và giá bán điện bình quân thì các công ty điện lực sẽ phân bổ đều vào hóa đơn điện của khách hàng. Do mức giá FIT sẽ giảm dần (mặc dù với mỗi dự án đã đi vào hoạt động sẽ không đổi trong 20 năm), sau một thời gian tính được, mức giá FIT sẽ bằng giá điện bình quân bình thường và sau đó thấp hơn, vì giá điện nhiệt điện chiếm tỉ trọng lớn sẽ tăng theo giá nhiên liệu (dầu, khí, than) ngày càng cao và nguồn thì cạn kiệt dần.

Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Ý, Pháp, Bỉ… và hầu hết các nước phát triển NLTT đều đang áp dụng FIT. Các nước như Thái Lan có thêm 4.300MW NLTT nhờ biểu giá FIT. Chính phủ Malaysia tháng 4 vừa qua đã thông qua hệ thống giá hỗ trợ FIT mới và các mục tiêu về NLTT cho các công nghệ khác nhau…

Để giá bán điện gió bảo đảm thu hồi được chi phí đầu tư, sản xuất và có mức lợi nhuận hợp lý, Quy hoạch điện VII tính toán rằng: Tập đoàn Điện lực VN (EVN) sẽ mua điện tại điểm giao nhận điện là 1.614 đồng/kWh (tương đương 7,8 xu Mỹ/kWh), chưa bao gồm thuế VAT.  Nhà nước hỗ trợ giá điện cho EVN đối với toàn bộ lượng điện mua từ các nhà máy điện gió 207 đồng/kWh (tương đương 1 xu Mỹ/kWh) thông qua Quỹ bảo vệ môi trường VN (từ ngân sách), do đó EVN chỉ  phải trả 6,8 xu Mỹ/kWh.

Vấn đề ở đây là Nhà nước vẫn nên hỗ trợ điện gió thông qua Quỹ bảo vệ môi trường VN, nhưng thay vì dựa vào ngân sách, Nhà nước sẽ thu trực tiếp từ khách hàng sử dụng điện, qua hóa đơn của các công ty điện lực. Với cách tiếp cận này, chắc chắn VN sẽ đạt được mục tiêu đề ra trong Quy hoạch điện VII là đến năm 2020, tổng công suất điện gió lắp đặt 1.000 MW, hoàn toàn bằng vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tiền hỗ trợ giá từ khách hàng mua điện trực tiếp trả thêm. Số tiền mỗi hộ phải chi thêm hằng tháng vào năm 2020, theo các nhà chuyên môn tính toán, chỉ từ 1.600-6.600 đồng.

Mức chi thêm hằng tháng này, đến thời điểm năm 2020 không quá lớn đối với các khách hàng mua điện trực tiếp, nguy cơ cúp điện giảm nhờ được sử dụng thêm ít nhất 1.000 MW điện gió. Ngoài ra, nếu cơ chế hỗ trợ giá điện gió như kiến nghị được áp dụng cho cả các dạng NLTT khác như điện mặt trời, điện sinh khối… không nhất thiết và không nên dựa vào ngân sách nhà nước thì hoàn toàn có thể tin rằng đến năm 2020, VN không chỉ có 1.000 MW điện gió mà có thể tăng gấp nhiều lần, kể cả điện mặt trời, điện sinh khối. Vì như thế các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ an tâm hơn nhờ có được chủ trương ổn định lâu dài để đầu tư vào lĩnh vực này.

Khác với đầu tư cho nhiệt điện, vốn đầu tư nhà máy NLTT rất lớn, song chỉ tập trung cho giai đoạn xây dựng, chi phí vận hành, bảo trì… sau đó không đáng kể, nhất là không phải mua hay nhập khẩu nhiên liệu…

TRẦN KHANG THỤY
(Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng khoa học kinh tế, ĐH Kinh tế TP.HCM)

Theo thống kê chính thức của Bộ Công thương, đến cuối năm 2010 có tất cả 42 dự án điện gió đang triển khai tại 11 tỉnh, thành phố duyên hải VN. Tổng công suất đăng ký là 3.906MW. Chỉ mới có một dự án hoàn thành giai đoạn một công suất 30MW ở Bình Thuận do Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo VN làm chủ đầu tư. Phần lớn các dự án còn ở dạng dự án đầu tư, chỉ một số ít đang tiến hành ở mức thiết kế và đang xây dựng.

Theo Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện 3, từ cuối năm ngoái đến nay đã có thêm trên 10 dự án điện gió khác được cấp phép, nâng số dự án lên khoảng 50.

Một phần ba chủ dự án là của nhà đầu tư nước ngoài, đến từ nhiều nơi trên thế giới như  Đức, Bỉ, Tây Ban Nha, Argentina, Canada, Thụy Sĩ, Trung Quốc… Nơi đón nhận nhiều dự án điện gió nhất hiện nay là Bình Thuận và Ninh Thuận.

(Nguồn: Bộ Công thương, Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện 3)

Ông HOÀNG TIẾN DŨNG (viện trưởng Viện Năng lượng, Bộ Công thương):

Không nhập thiết bị đã qua sử dụng

Xin ông cho biết tiêu chí lựa chọn công nghệ điện gió của VN thế nào?

- Trong lĩnh vực năng lượng mới, cụ thể là điện gió, về mặt công nghệ chúng ta đã có những quy định cụ thể. Ví dụ như thiết bị phải là thiết bị mới, không sử dụng thiết bị đã qua sử dụng, công suất phải phù hợp với hệ thống điện trong nước, đặc biệt là các dự án máy nhỏ, công suất thấp thì chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thường kém, nên Bộ Công thương không đồng ý cấp phép cho những dự án như vậy triển khai. Còn những nhà máy có chỉ tiêu phát thải môi trường kém, vượt quá tiêu chuẩn của VN, cũng đã có quy chuẩn và cũng không được triển khai. Về mức độ tiên tiến công nghệ, nếu không đạt được mức độ tiên tiến ngang tầm với các nước trong khu vực hiện nay sẽ không được phê duyệt triển khai.

Có hai khuynh hướng lựa chọn công nghệ. Nếu chọn châu Âu thì đắt tiền. Còn của Trung Quốc thì rẻ nhưng chất lượng không đảm bảo. Theo ông, VN nên chọn con đường nào để định hướng cho nhà đầu tư trong lĩnh vực này?

- Nhìn chung với mỗi dự án, khi lựa chọn nhà đầu tư thường phải đấu thầu. Trong đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư không hẳn chỉ có giá rẻ là thắng thầu, mà phải có sự cân bằng giữa giá rẻ và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tốt. Thực tế cũng cho thấy thiết bị có giá rẻ thì các thông số kỹ thuật thường không tốt bằng những thiết bị có công nghệ tiên tiến, nhưng giá thành thường đắt.

Tôi cho rằng các nhà đầu tư cần đánh giá một cách tổng thể giữa chi phí đầu tư với hiệu suất của thiết bị và hiệu quả của dự án để lựa chọn công nghệ phù hợp. Còn ở VN, giá nhân công của chúng ta vẫn còn ở mức lý tưởng, chi phí bảo dưỡng vẫn còn khá thấp, nên nếu lựa chọn một thiết bị không quá đắt và công nghệ đi sau các nước tiên tiến khoảng 5-10 năm thì có thể chấp nhận được.

 

(*) Đầu tư các dự án điện gió: Chưa thành “làn sóng”, báo Đầu Tư, ngày 24-6-2011.

__________

Cần mạnh dạn đột phá

”VN có thừa tiềm năng phát triển để đáp ứng nhu cầu điện trong nước, thậm chí nghĩ đến khả năng xuất khẩu” – tiến sĩ TRẦN VĂN BÌNH, tổng giám đốc Công ty DVT Dr. Van Tran Consulting Co. Ltd, chuyên gia tư vấn cho nhiều dự án năng lượng tái tạo ở VN, nhận định.

 

Chi phí đầu tư cho các dự án điện gió khá tốn kém nên rất cần cơ chế phù hợp để ngành công nghiệp này phát triển. Trong ảnh: Tuôcbin nặng 60 tấn chuẩn bị đưa vào vị trí lắp đặt ở Bình Thuận – Ảnh: T.T.D.

 

* Khả năng và nhu cầu phát triển năng lượng gió và mặt trời ở VN đều đã được khẳng định, nhưng trở ngại nào khiến chúng ta chưa làm được?

- Điều đáng mừng là đã có quyết định 37/TTCP về trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió mà Thủ tướng Chính phủ ký (có hiệu lực từ ngày 20-8-2011). Nhưng cũng còn nhiều ý kiến xung quanh giá mua điện từ nguồn năng lượng này. Cần có chính sách rõ ràng hơn trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió để đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước. Mặt khác, VN vẫn còn thiếu các dịch vụ và khả năng tài chính để có thể vay vốn từ ngân hàng hoặc từ tổ chức tài chính cho việc phát triển điện gió và điện mặt trời.

Ngoài ra, chương trình quy hoạch và chính sách của chính quyền địa phương và trung ương nên thật minh bạch, tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Và nhìn chung, chúng ta vẫn thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ bảo quản, bảo trì, điều hành và quản lý… sau lắp đặt.

Theo số liệu đã được nhiều tổ chức nghiên cứu, trong đó có Ngân hàng Thế giới công bố, tiềm năng gió của VN rất lớn, lớn hơn 200 lần công suất Nhà máy thủy điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất điện dự báo của Tập đoàn Điện lực VN vào năm 2020. Đây mới chỉ là tiềm năng lý thuyết, tiềm năng khai thác được và tiềm năng kinh tế kỹ thuật sẽ có khác biệt. Nhưng có thể khẳng định rằng đây sẽ là một nguồn năng lượng đáng kể, bổ sung cho nguồn điện quốc gia, thay thế cho các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt.

* Ông nói ”trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” là thế nào?

- Tôi biết đang có vài chục dự án trong và ngoài nước xin đầu tư vào năng lượng gió và mặt trời nhưng hầu hết vẫn chỉ ở dạng dự án. Một tỉnh còn đang trong thế không biết phải trả lời nhà đầu tư thế nào vì đã cấp phép xây dựng những trang trại điện gió nhưng cũng tại khu vực đó lại có lệnh của một bộ nói là để khảo sát, khai thác titan.

Tôi cho rằng để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư xây dựng ngành NLTT là điện gió và điện mặt trời thì chính quyền địa phương phải có thẩm quyền quyết định vấn đề này. Khoáng sản để lại thì còn đó, không nhất thiết cứ phải móc lên để bán ngay. Nhu cầu năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế là rất cấp thiết nên rất cần ưu tiên cho năng lượng. Không nên một mặt khuyến khích nhà đầu tư xây dựng các cột điện gió, một mặt vẫn cứ đào bới khảo sát titan.

* Giới chuyên môn ủng hộ mạnh phát triển NLTT, vì sao?

- Thất thoát năng lượng ở VN hiện nay rất lớn. Thủy điện hiện cung cấp khoảng 30-40% công suất điện cho cả nước, nhưng chỉ tập trung vào mùa mưa có nước, thiếu hụt vào mùa khô. Rất cần lưu ý ở đây là hậu quả rừng bị phá hủy, môi trường sinh sống bị ảnh hưởng vì việc xây dựng ồ ạt các nhà máy thủy điện kể cả loại nhỏ và vừa.

Hơn 513.000 MW là tiềm năng NLTT ta có thể khai thác tại VN, dù đây mới là tiềm năng lý thuyết nhưng nguồn bổ sung này vô cùng quan trọng, cần tính tới. Nếu biết tập trung tổ chức, có kế hoạch tổng thể, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển để trước mắt đáp ứng nhu cầu điện trong nước và xa hơn, nghĩ đến khả năng sẽ xuất khẩu điện từ nguồn NLTT. Điện mặt trời có thể giá còn cao, nhưng điện gió thì nên làm ngay.

Và một khi có nhiều nhà đầu tư vào điện gió, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển một ngành công nghiệp cho lĩnh vực này. Hiện chúng ta chỉ mới làm công đoạn lắp ráp. Chân tháp đã sản xuất được ở VN, cánh quạt cũng sẽ làm được. Xét về khía cạnh kinh tế, một nhà máy sống được nếu một năm sản xuất 300-400 cột tháp.

__________

Có thể làm nhiều hơn

Trao đổi với TTCT, ông TÔ QUỐC TRỤ, giám đốc Trung tâm Tư vấn năng lượng (Hiệp hội Năng lượng), cho rằng cần có hành động cụ thể để phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió.

 

Ông Tô Quốc Trụ – Ảnh: Cầm Văn Kình

 

Ông Tô Quốc Trụ cho rằng: Trong Quy hoạch điện VII mới được Thủ tướng phê duyệt, mục tiêu về NLTT rất rõ ràng: ưu tiên phát triển nguồn NLTT cho sản xuất điện, tăng tỉ lệ điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng này từ mức 3,5% (năm 2010) lên 4,5% tổng điện năng sản xuất vào năm 2020 và 6% (năm 2030). Tuy nhiên, một số mục tiêu về NLTT như Quy hoạch điện VII là thấp, với tiềm năng hiện nay chúng ta có thể làm nhiều hơn.

* NLTT gồm nhiều lĩnh vực nhưng ta mới có chính sách hỗ trợ về giá cho điện gió, thế là chưa đủ?

- NLTT trong lĩnh vực sản xuất điện khá rộng, gồm điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối, sinh khí, địa nhiệt… Chúng ta đã có doanh nghiệp đầu tư phát triển điện gió quy mô. Do đầu tư lớn, giá điện gió khá cao. Với đầu tư cao, giá điện bán ra phải cao thì đồng vốn của nhà đầu tư mới đủ hiệu quả để làm. Công ty cổ phần Năng lượng tái tạo VN tự nhập thiết bị và sản xuất điện gió, giá bán được đưa ra là 12 xu Mỹ/kWh mới đảm bảo cho doanh nghiệp, tức phải lên tới khoảng 2.400 đồng/kWh.

Chúng tôi tổ chức thẩm định, tính toán rất kỹ, thì mức giá có thể chấp nhận để phát triển điện gió cũng phải ở mức trên 11 xu Mỹ/kWh. Giá bán điện của VN hiện vẫn ở mức khoảng 5 xu Mỹ/kWh nên rất khó cho các nhà máy điện gió.

Rất may là Chính phủ vừa yêu cầu EVN phải mua điện từ các nhà sản xuất điện gió cộng với Nhà nước hỗ trợ nữa. Điều này động viên lớn cho các nhà máy điện gió vì có doanh nghiệp vẫn đang phải bán điện gió cho EVN với mức thấp, thậm chí chỉ ghi côngtơ, chưa được thanh toán tiền. Tuy nhiên, mức trên vẫn khiến doanh nghiệp lỗ, chưa thực khuyến khích phát triển mạnh. Và cũng mới chỉ có điện gió được tạo cơ chế giá như thế.

Điện mặt trời suất đầu tư còn lớn hơn, đắt hơn, có thể lên tới 7-8 triệu USD/MW, công nghệ Trung Quốc cũng phải 2-3 triệu USD/MW, nhưng ta vẫn chưa có cơ chế đặc thù như điện gió. Tôi nghĩ trước sau Nhà nước cũng phải ban hành cơ chế mới có thể huy động phát triển NLTT mạnh được.

Chúng ta rất giàu tiềm năng về cả điện mặt trời, điện gió, sinh khối… Tuy nhiên, trước mắt điện gió có thể phát triển mạnh. Chúng ta mới công bố tổng tiềm năng sản lượng điện gió, nhưng chúng ta chưa có khảo sát cụ thể, đưa ra bản đồ để kêu gọi đầu tư. Hiện các nhà đầu tư muốn đầu tư điện gió phải tự đi khảo sát, tìm địa điểm. Nếu chúng ta có khảo sát, đánh giá toàn diện sẽ tốt hơn nhiều.

* Vẫn có xu hướng muốn làm nhà máy nhiệt điện vì rẻ và dễ về giá hơn nên nếu Quy hoạch điện VII không có điều chỉnh thì khả năng phát triển mạnh NLTT là khó?

- Thế giới đang phát triển rất mạnh NLTT, nên tôi nghĩ phát triển NLTT sẽ là xu hướng chung mà VN phải theo. Tôi tin VN sẽ tiến theo hướng như vậy và nên như vậy. Có điều mục tiêu NLTT trong Quy hoạch điện VII còn thấp quá. Tất nhiên, Quy hoạch điện VII được xem là bớt “lãng mạn” và có tính thực tế cao hơn sau khi đã rút kinh nghiệm từ Quy hoạch điện VI nên có thể một số mục tiêu đưa ra có khiêm tốn. Nhưng trong Quy hoạch điện VII, một số nhà máy nhiệt điện được đẩy lùi lại. Nghĩa là chúng ta đã bắt đầu phải quan tâm nhiều hơn đến các nguồn điện khác ngoài việc sử dụng năng lượng hóa thạch ô nhiễm.

Các chính sách hỗ trợ được đưa ra với nhiều quyết tâm như vừa qua chứng tỏ Chính phủ đã quan tâm đến điện gió, NLTT nói chung. Vì vậy, sau 1-2 năm thực hiện Quy hoạch điện VII, nếu thấy nguồn lực khả thi, chúng ta nên xem xét để có thể điều chỉnh mục tiêu phát triển NLTT, đặc biệt là điện gió, điện mặt trời để tập trung nguồn lực, có hành động mạnh mẽ hơn.

 

Trong Quy hoạch điện VII, tổng công suất nguồn điện gió từ mức không đáng kể hiện nay tăng lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020, khoảng 6.200 MW vào năm 2030; điện năng sản xuất từ nguồn điện gió chiếm tỉ trọng từ 0,7% năm 2020 lên 2,4% vào năm 2030.

 

 

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, VN là nước có tiềm năng gió lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Hơn 39% tổng diện tích VN được ước tính có tốc độ gió trung bình hằng năm lớn hơn 6m/giây ở độ cao 65m, tương đương với tổng công suất 512GW. Hơn 8% diện tích được xếp vào loại có tiềm năng gió rất tốt.

(Nguồn: TrueWind Solutions, 2000. Bản đồ tài nguyên gió Đông Nam Á)

 

Thực hiện: LÊ NGUYÊN MINH – CẦM VĂN KÌNH – TRẦN VŨ NGHI

(tuoitre.vn)

Nguyên PTT Vũ Khoan: Phẩm chất đầu tiên: sống tử tế

SGTT.VN – Vào thời điểm đã có thể thảnh thơi sau khi rời khỏi chính trường, có thể bình tĩnh chiêm nghiệm cuộc đời, mở rộng cánh cửa và lắng nghe những ngọn gió thời cuộc thổi qua căn nhà yên tĩnh của gia đình, thì ông lại thấy mình phải làm gì đó, vì không thể quay lưng với cuộc sống.

 

[caption id="" align="alignnone" width="322" caption="Nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan"][/caption]

 

Ông hầu như ít khi từ chối những cuộc gặp mặt và giao lưu với thế hệ trẻ?

Có thể nói, công việc thú vị nhất của tôi hiện nay là tiếp xúc thanh niên, sinh viên, học sinh. Điều đó giúp tôi có thêm hiểu biết và nhất là cảm nhận được hơi thở của cuộc sống… Thế hệ trẻ ngày nay có kiến thức rộng, cởi mở, mạnh dạn hơn thế hệ chúng tôi nhiều; cách suy nghĩ, lập luận cũng thẳng thắn hơn, không vòng vo hay né tránh, nhất là trên các vấn đề hóc búa. Những lợi thế đó của các bạn trẻ luôn cuốn hút tôi. Mỗi lần gặp gỡ, đối thoại với các cháu, tôi đều thấy phấn chấn, vui vẻ như mình trẻ lại và tin tưởng hơn vào tương lai của đất nước.

Tiếp cận thế hệ trẻ là tiếp cận với tương lai. Thế hệ trẻ giúp mình “bắt mạch” được nhịp sống, mang lại cho mình sức trẻ, khiến mình cảm thấy chưa bị cuộc sống đào thải và như vậy, đỡ tủi thân hơn!

Trong rất nhiều vấn đề được đặt ra tại các cuộc đối thoại giữa hai thế hệ, mối quan tâm nào của thế hệ tương lai đồng thời cũng là mối quan tâm đặc biệt của riêng ông?

Vấn đề sử dụng người tài. Theo tôi nghĩ, có thể nhìn vấn đề này từ bốn góc độ. Thứ nhất, phải trả lời được câu hỏi: có thật lòng cần họ không và cần những loại nhân tài nào? Có người nói, khi đã cầu hiền tức là thừa nhận mình dốt, vậy điều trước hết là phải chấp nhận người ta giỏi hơn mình cái đã. Thứ hai, đã cầu hiền thì phải tạo môi trường, điều kiện cho người ta cống hiến bằng cách giao cho họ những công việc có giá trị đích thực, đòi hỏi gay gắt và đánh giá đúng công việc họ làm vì người tài thích được đòi hỏi, thậm chí đòi hỏi khắt khe. Thứ ba, cần có sự đãi ngộ thoả đáng. Người tài thường không đòi hỏi vật chất nhiều đâu mà điều quan trọng hơn với họ là sự tôn trọng. Thứ tư, phải rộng lượng vì người tài hay có tật. Nếu vì tật nhỏ mà rũ bỏ thì thật hoài phí – những tật không ảnh hưởng tới công việc, không trái với nhân cách làm người, chẳng hạn tật hay cãi. Các cuộc họp mà không có người cãi thì chán lắm! Đã dám dùng người tài thì phải biết chịu nghe họ. Ai cũng vậy, có chịu nghe người khác thì mới trưởng thành được, vì làm gì có ai thông tường mọi thứ?

Một khía cạnh nữa về nhân tài còn ít được đề cập đúng mức. Đó là bản thân nhân tài phải có hoài bão, phải dấn thân, ham mê học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, sống lương thiện chứ không nên chỉ đòi hỏi một chiều ở xã hội. Ai cũng thế thì lấy đâu ra nhân tài để làm cho đất nước giàu mạnh, từ đó có khả năng đãi ngộ xứng đáng nhân tài?

Từ một phiên dịch trẻ tuổi, ông đã sớm được thừa nhận, điều đó có ảnh hưởng đến quan niệm sử dụng người tài của ông sau này?

 

Phải nhận biết và tìm cách triệt phá cái xấu thì cái đẹp, cái tốt mới tồn tại được. Nếu cứ theo đuổi những thứ hoành tráng bề ngoài theo tâm lý vĩ cuồng thì nước ta còn nghèo túng, lạc hậu dài dài…

Tôi không phải là người tài nhưng được người tài sử dụng. Là phiên dịch, tôi được tiếp xúc và học hỏi nhiều ở các vị tiền bối anh minh như Bác Hồ, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Tôi trưởng thành lên được vì đã được giao những công việc khó và được đòi hỏi cao. Vào cuối những năm 1980 thế kỷ trước, khi là vụ trưởng rồi trợ lý bộ trưởng, tôi đã được ông Nguyễn Cơ Thạch lúc đó là phó chủ tịch hội đồng Bộ trưởng kiêm bộ trưởng Ngoại giao giao cho nhiều việc “trái khoáy” buộc tôi phải vượt qua chính mình. Những thử thách ấy buộc tôi phải học tập, nghiên cứu, đi vào cuộc sống, từ đó trưởng thành; những kiến thức và kinh nghiệm thâu lượm được đã giúp tôi đỡ lúng túng khi giữ các cương vị lãnh đạo trái nghề như thương mại chẳng hạn.

 

Rời chính trường khi đang ở cương vị phó Thủ tướng phụ trách đối ngoại, đang được nhiều người dân kỳ vọng, ông sẽ tiếp tục tham gia công tác lãnh đạo và có nhiều đóng góp lớn cho đất nước, lúc đó tâm trạng ông ra sao?

Đơn giản là đến tuổi thì nên nghỉ, đồng thời mình là cán bộ, đảng viên thì phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định của tổ chức. Mỗi người phải biết lượng sức, đừng bao giờ nghĩ mình là người không thay thế được. Tôi luôn tâm niệm: “Không nên biết cách lên”, nhưng nhất định phải “biết cách xuống” đúng lúc và đúng cách.

Mỗi cá nhân phải biết dừng đúng lúc, đúng cách. Nếu đẻ ra ngoại lệ sẽ sinh lắm chuyện lôi thôi. Người ta phải biết cách sống, không phải mọi điều mình muốn đều có thể.

Tâm thế của ông lúc này? Có hay không cái gọi là “nỗi buồn thế sự”?

 

 

 

Nhà thơ Việt Phương:

“Tôi đã có quá trình lâu dài được biết về anh Vũ Khoan trên nhiều cương vị và thấy đó là một người nhân cách rất tốt và rất có năng lực, giỏi trong công tác đối ngoại và giỏi trong các công việc ở cương vị phó Thủ tướng”.

 

 

Thứ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga:

“Ông hội tụ tất cả những phẩm chất mà người ngoại giao cần có. Một tấm gương tận tuỵ vì công việc, vì sự nghiệp chung. Đặc biệt, bằng con đường tự học, ông thực sự đã trở thành một pho từ điển sống, một bộ óc tư duy sáng tạo. Trong cuộc sống, đó là một người cha, người chú bình dị, chân thành, luôn chia sẻ và sát cánh cùng cấp dưới”.

 

 

Nhà báo Hồ Quang Lợi:

“Với phông kiến thức rộng, hiểu biết sâu sắc về đời sống và các quan hệ quốc tế, các vấn đề ông đề cập bao giờ cũng tiệm cận nhất với bản chất vụ việc. Bản thân ông cũng là một nhà báo, với những bài báo rất có duyên, có bản sắc, văn phong mềm mại. Ông rất cởi mở, thoải mái và luôn là một người bạn thực sự của báo chí”.

Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Mình cứ nói chế độ mình dân chủ hơn triệu lần, mình là lương tri của thời đại… nhưng sự thật thì nhiều việc, nhiều người chưa thể hiện được điều đó. Nhiều người đã đánh mất “gen xấu hổ”. Làm hỏng việc không xin lỗi, không từ chức, ra đường thì chen chúc, phóng uế bậy bạ, thấy hoa đẹp thì vặt bẻ không thương tiếc, người gặp tai nạn thì xông vào hôi của, quan chức thì tham nhũng vơ vét, “văn hoá phong bì” tràn lan, tệ “chạy” lây lan sang mọi lĩnh vực… Do đó có lẽ không nên nói quá nhiều những chuyện cao xa mà hãy “học làm người tử tế” đã. Tôi hay khuyên các cháu thanh niên rằng, trước hết hãy cố nói chứ đừng chửi thề, nhặt rác chứ đừng vứt rác, trồng cây chứ đừng chặt cây, đi chứ đừng chen… Không làm người lương thiện thì khoan nói đến chuyện lý tưởng, hoài bão!

 

Có phải một trong những “phương cách tồn tại” của xã hội hiện nay là… tránh nói chuyện xấu?

Vấn đề này không mới. Bản thân tôi khi đang làm việc cũng đã rất trăn trở. Đâu đâu cũng “tránh nói việc xấu”, sợ “vạch áo cho người xem lưng”, chỉ muốn khen và được khen. Vấn đề là phải nhận biết và tìm cách triệt phá cái xấu thì cái đẹp, cái tốt mới tồn tại được. Nếu cứ theo đuổi những thứ hoành tráng bề ngoài theo tâm lý vĩ cuồng thì nước ta còn nghèo túng, lạc hậu dài dài…

Đi ra thế giới nhiều, nhìn lại, ông đánh giá ra sao về hình ảnh chính khách Việt?

Nói đúng ra thì cán bộ lãnh đạo của ta chủ yếu là cán bộ chính trị, chuyên môn, chưa được bồi dưỡng những kỹ năng của chính khách. Cần phải coi làm chính trị là một nghề, do đó phải đào tạo bài bản: từ cách ăn, cách nói, cách trả lời phỏng vấn, ra quyết định, điều khiển cuộc họp, tiến hành đàm phán… Phải làm sao tạo dựng được “văn hoá chính khách” chứ không thể mang “văn hoá đường phố” vào chính trường được. Đáng buồn là các học viện của ta và toàn bộ nền giáo dục thường không chú trọng việc đào tạo kỹ năng cho nên toàn bộ công, viên chức của ta thiếu tính chuyên nghiệp.

Phẩm chất số một của nhà ngoại giao là gì, thưa ông?

Bên cạnh sự kiên định, khéo léo là sự chân thành. Kiên quyết, sắc sảo đến mấy vẫn nên chân thành, chân thành cả khi không đồng tình với đối tác. Sự xảo trá chẳng lừa được ai, chỉ tạo ra tình trạng mất lòng tin.

Ông từng nói rằng, hiện nay công tác đối ngoại rất cần “trái tim nóng và cái đầu lạnh”. Với vấn đề chủ quyền biển đảo, cách ứng xử nào ông cho là thích hợp?

Người ta nói “không có bạn vĩnh viễn, không có thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn”. Do đó mình phải xác định cho thật rõ lợi ích của mình ở đâu. Lúc này lợi ích tối cao của ta là giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đi đôi với yêu cầu duy trì môi trường quốc tế thuận lợi để thực hiện dân giàu, nước mạnh. Hai lợi ích ấy gắn bó mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, không thể xem nhẹ mặt nào. Làm sao xây dựng được nếu chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bị xâm hại; ngược lại làm sao bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được nếu không tranh thủ được môi trường thuận lợi để phát triển? Khi làm bạn với ai cũng nên hiểu rằng họ có lợi ích riêng, khi lợi ích của họ và của mình song trùng thì gắn kết với nhau, ngược lại thì họ vẫn lo cho lợi ích bản thân thôi. Nghe thì có vẻ thực dụng song cuộc sống là vậy, ta cũng đã có nhiều bài học về mặt này. Nói thì dễ nhưng làm không dễ, do đó, hơn lúc nào hết, cùng với bầu nhiệt huyết cần cái đầu lạnh, sự tỉnh táo, thông minh, khôn khéo.

Về đối nội, đây là thời điểm nợ nần nhiều, sản xuất hầu như rất ít phát triển, tài nguyên cạn kiệt… ông có cho rằng tình hình trên hoàn toàn có thể điều chỉnh được trong nay mai?

Tôi thấy gần đây thường xuyên có quá nhiều các cuộc hội thảo, các bài phát biểu về “tái cơ cấu nền kinh tế” đến mức hoa cả mắt, ù cả tai! Nhưng cơ cấu thế nào và nhất là bằng cách gì thì vẫn chưa rõ. Tôi rất ngại căn bệnh nói theo thời thượng, theo phong trào nhưng nội hàm mỗi người hiểu một kiểu, cách làm càng tù mù hơn. Ví dụ gần đây có “phong trào” phát triển công nghiệp phụ trợ nhưng không rõ phụ trợ cho cái gì, hiệu quả ra sao, tiêu thụ ở đâu, giá thành thế nào… Không khéo sẽ lại hỏng việc. Nghe nói một trong ba nhiệm vụ cải tổ Vinashin là phát triển công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu, nhưng nếu sản phẩm phụ trợ ấy làm ra chỉ cung cấp cho Vinashin hay công nghiệp đóng tàu cả nước đi nữa thì dung lượng thị trường cũng không lớn, do đó, giá thành rất cao và sẽ lỗ nặng. Muốn giá thành hạ thì phải sản xuất trên quy mô đủ lớn, len được vào chuỗi giá trị toàn cầu mới hy vọng có hiệu quả. Đó là còn chưa nói đến chất lượng!

Giữa các vấn đề kinh tế và xã hội, nỗi lo của ông “bên nào nặng hơn”?

Hai mặt đó gắn bó mật thiết với nhau song theo tôi, vấn đề kinh tế không đáng lo bằng các vấn đề xã hội. Hiện có nhiều điều bất ổn quá. Những khó khăn về kinh tế đã dội vào xã hội, vào lòng người, dẫn đến hành vi con người có khi cực đoan… Những bất ổn về tâm lý xã hội ấy có thể gây tác động xấu trở lại nền kinh tế.

Ông có cho là ở giai đoạn “lửa thử vàng” hiện nay, các điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể, đã hoặc đang thúc đẩy việc hình thành, xuất hiện những phẩm chất mới của dân tộc Việt?

 

Cần phải coi làm chính trị là một nghề, do đó phải đào tạo bài bản: từ cách ăn, cách nói, cách trả lời phỏng vấn, ra quyết định, điều khiển cuộc họp, tiến hành đàm phán… Phải làm sao tạo dựng được “văn hoá chính khách” chứ không thể mang “văn hoá đường phố” vào chính trường được.

Phẩm chất dân tộc là một phạm trù rộng lớn và phức tạp. Có những phẩm chất được hun đúc, tích tụ qua hàng ngàn năm, chắt lọc qua nhiều thế hệ. Theo dòng chảy của thời gian và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước lẫn trên thế giới thay đổi không ngừng đã nảy sinh những phẩm chất mới hoặc làm thay đổi những phẩm chất vốn có. Thật là khó để xác định được những phẩm chất mới của dân tộc lúc này, có lẽ đây là một đề tài đáng nghiên cứu nghiêm túc. Và phải có những phẩm chất vĩnh cửu, trong đó phẩm chất đầu tiên cần có là sống tử tế, hướng thiện, diệt ác, hay nói nôm na là “người phải ra người”.

 

Từng gọi mình là “tội đồ” vì đã tham gia Chính phủ mà chưa đóng góp được hữu hiệu vào việc hạn chế, ngăn chặn tình trạng hao công tốn của khi đầu tư công không hiệu quả. Lúc này, điều gì khiến ông nuối tiếc nhất?

(trầm ngâm) Giá đừng để mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng và kéo dài thì tốt. Về một số mặt, kinh tế vĩ mô chúng ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, bất ổn khá nghiêm trọng. Ở đây có nguyên nhân từ bên ngoài, có nguyên nhân sâu xa của nền kinh tế đã tồn tại từ lâu, có nguyên nhân trực tiếp do điều hành. Về đối ngoại, chúng ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Những khó khăn ấy đương nhiên gây ra sự phân tâm về chuyện này hay chuyện khác. Lạc quan nhẹ dạ thì không nên nhưng bi quan quá mức cũng chẳng phải, vì dù sao “lực” và “thế” của nước ta đã khác trước nhiều rồi. Hơn thế nữa, người Việt ta mỗi khi gặp khó khăn, thử thách thì đều vượt qua được theo tinh thần “cái khó ló cái khôn”. Việc “dám” điều chỉnh nghị quyết Đại hội, giảm mục tiêu tốc độ tăng trưởng để lấy lại cân đối vĩ mô là một biểu hiện đáng hoan nghênh về “cái khôn” đã hé lộ!

Cảm ơn ông!

THỰC HIỆN KIM HOA
CHÂN DUNG HỘI HOẠ HOÀNG TƯỜNG

(sgtt.vn)

‘Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa’

- “Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa…Trên thế giới, trong lịch sử nhân loại, chỉ một vài người có khả năng tư duy và tư tưởng kiệt xuất mới có thể đưa ra được một triết lý giáo dục.”- TS Phạm Anh Tuấn, dịch giả tác phẩm “Dân chủ và giáo dục” nhấn mạnh.

GS Chu Hảo tại buổi giới thiệu cuốn sách ngày 28/10

Những mái đầu bạc trắng theo cải cách giáo dục

Có thể gặp được ở buổi giới thiệu cuốn sách “Dân chủ và giáo dục” của triết gia thực dụng luận và nhà giáo dục người Mỹ lừng danh John Dewey (NBX Tri thức) gương mặt quen thuộc của các nhà khoa học lâu nay kiên trì với ý tưởng đổi mới giáo dục như GS Vũ Thế Khôi, GS Chu Hảo, GS Phạm Khiêm Ích, nhà giáo Phạm Toàn và các thành viên nhóm Cánh Buồm, …Hầu hết các giáo sư, mái tóc đã bạc trắng nhưng khi nói về cải cách giáo dục, giọng nói vẫn sang sảng và đầy cảm xúc.

Trong khán phòng chỉ khoảng hơn 30 người có gương mặt của một số bạn trẻ. GS Chu Hảo nhân dịp này điểm danh lại những đề án cải cách giáo dục của các trí thức lớn từng đề xuất.

Mở đầu là seminar “hướng về giáo dục” khởi xướng năm 2004, tập hợp 23 nhà khoa học, giáo dục và văn hóa, hầu hết là Việt kiều ở Mỹ, Pháp, Nhật, Bỉ, Úc…do GS Hoàng Tụy đứng đầu.

Năm 2005, đề án do GS Chu Hảo và NXB Tri thức tổ chức nghiên cứu trong một năm, với 18 chuyên đề giáo dục và 4 trang kiến nghị được viết bởi những nhà khoa học đầu ngành.  GS Nguyễn Kế Hào phụ trách phần giáo dục tiểu học, giáo dục trung học là GS Hoàng Duyên Hải, GD dạy nghề là GS Phạm Danh Ánh, GD đại học là GS Nguyễn Xuân Hãn.

Kiến nghị thứ 3 là của một nhóm các nhà khoa học Việt Kiều, đứng đầu là các trí thức nổi tiếng Vũ Quang Việt, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Ngọc Giao… được sự khuyến khích và chỉ đạo của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Vào những năm 2007-2009, nhóm của Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, lãnh đạo cũ của ngành giáo dục cũng đã đề nghị một chương trình cải cách.

Cho đến năm 2009, một bản kiến nghị với tinh thần canh tân giáo dục của GS Hoàng Tụy và một nhóm trí thức lại tiếp tục gửi lên quốc hội, chính phủ.

Nhưng, sự rộn ràng của những kiến nghị cải cách giáo dục này được GS Chu Hảo kết luận bằng một thông tin khiến người nghe thở dài:

“Chỉ có Bộ GD-ĐT được phép nghiên cứu triết lý giáo dục thôi, chỉ mỗi Bộ mới được phép nghiên cứu SGK thôi. Chính điều ấy làm tiêu diệt khả năng sáng tạo của rất nhiều tầng lớp, bỏ phí nguồn chất xám của xã hội” – Phạm Anh Tuấn, dịch giả “Dân chủ và giáo dục”

“Cho đến bây giờ, không có một trả lời nào của cấp cao nhất lẫn Bộ GD-ĐT. Bộ GD không bao giờ đối thoại với chúng tôi, không bao giờ trả lời, không bao giờ tranh luận.”

Ngần ấy đề án giáo dục đã rơi vào sự thờ ơ, theo GS Vũ Thế Khôi, bởi vì “chưa bao giờ có một cuộc cải cách thực sự”.

Nếu tiếp tục như thế, những cố gắng của GS Hồ Ngọc Đại suốt 30 năm qua hay của nhóm Cánh Buồm trong những năm gần đây sẽ mãi mãi là những thử nghiệm, những tài liệu để tham khảo mà thôi.

Điều ấy đồng nghĩa với độc quyền trong khoa học giáo dục, điều mà TS Phạm Anh Tuấn, người dịch John Dewey ra tiếng Việt chia sẻ trong bức xúc:

“Chỉ có Bộ GD-ĐT được phép nghiên cứu triết lý giáo dục thôi, chỉ mỗi Bộ mới được phép nghiên cứu SGK thôi. Chính điều ấy làm tiêu diệt khả năng sáng tạo của rất nhiều tầng lớp, bỏ phí nguồn chất xám của xã hội.”

GS Phạm Khiêm Ích: “Chúng ta đã hiểu về John Dewey và thế giới quá lạc hậu”

“Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa”

Câu chuyện về Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu được chia sẻ trong bối cảnh Việt Nam vẫn đang loay hoay đi tìm triết lý giáo dục.

Ông đã nói: “Nếu Singapore đối mặt với vấn đề nào đó thì chắc chắn ở đâu đó trên trái đất này, người ta đã từng đối mặt với vấn đề tương tự. Tôi sẽ tìm đến họ và hỏi kinh nghiệm là gì. Nhưng tôi sẽ không áp dụng nó một cách máy móc mà sẽ mang kinh nghiệm đó về Singapore và sẽ phải sửa nó như thế nào để phù hợp với hoàn cảnh của Singapore.”

“Thôi đừng cãi nhau về triết lý giáo dục nữa. Chúng ta đang bỏ rất nhiều tiền của, thời gian để nghiên cứu triết lý giáo dục nhưng liệu có mang lại hiệu quả gì không? Thực ra, trên thế giới, trong lịch sử nhân loại, chỉ một vài người có khả năng tư duy và tư tưởng kiệt xuất mới có thể đưa ra được một triết lý giáo dục.”- TS Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.

“Trong khi đó, những tư tưởng lừng danh như triết lý giáo dục của John Dewey, với “Dân chủ và Giáo dục” là biên bản đánh dấu cuộc chia tay vĩnh viễn với nhà trường cổ truyền, suốt 100 năm qua vẫn tiếp tục được học hỏi và phát triển ở hầu hết các nhà trường phổ thông hiện đại trên thế giới, không biết những người đứng mũi chịu sào của ngành giáo dục đã từng quan tâm nghiên cứu hay chưa?

Tôi sợ rằng họ không có thời gian, không có thói quen đọc sách hoặc không đủ năng lực về triết học để có thể đánh giá đúng về nó. Nên những cuốn sách như thế này không đến được tay những người đáng ra cần phải đọc nhất” -  Một cán bộ từng công tác nhiều năm ở Bộ GD-ĐT và các tổ chức phi chính phủ thể hiện sự tiếc nuối.

Số báo Thanh Nghị giới thiệu về John Dewey của cụ Vũ Đình Hòe

Thực tế, tư tưởng triết học của John Dewey không có gì xa lạ với các nhà khoa học giáo dục Việt Nam.

GS Vũ Thế Khôi cho biết, ngay từ năm 1941, cụ thân sinh ra ông là GS Vũ Đình Hòe đã viết bài giới thiệu về John Dewey trên tờ báo nổi tiếng của giới trí thức lúc bây giờ là tờ Thanh Nghị, bằng những nhận xét hết sức xác đáng với tiêu đề: “Một lối dạy hóa theo cá tính”, nhấn mạnh ý tưởng “đưa nhà trường sát nhập vào hoàn cảnh xã hôi”, tạo cho trẻ thơ niềm vui thích khi đến trường.

John Dewey bị hiểu sai ngay trong chính“Từ điển Bách khoa Việt Nam” tập 1, Hà Nội, 1995 trang 82 vì thói quen làm khoa học một cách “lôm côm” của những người biên soạn được GS Phạm Khiêm Ích chỉ ra. Ông gọi đó là một cách hiểu “vô cùng lạc hậu” về thế giới, về John Dewey.

Điều ấy cũng có nghĩa là, trong thời gian cụ Vũ Đình Hòe làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, đề án giáo dục mà cụ và các trí thức đưa ra trình Quốc hội, chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất có thể đã in đậm dấu ấn của tư tưởng John Dewey. Tiếc rằng, vì hoàn cảnh lịch sử, cụ Vũ Đình Hòe không còn tiếp tục cương vị Bộ trưởng Giáo dục, ý tưởng của ông cũng bị bỏ lỡ.

Nhưng đáng lưu tâm là, John Dewey bị hiểu sai ngay trong chính “Từ điển Bách khoa Việt Nam” tập 1, Hà Nội, 1995 trang 82 vì thói quen làm khoa học một cách “lôm côm” của những người biên soạn được GS Phạm Khiêm Ích chỉ ra. Ông gọi đó là một cách hiểu “vô cùng lạc hậu” về thế giới, về John Dewey.

“Các bạn trẻ đừng tiếp tục cách làm khoa học như thế này. Chúng ta phải đầu tư hơn nữa để có một lý luận hiện đại, xuất phát từ chính thực tiễn cuộc sống của đất nước, dân tộc ta trong hiện tại”- Các GS nhắn nhủ những người trẻ trong buổi gặp gỡ.

Nhiều bạn trẻ bắt đầu thể hiện nỗi băn khoăn muốn được tìm hiểu, học hỏi về giáo dục nhưng không có điều kiện để tiếp xúc với những “người già”, giàu kinh nghiệm. Các bạn bộc lộ với các GS và NXB Tri thức một mong muốn: sẵn sàng bắt tay với NXB để tổ chức những buổi gặp gỡ với số lượng đông đảo hơn.

 

Phát ngôn&Hành động: Tượng đài, đường cong và triết lý giáo dục

Vị trí tượng đài của bà mẹ Việt Nam Anh hùng, câu chuyện “nhầm chỗ” liên quan đến làng giải trí, và cuộc khủng hoảng triết lý giáo dục là những lát cắt trong Phát ngôn & Hành động tuần này.

Việt Nam vẫn đang đi tìm triết lý giáo dục?

Trong khuôn khổ một buổi sáng (19/8), các nhà giáo dục mới chạm tới phần khái niệm vốn bị coi là quá rộng lớn và có thể gây tranh luận trái chiều về triết lý giáo dục Việt Nam.

(vietnamnet.vn)