Archive for November, 2011

Người Việt Nam viết tên lên vũ trụ

FSpace team members

http://fspace.edu.vn/?page_id=107

Trưởng nhóm Vũ Trọng Thư

http://www.facebook.com/thuvt

 

VnExpress – Những người yêu thích khoa học không gian có thể để lại danh tính của mình cũng như gửi thông điệp, lời nhắn lên vũ trụ thông qua vệ tinh do Viện nghiên cứu công nghệ FPT chế tạo.

Vệ tinh trên mang tên F-1 CubeSat. Người gửi truy cập vào địa chỉ:http://fspace.edu.vn/?page_id=31, sau đó điền tên, e-mail và lời nhắn của mình. Tất cả tên và lời nhắn gửi qua trang web sẽ được ghi vào một thẻ nhớ microSD. Thẻ nhớ này sẽ được gắn lên trên vệ tinh F-1 trước khi gửi ra nước ngoài để thử nghiệm lần cuối. Sau đó, tất cả sẽ được chuyển ra bãi phóng, lắp ghép lên tên lửa được đẩy và phóng lên quỹ đạo.

Theo anh Vũ Trọng Thư, Trưởng nhóm FPT Space thuộc viện nói trên, đây là một việc làm có ý nghĩa biểu tượng, đem lại niềm vui, niềm hy vọng vào tương lai cho những người tham gia. “Không gian vũ trụ không còn quá xa xôi, con người hoàn toàn có khả năng làm được những điều tưởng như không thể nếu có quyết tâm”, anh chia sẻ.

Hiện FPT Space gấp rút hoàn thành việc đàm phán với đối tác nước ngoài về việc thuê phóng F-1. Dự kiến, F-1 sẽ được phóng vào tháng 2/2012.

Vệ tinh F-1 được FSpace bắt tay vào nghiên cứu và chế tạo từ năm 2009, với mục tiêu là phải “sống” được trong không gian ít nhất một năm và phát tín hiệu về trái đất, chụp được ảnh độ phân giải thấp của trái đất và tốc độ truyền dữ liệu từ vệ tinh về trái đất đạt 1.200 bit/giây.

Thử nghiệm rung động cho vệ tinh F-1. Ảnh: FSpace.
Thử nghiệm rung động cho vệ tinh F-1. Ảnh: FSpace.

Nếu các yêu cầu này được hoàn thành, vệ tinh mới được thử nghiệm các tính năng phức tạp hơn như chụp ảnh độ phân giải 1 megapixel hay tốc độ truyền tin được tăng lên 9.600 bit/giây…

Trên thế giới, việc chế tạo vệ tinh rất phát triển, nhưng với Việt Nam đây vẫn là lĩnh vực rất mới. Do đó, nhiều chuyên gia trong ngành nhận định, nếu thành công, FPT sẽ trở thành doanh nghiệp tư nhân đầu tiên trong nước chế tạo thành công vệ tinh nhỏ, mở ra hướng phát triển ngành khoa học và công nghiệp vũ trụ của Việt Nam.

Trước đó, tháng 4/2008, vệ tinh Vinasat-1 của Việt Nam đã được thuê phóng thành công lên quỹ đạo. Đầu năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để VNPT làm chủ đầu tư dự án Vinasat-2 (tổng đầu tư 290-350 triệu USD), dự kiến phóng lên quỹ đạo năm 2012.

Ngành khoa học và công nghiệp vũ trụ ở Việt Nam đang có tốc độ phát triển mạnh. Trong báo cáo tổng kết 5 năm thành lập Viện Công nghệ vũ trụ, tiến sĩ Doãn Minh Chung, Viện trưởng Công nghệ vũ trụ (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), cho biết, định hướng hoạt động của Viện đến năm 2020 sẽ làm chủ công nghệ nhỏ quan sát trái đất, khai thác các dịch vụ gia tăng về ứng dụng dữ liệu vệ tinh; đưa ứng dụng công nghệ vào phục vụ rộng rãi và thường xuyên các nhu cầu kinh tế – xã hội trong sản xuất, dịch vụ, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng,… đạt tầm cỡ trung bình khá khu vực.

Đến năm 2030, Viện sẽ tự thiết kế và chế tạo vệ tinh nhỏ quan sát trái đất, góp phần đưa công nghệ vũ trụ trở thành ngành công nghiệp quan trọng của nước nhà, đưa trình độ KHCN về vũ trụ của Việt Nam đạt tầm cỡ ngang các viện nghiên cứu hàng đầu về công nghệ vũ trụ của các nước và khu vực.

Thanh Nga

(C) VnExpress

 

GS Chu Hảo với “Văn hóa sự kiện nhân vật” – VTV

“Đã là trí thức phải có hai phẩm chất quan trọng: độc lập tư duy và năng lực phản biện xã hội và dám chịu trách nhiệm về các ý kiến phản biện của mình.” – GS Chu Hảo

Thay đổi số phận bằng giáo dục

Một số đất nước hoàn toàn không có tài nguyên nhưng vẫn trở nên giàu có và một số khác, tài nguyên chỉ ở mức vừa vừa, cũng đã tiến xa trên con đường đi đến thịnh vượng. Tại sao?
Chiến lược phát triển của mỗi quốc gia ảnh hưởng rất nhiều đến số phận của quốc gia đó. Hãy tìm hiểu về Singapore và Malaysia, đã và đang vươn lên nhờ có chiến lược phát triển đúng đắn.
Tập trung cho người tài và giáo dục
Singapore, với diện tích 660 km2 và dân số gần 5 triệu người, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, đến nước ngọt cũng phải nhập khẩu. Năm 1960, thu nhập bình quân đầu người của Singapore chỉ vào khoảng 427 USD/năm. Thế nhưng vào năm ngoái, thu nhập bình quân đầu người của hòn đảo sư tử đã đạt khoảng 40.000 USD/năm, biến đất nước này thành quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao hàng thứ hai châu Á, sau Nhật, nằm trong nhóm nước tiên tiến, văn minh và giàu có nhất trên thế giới. Nhờ đâu đảo quốc này lại tiến nhanh đến như vậy?

Ngay từ khi giành được độc lập vào năm 1965, Chính phủ Singapore đã tung ra chiến lược “Trọng dụng người tài”. Những nhân vật nắm giữ vị trí trọng yếu đều tốt nghiệp các đại học danh tiếng thế giới. Ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore, tốt nghiệp Khoa Luật, Đại học Cambridge (Anh), từng phát biểu: “Lãnh đạo xấu sẽ đuổi người tốt, người giỏi, không cho họ giữ những chức vụ quan trọng”.

Chiến lược đặc biệt quan trọng của đảo quốc sư tử là tập trung đầu tư cho giáo dục, chất xám cao cấp.
Giáo sư Mỹ Dave Ulrich, người được quảng cáo là nhà quản trị nhân sự số một thế giới, khi diễn thuyết tại TP.HCM (hôm 29.9.2011), đã cho rằng Singapore là “một điển hình về đào tạo, phát triển và sử dụng người tài đáng được học hỏi”.

Ngoài việc sử dụng người tài của đất nước, quốc gia này còn tìm cách thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới. Cố vấn kinh tế trước của ông Lý Quang Diệu (khi ông giữ chức Thủ tướng) là Giáo sư Albert Winsemius, người Hà Lan. Và cũng chính các chuyên gia Liên hiệp Quốc đã góp công quy hoạch Singapore ra hình ra dạng như ngày nay.

Các đại học công lập Singapore còn mời giáo sư thuộc nhóm Ivy League đến giảng dạy. Đây là nhóm 8 đại học lâu đời, có hệ thống, triết lý giáo dục và chất lượng đào tạo hàng đầu của Mỹ, trong đó có các trường như Harvard, Yale, Princeton.

Một kinh nghiệm khác trong phát triển của Singapore là sử dụng tiếng Anh, dẫu theo kiểu Singapore – Singlish, với dấu nhấn hơi ngược với tiếng Anh chuẩn cùng một số từ ngữ địa phương và cả ngữ pháp tiếng Hoa. Việc dùng tiếng Anh đã giúp cho nước này thêm thịnh vượng. Ông Lý Quang Diệu từng nói: “Nắm vững tiếng Anh, đó là chìa khóa để giành lấy tri thức, công nghệ cao của phương Tây”.

Nhưng có lẽ chiến lược đặc biệt quan trọng của đảo sư tử là tập trung đầu tư cho giáo dục, chất xám cao cấp. Các đại học công Singapore đào tạo cả sinh viên trong nước lẫn quốc tế. Sinh viên quốc tế, nếu nhận tài trợ của Chính phủ Singapore và vay tiền ăn học của các ngân hàng Singapore sẽ phải làm việc tối thiểu 3 năm cho 1 công ty đăng ký hoạt động tại Singapore sau khi tốt nghiệp. Quả là cách khôn khéo để thu hút thêm chất xám.

Tám đại học danh tiếng nước ngoài, trong đó có Trường Kinh doanh Chicago, Học viện Kinh doanh INSEAD (Pháp), Trường Nghệ thuật Tisch thuộc Đại học New York, đã mở phân hiệu tại nước này, theo chương trình “Nhà trường Toàn cầu” của Chính phủ Singapore.

Đại học Quốc gia Singapore hiện đã đứng thứ 40 trên danh sách các đại học tốt nhất thế giới theo bình chọn của tạp chí Anh uy tín Times Higher Education, còn Đại học Công nghệ Nangyang thì hàng thứ 169.

Cho đến tháng 8 năm nay, Singapore mới cho mở thêm đại học công thứ tư: Đại học Công nghệ và Thiết kế. Đây là đại học nước ngoài đầu tiên có quan hệ hợp tác chặt chẽ về học thuật với Học viện Công nghệ Massachusetts được cho là nổi tiếng nhất nước Mỹ trong đào tạo các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ.

Malaysia cũng tập trung cho giáo dục

Malaysia, láng giềng của Singapore, cũng có chiến lược tập trung vào giáo dục. Đặc biệt là đào tạo khoa học – công nghệ cao, trong đó có công nghệ thông tin. Ngành này đã được đầu tư một cách hiện đại và đồng bộ, trong đó có đầu tư và khuyến khích sử dụng rộng rãi máy vi tính.

Từ năm 1996, Malaysia đã cho mở thêm các trường đại học tư nhân và đại học nước ngoài vừa để thu hút sinh viên trong nước, vừa nhằm lôi kéo sinh viên các nước Đông Nam Á khác. Quốc gia này đang mong muốn số lượng sinh viên quốc tế tại đây tăng lên mức 100.000 người.

Hiện nay, có ít nhất 4 đại học Úc và Anh đã thành lập chi nhánh tại Malaysia gồm Đại học Monash, Đại học Công nghệ Curtin, Đại học Swinburne và Đại học Nottingham.

Malaysia đặc biệt nhấn mạnh đến chất lượng đào tạo cao với chi phí vừa phải, rẻ hơn đến 2/3 so với Singapore. Ông Morshidi Sirat, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia về Giáo dục Đại học tại Đại học Sains Malaysia, cho biết sinh viên Việt Nam và Thái Lan đang là mục tiêu mà các đại học Malaysia nhắm đến.

Malaysia cũng chú trọng đào tạo tiếng Anh và ngôn ngữ quốc tế này đã được phổ cập từ cấp trung học cơ sở đến đại học. Hầu hết các ngành đào tạo khoa học – công nghệ tại đây đều sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy, theo giáo trình của các đại học Anh và Mỹ.

Malaysia còn tập trung vào các ngành công nghệ cao. Theo chương trình “Tầm nhìn 2020” của Chính phủ, thực hiện từ năm 1991, nền kinh tế phụ thuộc nông nghiệp sẽ phải chuyển sang nền kinh tế với sản xuất công nghiệp, dịch vụ là chủ đạo, trong đó phát triển các công nghiệp sử dụng kỹ thuật cao, hạn chế các công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Qua đó sẽ biến Malaysia thành một quốc gia mới công nghiệp hóa.

Đến tháng 5.2009, Thủ tướng Najib Tun Razak của Malaysia công bố thêm 1 kế hoạch phát triển đất nước mang tên “Mô hình Kinh tế mới”. Mục tiêu của kế hoạch là thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi kinh tế để Malaysia gia nhập nhóm nước có thu nhập cao và tăng trưởng có chất lượng vào năm 2020, bằng cách tăng tiền lương và năng suất của người lao động thông qua việc thúc đẩy công nghiệp tri thức và đầu tư của nước ngoài.

Chính phủ nước này đã thành lập Thung lũng Sinh học (theo mô hình Thung lũng Công nghệ cao Silicon của Mỹ) và Ban Quản lý Công nghệ Sinh học Quốc gia. Bên cạnh công nghệ sinh học, công nghệ nano cũng được đầu tư mạnh mẽ. Chính phủ Malaysia đang xếp công nghệ nano vào 1 trong số 10 ngành phải ưu tiên phát triển.

Để thúc đẩy công ty tư nhân đầu tư vào công nghệ cao, Chính phủ Malaysia đã giảm thuế cho họ. Các doanh nghiệp công nghệ sinh học, chẳng hạn, có thể được miễn thuế doanh nghiệp và giảm thuế nhập khẩu thiết bị, vật liệu…

Theo ông Razak, khu vực tư nhân sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và Chính phủ chỉ sẽ thực thi các chính sách hỗ trợ cho khu vực này.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Malaysia trước khủng hoảng tài chính Đông Á (năm 1997-1998) đã khá cao: trung bình 6,7%/năm. Trong giai đoạn khủng hoảng, tăng trưởng đã bị âm, nhưng rồi sau đó đã dương trở lại.

Tính đến cuối năm ngoái, thu nhập trên đầu người của Malaysia đã lên hơn 8.000 USD/năm (so với khoảng gần 3.250 USD của năm 1999). Nếu “Mô hình Kinh tế mới” thành công, 15.000 USD là thu nhập trên đầu người mà đất nước này hoàn toàn có thể đạt tới.

Theo Doanh nhân Sài Gòn

(C) DNSG

“Lãng tử” Lê Chí Hiếu

PGS. Lê Chí Hiếu

Senior Lecturer (Associate Professor)

University of Greenwich, UK.

http://www.gre.ac.uk/schools/engineering/contact/staff_directory/Profiles/LeHieu

***

 

Rạng danh tài trí Việt - “Lãng tử” Lê Chí Hiếu

Với nghiên cứu thay thế các mảnh ghép sọ người, Hiếu hi vọng sẽ giúp nhiều người không may bị vỡ hộp sọ

TTXUÂN (25/01/2006) – Tròn 30 tuổi, Lê Chí Hiếu hoàn thành học vị tiến sĩ kỹ thuật thiết kế, chế tạo và kỹ thuật y sinh học tại Học viện Công nghệ châu Á – AIT, Vương quốc Thái Lan.

Một năm sau (2003), Hiếu “ấn nút” kết thúc khóa nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Tổng hợp Cardiff, Xứ Wales – Vương quốc Anh. Hiếu hiện là chuyên gia công nghệ hàng đầu trong lĩnh vực kỹ thuật y sinh học, ít nhất là ở khu vực ASEAN…

Con đường nghiên cứu của Hiếu gây chú ý đặc biệt trong giới khoa học: công nghệ tạo hình và sao chép lại sản phẩm, và hướng mở rộng của nó, công nghệ lập mô hình y sinh học, còn đáng chú ý hơn. Một trong những ứng dụng quan trọng của công nghệ này là chế tạo ra những mảnh ghép sinh học để hàn gắn hộp sọ cho những người không may bị tai nạn thủng hộp sọ; chế tạo những bộ phận cơ thể nhân tạo để thay thế những bộ phận bị hư hỏng của cơ thể con người như khớp gối, xương hàm…

“Thật ra, làm khoa học cứ như là những người lãng tử, cứ đi tìm những gì mà người khác chưa làm hoặc không làm được, rồi lao vào làm ngày làm đêm”.

Hiếu cho biết anh chỉ chế tạo những mảnh ghép sinh học vá hộp sọ bị vỡ đối với những ca khó, vỡ to, bác sĩ ở VN không thể dùng các phương pháp khác làm được. Anh đã giúp được cho 10 bệnh nhân ở VN, với những mẫu thiết kế (miễn phí) gửi về VN qua đường bưu điện. Anh còn tiết lộ đang xin tiền trợ giúp khoảng 100 bệnh nhân nữa.Hiếu lao vào thực hiện khát vọng cháy bỏng với tất cả niềm đam mê khám phá những chân trời mới trong khoa học.

Công nghệ tạo hình và sao chép lại sản phẩm mà anh đang đeo đuổi còn cho phép dựng hình ảnh ba chiều đối với tất cả những vật thể từ mức vi mô (cỡ năm micron) cho đến những vật thể có kích cỡ lớn như nhà cửa, ôtô… Công nghệ này giúp sao chụp hình dạng tất cả các loại sản phẩm công nghiệp rồi dựng lại dưới dạng mô hình ba chiều để phân tích nhằm chế tạo hay phát triển các sản phẩm mới một cách nhanh nhất. Hiếu tự tin: “Nhóm nghiên cứu của chúng tôi là một trong những nơi mạnh nhất trên thế giới về lĩnh vực này”.

“Chàng lãng tử” Chí Hiếu vẫn miệt mài trong phòng thí nghiệm và các dự án mới ở Anh, nhưng anh thú nhận lúc nào lòng cũng vọng về hai tiếng quê hương và một nỗi nhớ. Trong một e-mail gửi về, Hiếu viết: “Những ngày cuối năm, hình như người ta thường nghĩ về mình, về gia đình, về quê hương nhiều hơn”. Trong tám năm sống và làm việc ở nước ngoài, anh đã biết cách nuôi dưỡng tinh thần mình bằng những chuyến về thăm quê nhà, ít nhất một lần trong năm.

Anh thu xếp thời gian để được hòa mình vào cái không khí của những ngày chuẩn bị và đón tết ở quê nhà. “Hạnh phúc nhất có lẽ là được đi các chợ hoa xuân hay hòa vào dòng người trong các phiên chợ quê. Cái hối hả và vất vả của những người lao động vào mùa cuối năm, cái giản đơn của những nét quê, cái hồn nhiên của những buổi sớm mai, như làm người ta thức tỉnh với chính mình, nhận rõ nét mình hơn, để rồi nỗ lực hoàn thiện mình và cảm nhận được cái vĩ đại, cái thiêng liêng của nơi đã sinh ra mình”.

Những chuyến quay về nhà đã giúp anh mạnh mẽ hơn, vững tin hơn. Để nhận ra rằng người Việt mình dù sống ở đâu cũng luôn hướng về Tổ quốc. “Bất cứ ở đâu, ở VN hay ở nước ngoài, chúng ta cũng bắt gặp một tâm hồn và một tinh thần Việt, dũng cảm, mạnh mẽ và tràn đầy trí tuệ ở thế hệ trẻ hôm nay”.

QUỐC THANH

(C) tuoitre.vn

 

TS Lê Chí Hiếu và công nghệ mô hình y-sinh học

 

TTCN (25/06/2005) – Theo TS Lê Chí Hiếu, thuộc Trung tâm Công nghệ chế tạo – Trường ĐH Tổng hợp Cardiff (Xứ Wales, Vương quốc Anh), anh và nhóm nghiên cứu của mình tại Trung tâm nói trên đã thành công trong Công nghệ lập mô hình y sinh học – Biomedical Modelling.

Công nghệ này cho phép lập mô hình ba chiều các bộ phận của cơ thể người dựa theo hình ảnh y học như ảnh chụp cắt lớp CT và tạo hình lại các bộ phận đó. Từ đó, người ta có thể tạo ra các mảnh ghép thay thế cho cơ thể người trong trường hợp cần thiết như vá lại xương sọ, ghép lại xương cho người bị tai nạn vở sọ, gãy xương… Ngòai ra, công nghệ này cũng cho phép tạo ra các công cụ trợ giúp phẫu thuật, các mô hình đào tạo phẫu thuật, các thiết bị và dụng cụ y học…

A, C): Bệnh nhân bị khuyết sọ bên phải do tai nạn giao thông. (B): Mảnh ghép nhân tạo được thiết kế chính xác cho bệnh nhân. (C, D): Bệnh nhân trước và sau phẫu thuật; ca phẫu thuật được thực hiện tại Quân y viện 108, VN. (E, F): Tấm mỏng titanium dùng trong việc điều trị khối u xương ở xương đùi. (G, H): Công cụ trợ giúp phẫu thuật dùng trong phẫu thuật cột sống.

Để giảm giá thành điều trị các chấn thương sọ cho chính người VN, TS Lê Chí Hiếu đã nghiên cứu, phân tích hình ảnh của hơn 100 sọ người Việt Nam đẽ đưa ra các hình học chuẩn cho hộp sọ của người Việt Nam. Từ đó thiết kế các mảnh ghép sọ chuẩn dành cho người Việt Nam. Cách này có thể giúp giảm chi phí cho bệnh nhân cần điều trị…

TS Lê Chí Hiếu

Trong nhiều năm nay, TS Lê Chí Hiếu vẫn thường tạo mô hình miễn phí tại nơi làm việc và gửi về Việt Nam, nên chi phí phẫu thuật cho các bệnh nhân bị chấn thương sọ cũng giảm khá nhiều. Đã có ít nhất 25 ứng dụng cụ thể về công nghệ y sinh học được thực hiện tại các bệnh viện ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tạo hình và phẫu thuật khuyết hộp sọ, phục hồi chức năng và chấn thương chỉnh hình…

Thông qua các chương trình hợp tác quốc tế, có nhiều bệnh viện và trường đại học trong nước đã tham gia hoặc tiếp nhận chuyển giao công nghệ y sinh học từ châu Âu về Việt Nam: Quân y viện 108, Quân y viện 103, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm Nacentech thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhân Dân 175, Bệnh viện Tiền Giang, Trung tâm Y tế Vietsovpetro.

Theo TS Lê Chí Hiếu, một mảnh ghép bằng vật liệu sinh học “Bone Cement” cho điều trị khuyết sọ, giá thành ở châu Âu là 1.000 – 2.500 USD, nhưng trong tương lai, nếu được chế tạo ở Việt Nam có thể giảm tới 400 – 600 USD.

(C) TTCN

 

Lập “Mô hình y sinh học” - ”Hàn” sọ bị vỡ, thay khớp xương

TTCN (25/06/2005) – Trong cuộc gặp gỡ các nhà khoa học trẻ với chủ đề “Nối vòng tay lớn” tại thành phố biển Nha Trang vào trung tuần tháng 6-2005, người ta nói nhiều về công nghệ của một tiến sĩ trẻ người Việt: “hàn” sọ. TTCN đã gặp TS Lê Chí Hiếu

- Tôi là Hiếu – Lê Chí Hiếu. Tôi là người Việt, vẫn còn mang quốc tịch VN mà… Tôi đến từ Trung tâm Công nghệ chế tạo thuộc Trường ĐH Tổng hợp Cardiff (Xứ Wales, Vương quốc Anh) và cũng là thành viên của Viện Kỹ thuật mô Cardiff.

* Anh đang cầm vật gì… hình như là hộp sọ người?

 

Mảnh ghép sọ và mô hình vật lý có thể cầm nắm  được in ra từ mô hình ba chiều

- À! Đây là mảnh ghép sinh học thay thế xương sọ của một bệnh nhân tại Quân y viện 108 do chính tay tôi thực hiện tại trung tâm nghiên cứu ở Anh. Sẵn dịp về Nha Trang dự cuộc gặp gỡ các nhà khoa học trẻ, mang về giúp bệnh nhân luôn…

Đây là công nghệ rất cao – công nghệ lập mô hình y sinh học (Biomedical Modelling). Thật ra công nghệ này chỉ khoảng 10 tuổi thôi, còn ứng dụng chỉ mới được triển khai khoảng sáu năm nay. Còn rất mới mẻ trên thế giới… Có thể nói nhóm nghiên cứu của chúng tôi là một trong những nơi mạnh nhất thế giới về lĩnh vực này. Trung tâm của tôi hiện có 80 nhà khoa học và tôi phụ trách các vấn đề liên quan đến ứng dụng y học, tạo hình và kỹ thuật đo lường.

* Anh có thể cho biết cụ thể hơn về công nghệ này…

 

Mô hình ba chiều của bệnh nhân có  khuyết sọ do tai nạn giao thông

- Công nghệ lập mô hình y sinh học – Biomedical Modelling cho phép lập mô hình ba chiều các cấu trúc giải phẫu người dựa trên hình ảnh y học (ảnh chụp cắt lớp CT hoặc MRI) và dữ liệu của công nghệ sao chép và tạo hình lại sản phẩm (Reverse Engineering).

Từ đó các mô hình vật lý của các cấu trúc giải phẫu, các mảnh ghép (bộ phận cấy ghép) thay thế, các công cụ trợ giúp phẫu thuật, các mô hình đào tạo phẫu thuật, các thiết bị và dụng cụ y học, các khung giá đỡ cho kỹ thuật mô sẽ được tạo hình và chế tạo…

Hãy hình dung có một bệnh nhân bị chấn thương đầu do tai nạn giao thông, có thể bị vỡ sọ. Công nghệ “lập mô hình y sinh học” cho phép các bác sĩ nhìn thấy được tình trạng hộp sọ bệnh nhân ra sao thông qua xử lý ảnh y học và mô hình ba chiều được tạo dựng từ các ảnh chụp cắt lớp.

 

Mô hình cấu trúc xương xốp Trabecular

Với công nghệ này giúp các bác sĩ có thể dễ dàng nhận biết và tính toán chính xác kích thước mảnh vỡ sọ, vị trí và hình dạng vùng chấn thương sọ… Hơn thế nữa, công nghệ tạo mẫu nhanh, hiện đại cho phép chúng ta có thể in ra hình dáng các loại vật thể từ mô hình ba chiều. Như vậy, với các công nghệ nói trên đã cho phép chúng ta tạo ra một mô hình sao chép chính xác sọ của bệnh nhân và mô hình này có thể cầm nắm được.

Thay vì sử dụng các ảnh chụp cắt lớp hai chiều hay ảnh X-quang như trước đây, ngày nay các bác sĩ đã có một mô hình sao chép chính xác tình trạng chấn thương sọ bệnh nhân để phục vụ phẫu thuật và chẩn đoán tình trạng bệnh lý.

Ngoài ra, các bác sĩ còn có thể thực hiện thao tác phẫu thuật trên mô hình sao chép này trước khi đi vào phẫu thuật (thật) trên bệnh nhân. Điều này giúp tăng độ chính xác của các thao tác phẫu thuật và độ an toàn cho bệnh nhân sẽ tăng lên. Đặc biệt, thời gian phẫu thuật được giảm đi rất nhiều, có thể tiết kiệm được 1- 2 tiếng đồng hồ so với phương pháp cũ…

 

Mô hình khớp gối có các cấu trúc ba chiều của xương và phần mô mềm được tạo hình từ ảnh chụp cắt lớp

* Công nghệ này không chỉ giúp hàn gắn những hộp sọ bị vỡ…?

- Công nghệ lập mô hình y sinh học cho phép phát triển nhiều ứng dụng y học. Trong tương lai gần, việc thay thế các bộ phận hay cấu trúc giải phẫu bị mất đi hay bị hư hại do bệnh lý sẽ được thực hiện một cách chính xác, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về y học và kỹ thuật cho bệnh nhân. Như vậy bệnh nhân không phải sử dụng các bộ phận thay thế nhân tạo chuẩn, có kích thước đôi khi không phù hợp với bệnh nhân, ví dụ như các khớp gối và khớp háng nhân tạo.

Ngày nay, khoa học cho phép lấy mô của bệnh nhân, nuôi cấy trong phòng thí nghiệm để tạo hình các cấu trúc giải phẫu bị mất đi rồi sau đó cấy ghép lại cho bệnh nhân. Ví dụ nếu bệnh nhân mất một phần xương hàm, người ta sẽ lấy mô của xương hàm, nuôi cấy trong phòng thí nghiệm để tạo hình phần xương hàm đã mất rồi cấy ghép lại cho bệnh nhân.

* Anh quan tâm đến việc phát triển công nghệ y sinh học tại VN?

 

Bệnh nhân bị khuyết sọ bên phải do tai nạn giao thông. (B): Mảnh ghép nhân tạo được thiết kế chính xác cho bệnh nhân. (C,D): Bệnh nhân trước và sau phẫu thuật; ca phẫu thuật được thực hiện tại Quân y viện 108, VN

- Cho đến thời điểm này nguồn lực về lĩnh vực công nghệ y sinh học (Biomedical Engineering – BME) đã được tạo dựng ở VN và Thái Lan. Đã có ít nhất 12 luận văn thạc sĩ và tiến sĩ, nghiên cứu về các lĩnh vực ứng dụng công nghệ y sinh học cho khu vực.

Cũng đã có ít nhất 25 ứng dụng cụ thể về công nghệ y sinh học được thực hiện tại các bệnh viện ở VN, đặc biệt là trong lĩnh vực tạo hình và phẫu thuật khuyết hộp sọ, phục hồi chức năng và chấn thương chỉnh hình…

Với sự trợ giúp về tài chính và công nghệ của Chính phủ Bỉ và Thái Lan, dự án công nghệ y học (Medtech) đã được thực hiện ở khu vực ASEAN từ năm 1999 nhằm tạo nguồn lực về công nghệ y sinh học cho khu vực, đặc biệt là Thái Lan và VN. Dự án này hiện đã kết thúc.

Mục tiêu cuối cùng của dự án là làm sao cho các sản phẩm y học đắt tiền và công nghệ y học cao cấp ở các nước tiên tiến có thể được triển khai và ứng dụng ở các nước chưa phát triển. Và những công nghệ này sẽ được chuyển giao từ châu Âu và sẽ được thực hiện bằng chính nguồn nhân lực tại các nước chưa phát triển. Từ đó sẽ giảm được giá thành điều trị bệnh và điều quan trọng hơn nữa là nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

 

Tấm mỏng titanium dùng trong việc điều trị khối u xương ở xương đùi.

Ở VN có các bệnh viện và trường đại học tham gia hoặc là đối tác tin cậy của Medtech trong việc chuyển giao công nghệ y sinh học từ châu Âu về VN: Quân y viện 108, Quân y viện 103, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm Nacentech thuộc Bộ Khoa học và công nghệ, Đại học Bách khoa TP.HCM, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhân Dân 175, Bệnh viện Tiền Giang, Trung tâm Y tế Vietsovpetro.

* Nhưng các ứng dụng của công nghệ này chỉ có thể dành cho người giàu?

- Các ứng dụng của công nghệ y sinh học còn khá đắt so với điều kiện sống ở VN. Tuy nhiên, nếu được triển khai bằng chính nguồn lực tại chỗ, giá thành sẽ giảm nhiều. Ví dụ, một mảnh ghép bằng vật liệu sinh học Bone Cement cho điều trị khuyết sọ, giá thành ở châu Âu là 1.000 – 2.500 USD. Nhưng nếu được chế tạo ở VN có thể giảm tới 400 – 600 USD.

 

Các đồ gá dẫn hướng khoan được dùng trong phẫu thuật thay thế răng giả. Những sơ đồ hoạch định phẫu thuật được thực hiện một cách chính xác trên máy tính dựa trên kỹ thuật xử lý ảnh y học ba chiều. Dựa vào các sơ đồ hoạch định phẫu thuật, các công cụ trợ giúp phẫu thuật được thiết kế và chế tạo

Hiện nay, để thực hiện các ứng dụng này, nhóm các chuyên gia về công nghệ y sinh học và các bác sĩ đã phải trợ giá rất nhiều cho các bệnh nhân ở VN. Những mảnh ghép bằng titanium hay các bộ phận thay thế nhân tạo cho khớp gối và khớp háng có giá thành 2.000 – 4.000 USD.

Hiện tôi vẫn thường tạo mô hình miễn phí tại nơi tôi đang làm việc và gửi về VN, nên chi phí phẫu thuật cho các bệnh nhân bị chấn thương sọ cũng giảm khá nhiều. Trong tương lai, tôi nghĩ cần có tổ chức hỗ trợ bệnh nhân nghèo sử dụng công nghệ này.

Để giảm giá thành điều trị các chấn thương sọ, tôi đã có một nghiên cứu nhỏ, phân tích hình ảnh của khoảng 120-150 sọ người VN để đưa ra các hình học chuẩn cho hộp sọ của người VN. Từ đó tôi thiết kế các mảnh ghép sọ chuẩn dành cho người VN. Cách này có thể giúp giảm chi phí cho bệnh nhân cần điều trị… Tuy nhiên, so với Thái Lan, việc chuyển giao và phát triển công nghệ y sinh học ở VN lại rất chậm.

* Tại sao lại chậm?

 

- Tôi nghĩ có mấy lý do: đội ngũ nhân lực chuyên ngành sâu trong các lĩnh vực liên quan đến công nghệ y sinh học ở VN còn rất thiếu. Trong khi đó việc phối hợp giữa các ngành rất chậm so với Thái Lan.

Chính phủ Thái Lan hiện đã đầu tư đến bốn dự án và đã thành lập trung tâm nghiên cứu về lĩnh vực này rồi. Nhưng tại VN, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy nơi nào có thể đầu tư chuyển giao công nghệ một cách hoàn chỉnh. Đây là điều mà chúng tôi trăn trở nhất. Tôi hoàn toàn có thể chuyển giao công nghệ này cho VN với vinh dự “tôi là người Việt” chứ không chú trọng đến tính thương mại, mặc dù đây là công nghệ có tính thương mại rất cao.

 

 

Theo tôi, để thực hiện thành công việc chuyển giao công nghệ y sinh học ở VN, các bác sĩ và nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực vật liệu sinh học, thiết kế chế tạo, xử lý ảnh y học… cần phải hợp tác một cách chặt chẽ.

Ngoài ra, sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng về quản lý công nghệ cần phải được nâng cao, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các nhà khoa học trong và ngoài nước có thể hợp tác với nhau thực hiện các nghiên cứu ứng dụng cho VN ở cấp quốc gia.

Nên chăng Chính phủ cũng cần phải có các chương trình khoa học và nghiên cứu trọng điểm, nhằm đầu tư bền vững vào các lĩnh vực và các sản phẩm ứng dụng có giá trị công nghệ cao (High Added Value Products) đê đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh.

Hiện tại có nhiều nhà khoa học VN có thể làm chủ nhiều công nghệ cao, có giá trị thực tiễn lớn và khả thi ở VN. Những tổ chức như câu lạc bộ các nhà khoa học và công nghệ Việt kiều do giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (vương quốc Bỉ) đang thành lập sẽ là những cầu nối và liên kết rất tốt cho việc chuyển giao công nghệ cao về VN.

* Anh sẽ trở về VN?

- Hiện tại tôi vẫn mang quốc tịch VN và chắc chắn tôi sẽ mãi là người VN. Tôi rất muốn trở về VN và chắc chắn sau này tôi sẽ trở về VN. Có lẽ ngày đó sẽ không xa.

Tôi lúc nào cũng rất tự hào mình là người VN. Tôi gặp nhiều giáo sư là người VN rất giỏi như giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (Bỉ), giáo sư Võ Văn Tới (ĐH Tổng hợp Tuff, Hoa Kỳ)… Và một người nữa có lẽ ở VN ít biết đến nhưng tôi nghĩ mọi người nên biết, đó là giáo sư DT Phạm. Ông hiện là giáo sư ĐH Tổng hợp Cardiff và cũng là giám đốc Trung tâm Công nghệ chế tạo thuộc đại học này. Ông đã có hai bằng tiến sĩ và đã công bố trên 200 công trình khoa học…

* Nhưng giá trị một ngày làm việc của anh tại Anh đến hàng trăm USD, thì về VN…

- Vật chất cũng quan trọng thật, nhưng chúng tôi có đủ khả năng làm việc để có cuộc sống đàng hoàng ở VN. Nếu các khu công nghệ cao thành công, tôi sẽ trở về để nghiên cứu và giảng dạy tại đó.

QUỐC THANH

TS Lê Chí Hiếu khẳng định: 

Nhóm Biomedical Engineering của chúng tôi đã sở hữu những công nghệ hàng đầu của thế giới hiện nay, đặc biệt là các lĩnh vực:

1. Công nghệ tạo hình và sao chép lại sản phẩm (Reverse Engineering): với công nghệ này, chúng ta có thể tạo hình ba chiều tất cả những vật thể từ mức vi mô (khoảng 5 micron) tới vĩ mô như nhà cửa, ôtô. Công nghệ RE cho phép  “sao chép” những sản phẩm sẵn có trên thị trường như  ôtô, điện thoại di động, trên cơ sở tái tạo lại các mô hình ba chiều (3D), những mô hình 3D này sẽ được sử dụng để chế tạo hay phát triển các sản phẩm mới.

Ứng dụng y học của công nghệ này là cho phép tạo hình bên ngoài của bệnh nhân, như  khuôn mặt, chân tay, khớp gối… từ đó phát triển các công cụ phục hồi chức năng.

2. Công nghệ thiết kế và chế tạo nhanh: đây là một loạt công nghệ cao cho  phép tạo hình, thiết kế, tính toán thiết kế và chế tạo các sản phẩm từ mô hình thiết kế 3D trên máy tính, như công nghệ phay bằng tia laser, công nghệ tạo mẫu và công cụ nhanh, các máy gia công cắt gọt đa trục…

3. Thiết kế và chế tạo các mô hình y học, các công cụ trợ giúp phẫu thuật, các mảnh ghép và bộ phận thay thế nhân tạo cho con người và phát triển các thiết bị y học.

4. Đồ họa và tạo hình ba chiều: với sự kết hợp công nghệ RE và xử lý ảnh, các mô hình ba chiều ở bất kỳ hình dạng nào cũng được tạo hình. Những lĩnh vực ứng dụng cần sự trợ giúp của công nghệ này gồm có: phim hoạt hình, tạo hình, xử lý ảnh y học.

Hiệp hội Công nghệ y sinh học VN cũng đang được thành lập nhằm làm cầu nối giữa các nhà khoa học ứng dụng để phát triển các ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ trong lĩnh vực y học, nâng cao chất lượng chân đoán và điều trị bệnh cho bệnh nhân. Rất mong Chính phủ VN các cơ quan chức năng quan tâm, hỗ trợ các hoạt động khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực y sinh học nói riêng và khoa học ứng dụng nói chung tại VN.

 

(C) tuoitre.vn

 

 

Năm năm nữa chúng ta sống bằng gì đây, các em?

Đó là câu mà TS Nguyễn Thành Nam đem ra để hỏi mỗi khi có cơ hội nói chuyện với sinh viên về ảo tưởng nhân công giá rẻ ở Việt Nam. Đất nước đang dần hết mỏ để đào, hết tài nguyên để bán nhưng nhân lực chất lượng cao thì vẫn ùn ùn đổ vào các ngành sản xuất phi vật chất.

 

5 năm sau ngày rời ghế nhà trường phổ thông, những học sinh này sẽ sống như thế nào? Ảnh: Lê Anh Dũng

TS Nguyễn Thành Nam kể lại: “Trong buổi nói chuyện với sinh viên ĐH đầu năm học vừa rồi, tôi chia sinh viên chia thành từng nhóm theo ngành yêu thích. Nhóm thì thích làm kinh doanh, nhóm thích quản trị, quảng cáo, marketing, bán hàng, ngân hàng…tuyệt nhiên không có ngành nào liên quan đến sản xuất vật chất. Nguyên nhân phổ biến nhất là những ngành này dễ kiếm tiền và ra trường có thể kiếm tiền được ngay. Tôi bàng hoàng hỏi lại: Thế thì vài năm nữa chúng ta sống bằng gì đây các em? Đất nước không còn mỏ để đào, không còn tiền để vay nữa?”

Theo anh, thế hệ trẻ vẫn cả tin vì nhiều năm qua, nền kinh tế vẫn phát triển theo kiểu bong bóng xà phòng. Tài nguyên đào lên rất nhiều , tiền kiếm được rất dễ. Hoạt động tạo ra của cải vật chất thực sự không liên quan nhiều mà những hoạt động sinh lợi lớn nhất là quan hệ, ngoại giao, buôn bán, phân phối…

Thế hệ trẻ ngồi ở trường đại học không yên tâm để học cái gì cả. Chúng thấy kỹ sư ra trường lương quá thấp. Bác sĩ học 5,7 năm rồi có khi cũng chết đói. Đó là những ngành rất khó. Ngành sản xuất vật chất nào cũng lỗ, người nông dân vẫn nghèo. Trong khi người ta chẳng học hành gì đi kinh doanh này nọ cũng kiếm được khối tiền.

“Vậy nên ở Việt Nam mới có ảo tưởng rằng nhân công giá rẻ. Thực chất ở Việt Nam làm gì có nhân công giá rẻ. Những nhân công rẻ chẳng qua vì tương xứng với giá trị của nó thôi.”- TS Nguyễn Thành Nam nói.

Anh kể lại hai câu chuyện mà thực tế có lẽ nhiều người đã gặp những kiểu tương tự:

Khi hãng thời trang nổi tiếng của Pháp Hermes mở một showroom ở Hà Nội, họ đã thuêmột nhóm thợ đến để trát một bờ tưởng chỉ mấy mét vuông. Nhưng không nhóm nào trát đạt yêu cầu của họ. Hãy nhìn bờ tường của các nhà cao tầng xem, cứ lượn sóng và không phẳng được. Và cuối cùng, họ phải đưa một đội trát từ Pháp sang để trát bức tường đó.

Một người bạn của tôi mua một máy bơm nước tăng áp. Thợ đến lắp xong thì lấy tiền và cô ấy tặng thêm 50 nghìn đồng. Hai hôm sau máy bị hở nước. Cô ấy gọi một người khác đến, họ làm đúng như thế và lại thêm 50 nghìn đồng… Đến người thứ 6, máy vẫn hở nước. Lần cuối, tôi đến và gặp người lắp máy, tôi bảo họ mở máy móc ra, yêu cầu thay một số cái bằng sắt chứ không dùng ống nhựa nữa.

Vấn đề là họ không có tay nghề thật hay họ đang ngóng đến một món thu nhập khác? Cô bạn tôi, số tiền chi cho mỗi lần sửa đã gần bằng mua một máy mới. Hai câu chuyện phản ánh cùng một vấn đề: chất lượng lao động quá thấp.

TS Nguyễn Thành Nam (C) Vinasa

TS Nguyễn Thành Nam nhấn giọng: “Tôi muốn nói với các sinh viên rằng: nếu các em ra trường không có tay nghề thì các em sẽ không có chỗ đứng đâu.”

“Khi tiền đầu tư hết, tài nguyên hết, thì nền kinh tế phải quay về dựa trên những ngành sản xuất ra của cải vật chất, tức là dựa vào nguồn lao động được đào tạo tốt, có kỹ năng thật thì lấy đâu ra. Việt Nam bây giờ bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới và những người có nghề bắt đầu ăn lương rất cao, trong khi số đông còn lại chết đói. Doanh nghiệp Việt Nam bây giờ đang phải trả giá lớn vì chuyện ấy .”

“Vậy ai là người nói những điều này cho học sinh, sinh viên biết. Những người thầy, dù rất trẻ, có chuyên môn tốt nhưng đụng đến vấn đề khác là họ chịu chết. Họ rất lỗi thời về mặt tư duy và cách nhìn nhận xã hội.”

“Tôi quan niệm, người thầy phải là người trí thức thực sự, không chỉ truyền kiến thức, mà còn dẫn đường nhận thức cho bọn trẻ. Vì vậy, mỗi buổi giảng, tôi thường dành 30 phút nói chuyện có chủ đề. Nếu người thầy không nói với chúng thì bọn trẻ sẽ nghe ai nói bây giờ?”

Theo TS Nguyễn Thành Nam, đây là hướng đi mà anh chọn và từ đó, anh từng hạnh phúc vì một câu nói của học sinh trên diễn đàn: “Mình nghĩ, thầy Nam bây giờ là đại diện cho những thế hệ của bọn mình”.

Nguyễn Hường (ghi)

Next