Archive for December, 2011

‘Đã có nhiều tiến sĩ 322 bồi hoàn học phí’

OVSED: Cảm ơn chị Phạm Thanh Vân (Đức) đã chia sẻ tin này.

Source: http://www.facebook.com/groups/147037265383082/205124776240997/

***

– Sau hàng loạt bài viết về diễn đàn tiến sĩ 322, ông Nguyễn Xuân Vang, Cục trưởng Cục đào tạo với nước ngoài, Bộ GD-ĐT đã trả lời phỏng vấn VietNamNet về những chính sách xung quanh đào tạo TS theo Đề án 322.


 

Ông Nguyễn Xuân Vang

Thưa ông, vừa qua chủ đề TS 322 không trở về nước hoặc trở về nhưng không tiếp tục làm việc cho cơ quan cũ, không bồi thường tiền cho Nhà nước khiến cho người dân bức xúc. Với 33 người đi học đề án 322 không về, trường hay Bộ GD-ĐT sẽ đứng ra xử phạt, thu hồi lại tiền?

 


Ông Nguyễn Xuân Vang: Trước hết, tôi xin cám ơn nhiều bạn đọc đã quan tâm đến chủ đề này. Tuy nhiên, có thể do thiếu thông tin nên có những nhìn nhận chưa được toàn diện.

 

Trong 10 năm qua, Đề án 322 đã gửi được 4.590 người đi học,  trong đó, có 2.268 người đi học trình độ tiến sĩ, 3.017 lưu học sinh đã tốt nghiệp về nước, gồm 1.074 TS, 984 thạc sĩ, 233 thực tập sinh và 726 sinh viên đại học.

 

Đề án 322 thành công từ góc đánh giá của Nhà nước và những đối tượng thu hưởng.

 

Tuy nhiên, còn một hạn chế là có 33 lưu học sinh (chiếm 1,06% số LHS tốt nghiệp) không hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc đã tốt nghiệp về nước, nhưng không trở lại cơ quan cũ công tác.

 

Lý do: một số trường hợp vì sức khỏe không đảm bảo nên phải về nước, một số khác bị thôi học vì kết quả học tập không đạt quy định, hoặc có người về nước sau đó không trở lại nước ngoài học tiếp vì lý do cá nhân, một số thì tốt nghiệp về nước nhưng không làm việc cho cơ quan công tác trước đây và cá biệt có người học xong không về nước.

 

Đối với số lưu học sinh này, Bộ GD-ĐT đã triển khai thực hiện hướng dẫn và thu hồi kinh phí bồi hoàn theo hai hướng xử lý:

1) Trường hợp cán bộ do cơ quan cử đi học được Bộ làm văn bản thông báo cho cơ quan về tổng kinh phí đã cấp cho lưu học sinh và đề nghị cơ quan phối hợp xử lý theo quy trình xét bồi hoàn của Nhà nước và yêu cầu lưu học sinh nộp tiền bồi hoàn ngân sách nhà nước vào tài khoản quy định.

 

2) Trường hợp sinh viên và người tốt nghiệp chưa có cơ quan công tác, Bộ GD-ĐT họp xét các trường hợp bồi hoàn và có quyết định mức bồi hoàn gửi đến lưu học sinh yêu, cầu thực hiện bồi hoàn theo quy định của pháp luật

 

Hiện nay trên 50% số lưu học sinh phải bồi hoàn kinh phí đã thực hiện bồi hoàn cho Nhà nước.Theo quy định hiện hành,những người tốt nghiệp về nước nhưng không về cơ quan cũ là thuộc diện phải bồi hoàn kinh phí.

 

Tôi cho rằng quy định này cần sửa đổi cho phù hợp bởi lẽ họ không về cơ quan cũ nhưng chuyển sang cơ quan Nhà nước khác cũng phục vụ Nhà nước.

 

Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp về nước, lưu học sinh 322 hoàn tất các thủ tục thanh quyết toán với Bộ GD-ĐT và được trả quay về cơ quan cũ làm việc.

 

 

Đây thực sự là một thách thức với cơ quan sử dụng lao động, đòi hỏi họ cần có chính sách hoặc môi trường làm việc hấp dẫn hơn để giữ cán bộ ở lại làm việc.

Họ làm việc  một thời gian, sau đó bỏ cơ quan ra làm riêng hoặc làm cho doanh nghiệp nước ngoài thì trách nhiệm ở đây thuộc cơ quan chủ quản chứ không thể đổ lỗi cho Bộ, bởi vì cơ quan đã cam kết bố trí sử dụng và quản lý lưu học sinh về nước trong công văn cử người dự tuyển học bổng nhà nước.

 

 

Tôi cho rằng, để thực hiện nghiêm túc quy định của Chính phủ thì các cơ quan sử dụng lao động phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình.

 

Đây thực sự là một thách thức với cơ quan sử dụng lao động, đòi hỏi họ cần có chính sách hoặc môi trường làm việc hấp dẫn hơn để giữ cán bộ ở lại làm việc.

 

Tôi nghĩ, trong tương lai, các cơ quan nhà nước cũng sẽ phải cạnh tranh nhau để có cán bộ tốt. Nếu được như vậy thì rõ ràng những người tài giỏi được đào tạo bài bản sẽ có điều kiện làm việc tốt hơn.

Bộ GD-ĐT có số liệu về những người đi học nước ngoài bằng ngân sách khi trở về đã không tiếp tục làm việc cho cơ quan cũ như cam kết, trong đó có TS 322? Họ có bị xử lý khi không làm đúng cam kết? Nếu có thì cách thức và quy trình bồi thường tiền như thế nào?


Ông Nguyễn Xuân Vang: Theo báo cáo của cơ quan có người đi học theo đề án 322 thì hầu hết họ đều trở về cơ quancũ làm việc, vì thứ nhất là họ đã cam kết mang tính chất pháp lý và thứ hai là họ ý thức được trách nhiệm của mình khi đã hưởng học bổng ngân sách Nhà nước.

 

Chúng ta không nên lấy một vài trường hợp cá biệt không trở về cơ quan cũ làm việc để đánh giá cho hàng nghìn lưu học sinh đi học theo Đề án 322.

 

Nhiều cơ quan cử đi học đã có những chính sách đãi ngộ tốt để thu hút cán  bộ của mình về công tác như chế độ thưởng, tăng lương, đề bạt …

 

Lưu học sinh trước khi đi học đều phải cam kết quay trở về phục vụ cho cơ quan sau khi tốt nghiệp về nước.

 

 

Nhiều cơ quan có người cử đi học theo Đề án 322 đều thực hiện tốt chế độ báo cáo Bộ GD-ĐT, và khi có những người đã hưởng học bổng 322 bỏ việc hoặc xin chuyển công tác thì các cơ quan đều gửi công văn báo cáo Bộ GD-ĐT để được cung cấp số liệu về kinh phí đã chi trả cho việc học tập ở nước ngoài

 

 

Căn cứ số liệu kinh phí được cung cấp, lưu học sinh thực hiện bồi hoàn kinh phí thì mới được giải quyết các thủ tục cần thiết và cơ quan sử dụng cán bộ có thể cậy nhờ các cơ quan pháp luật can thiệp nếu họ không bồi hoàn kinh phí

 

Những trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì đã có quy trình xử lý theo quy định của Pháp luật. Quy trình và cách thức bồi hoàn kinh phí hiện nay thực hiện theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP (năm 2010) của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; thông tư số 03/2011/TT-BNV (năm 2011) hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 18/2010/NĐ-CP.

Việc giao cho các trường quản lý các TS 322 trở về có hợp lý, phải chăng Bộ GD-ĐT nên đứng ra làm nhiệm vụ “xử phạt” nếu những người đi học bằng ngân sách vi phạm cam kết?

Ông Nguyễn Xuân Vang: Bộ GD&ĐT là cơ quan quản lý Nhà nước thì không làm thay các trường được. Các trường đã được tự chủ trong các hoạt động của mình. Việc quản lý cán bộ, công chức là do các cơ quan sử dụng lao động thực hiện theo quy định của Pháp luật. Hiện nay đã có các văn bản pháp quy về việc này.

 

Đề án 322 là Đề án của Chính phủ chứ không phải là của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thay mặt Chính phủ thực thực hiện Đề án này và Đề án 322 chỉ là một trong rất nhiều nguồn học bổng mà cán bộ, công chức được hưởng thông qua Bộ GD-ĐT, hơn nữa số lượng những người bị “xử phạt” có nhiều đến mức phải đưa ra quy định này không?

 

Chúng ta nên nhìn bức tranh toàn cảnh về hiệu quả hiện tại và tương lai lâu dài của Đề án vì đây là đầu tư vào con người chứ không nên nhìn phiến diện vào con số ít ỏi (1%), có thể ví như là “thất thoát” như đã thống kê. Với một Đề án đầu tư vào con người mà thất thoát có 1% thì có thể nói rằng Đề án đã thành công 99%, chưa tính đến những đóng góp và giá trị mang lại cho xã hội trong rất nhiều năm nữa của những người đã hưởng thụ Đề án, trong đó có TS 322.

Thông báo tuyển sinh sau đại học bằng ngân sách Nhà nước không quy định số năm phải làm việc cho cơ quan cũ sau khi người học đi du học về, theo ông, có cần quy định phải làm việc bao nhiêu năm?

Ông Nguyễn Xuân Vang: Những quy định đã có trong các văn bản quy phạm pháp luật thì không cần đưa vào thông báo tuyển sinh. Các quy định đều đã được đề cập trong văn bản mới nhất là Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức.

PV: Việc đề án này ưu tiên một tỉ lệ lớn (90%) cho các trường đại học, cao đẳng cho thấy quyết tâm rất lớn của ngành giáo dục về việc nâng cao trình độ giảng viên. Tuy nhiên, cơ chế lương cho người đi học nước ngoài về không khuyến khích được việc tiếp tục sử dụng chất xám của họ cho hiệu quả. Theo ông, có nên làm ngược lại là số tiền học bổng ấy dành thưởng cho người nào đã học TS từ nguồn khác và chịu “đầu quân” về trường ĐH, CĐ và làm việc lâu dài, hoặc trả thành lương cho họ theo năm cống hiến?

Ông Nguyễn Xuân Vang: Nước ta còn nhiều khó khăn, hiện nay rất cần đầu tư vào nhiều lĩnh vực để phát triển kinh tế xã hội, trong đó có GD-ĐT. Tập trung đầu tư đào tạo máy cái –giảng viên các trường ĐH, CĐ để họ đào tạo ra hàng vạn người khác là một chính sách sáng suốt. Có một câu thành ngữ: “Nếu đầu tư cho người thầy thì bạn đã đầu tư cho cả một thế hệ”.

Cơ chế lương hiện nay đâu chỉ có áp dụng riêng cho ngành giáo dục? Ý tưởng đầu tư sau tức là trả tiền sau tính vào lương sau cũng là mốt ý tưởng hay nhưng liệu có khả thi không để đảm bảo công bằng cho những đối tượng khác và đảm bảo về quy mô?

Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nếu chỉ trông chờ vào các nguồn học bổng ít ỏi từ các nguồn khác thì bao giờ chúng ta mới phát triển được? Nhà nước cần phải chủ động đầu tư cho tương lai thì mới không bị tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

 

Trước năm 1990, chúng ta trông cậy vào các nước XHCN anh em hỗ trợ đào tạo hàng vạn nhân lực trình độ cao nhưng sau năm 1991, Nhà nước thấy rõ việc hụt hẫng của việc đào tạo cán bộ ở nước ngoài khi Liên Xô tan rã, vì vậy đã có Chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc gửi công dân Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài.

 

Nhìn ra thế giới, các nước đều có chiến lược phát triển nguồn nhân lực của mình bằng cách gửi người ra nước ngoài học tập. Trung Quốc đã làm việc này từ lâu, đã gửi rất nhiều người đi học ở nước ngoài, khuyến khích ở lại làm việc và bây giờ họ đã và đang trở về quê hương làm việc. Năm 2010, Braxin đưa ra quyết định dành hơn 2,5 tỉ đô la để gửi 100.000 người ra nước ngoài đào tạo trong vòng 4 năm từ 2010 đến 2014.

 

Còn ở nước ta, năm 2000, với Quyết định 322 của Thủ tướng Chính phủ dành ngân sách để gửi đi đào tạo ở nước ngoài là một quyết định có ý nghĩa lịch sử.

PV: Mục tiêu của việc đào tạo TS là tạo ra một đội ngũ nghiên cứu giỏi cho nước nhà, tuy nhiên, môi trường nghiên cứu ở đại học Việt Nam chưa phát triển, nhất là chưa tạo ra hiệu quả rõ ràng cho doanh nghiệp, xã hội. Vậy theo ông, chúng ta có cần thiết phải có nhiều TS hơn nữa?

Ông Nguyễn Xuân Vang: Tôi cho rằng nhận xét này chưa có đủ căn cứ. Trong những năm qua Việt Nam luôn duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao là do đâu? Không có kết quả nghiên cứu nghiêm túc thì làm sao chúng ta có giống mới, phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất để đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo và cạnh tranh với các nước khác về các mặt hàng xuất khẩu khác?

Môi trường nghiên cứu ở các trường đại học Việt Nam đang phát triển và cần phải có đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội để tạo điều kiện tốt nhất cho đội ngũ nghiên cứu làm việc. Chúng ta cần phải có nhiều tiến sĩ hơn nữa, cần có nhiều máy cái hơn nữa để nghiên cứu và đào tạo đội ngũ nghiên cứu.

 

Hiện nay cả nước mới có 14% giảng viên đại học có trình độ TS, và con số này quá thấp so với các nước trong khu vực chứ chưa dám so sánh với các nước tiên tiến trên thế giới. Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2010 gắn với yêu cầu của hội nhập quốc tế và đã đề ra mục tiêu cụ thể về cơ cấu lao động và bậc đào tạo.

 

Trong Quy hoạch phát triển nhân lực, việc xây dựng đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có trình độ cho đất nước được đặc biệt coi trọng. Năm 2020, số giảng viên đại học cần có khoảng 75.800 người, trong đó 30% có trình độ TS (14.283 người) và khoảng 50% có trình độ thạc sĩ (38.000 người).

 

Ngay cả việc chúng ta thực hiện thành công đề án hai vạn TS trong 10 năm tới, với hơn 400 trường đại học và cao đẳng hiện nay thì mỗi năm mỗi trường mới chỉ được bổ sung thêm gần 5 tiến sĩ. Một con số quá ít. Chúng ta phải cần tăng nhanh đội ngũ có trình độ cao này để đẩy mạnh công tác nghiên cứu trong các trường đại học. Một trong những yếu tố mà môi trường nghiên cứu chưa phát triển vì chúng ta thiếu người có trình độ để làm nghiên cứu. Nếu không có con người có năng lực, trình độ thì máy móc thiết bị hiện đại đến đâu đi chăng nữa cũng bị xếp xó.

 

Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này.


  • Hương Giang (Thực hiện)

(C) vietnamnet.vn

Phản hồi bài “Đề nghị cải cách chức danh giáo sư”

Nguyễn Hoàng Hà

(Một vài ý kiến khi đọc bài “Đề nghị cải cách chức danh giáo sư” của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.)

Khi triển khai quyết định 174 về việc xét công nhận bổ nhiệm chức danh GS/PGS, trên nhiều báo đã xuất hiện  rất nhiều bài viết của nhiều độc giả gồm nhiều thành phần : nhà văn, nhà báo, nhà khoa học . . . phản ánh những bất cập vô lý trong quyết định này.   Trong bài viết này, chúng tôi  sẽ  hệ thống lại các bài viết trước đây, để đi tìm lý do vì sao Bộ giáo dục & đào tạo và Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước luôn giữa quan điểm trong quyết định 174.
Trong bài :” Vì sao đủ tiêu chuẩn vẫn không được bổ nhiệm chức danh?” , GS Trần Văn Nhung, Tổng thư ký HDCDGSNN đã phát biểu :”Sau 2 năm nếu ứng viên không được cơ sở nào bổ nhiệm, thì tấm giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh cũng chỉ giữ để làm kỷ niệm vì nó chỉ có giá trị trong 2 năm.“
Quá bức xúc với cách phát biểu này, trong bài “Vì sao đủ tiêu chuẩn vẫn không được bổ nhiệm chức danh? -nghĩ về trách nhiệm của Bộ giáo dục & đào tạo”, tác giả Bùi Thị Đoài đã thốt lên “Chúng tôi thực sự sốc trước phát biểu này (phát biểu của GS Nhung)!. Tôi làm nghề kinh doanh, bất cứ mặt hàng nào sản xuất ra đều ghi thời hạn sử dụng trên các sản phẩm đó. Cũng như các giấy chứng nhận GS, PGS trước năm 2007, giấy chứng nhận GS, PGS năm 2009 cũng không ghi thời hạn sử dụng. Tại sao cùng ở đất nước Việt Nam lại tồn tại 2 loại: GS, PGS trước 2007 (được công nhận đến khi chết) và GS, PGS sau 2009 (chỉ được công nhận 2 năm)?. Đợt xét chức danh năm 2009, tháng 5/2009 các ứng viên nộp hồ sơ nhưng đến tháng 5/2010 mới hoàn thành bổ nhiệm. Có ứng viên phải ‘chạy” đến 5 trường đại học mới được bổ nhiệm, tạo nên hình ảnh rất phản cảm về trí thức Việt Nam. Vậy trách nhiệm của Bộ Giáo dục & Đào tạo ra sao trong trường hợp này?
Chưa hết, trong bài  “Bổ nhiệm giáo sư, giấy sổ đỏ nhà đất”, có đoạn :”
Tại buổi tập huấn xét chức danh GS tháng 6/2010, có 1 ứng viên đã hỏi: “Đề nghị phân biệt công nhận chức danh GS và bổ nhiệm chức danh GS?”. Ông Tổng thư ký Hội đồng chức danh GS Nhà nước đã trả lời: “Được công nhận chức danh GS giống như thí sinh thi đủ điểm sàn đại học do Bộ Giáo dục qui định. Còn bổ nhiệm chức danh GS giống như thí sinh không những đủ điểm sàn mà còn đủ điểm chuẩn vào trường mà thí sinh đăng ký.
Như vậy ứng viên được công nhận chức danh GS, Phó GS nhưng chưa được bổ nhiệm thì vẫn không được gọi là GS !”
Trong bài “Đề nghị cải cách chức danh giáo sư”,  giáo sư Nguyễn Văn Tuấn,  đã đề nghị bỏ mô hình 2 bước trong quyết định 174 như sau :” nên hủy bỏ cách xét duyệt chức danh theo “mô hình hai bước” như hiện nay. Theo Quyết định 174 của Chính phủ thì hiện nay qui trình tiến phong chức danh GS chia làm hai bước. Bước một, HĐCDGSNN xét duyệt ứng viên đủ tiêu chuẩn GS, PGS. Bước hai, ứng viên phải được một cơ sở ĐH bổ nhiệm mới (và nếu sau hai năm vẫn chưa tìm được nơi bổ nhiệm thì chức danh GS cũng không còn!) Nói nôm na là HĐCDGSNN chỉ cấp văn bằng GS, và GS phải đi… tìm việc “. Sau đó Giáo sư Tuấn kết luận :”Cách làm này là một cách xem thường chức danh GS như chỉ ngang với một… bằng tốt nghiệp
Qua phản ánh của các báo, có thể đưa ra những nhận định sau:
- Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước rất coi thường giấy chức nhận chức danh GS/PGS, giấy chứng nhận đó  hoàn toàn không tương đương với bằng tốt nghiệp như nhân xét của GS Nguyễn Văn Tuấn. Vì bằng tốt nghiệp đại học sau 2 năm vẫn có giá trị (kể cả bằng tại chức), trong khi giấy chức nhận GS/PGS sau 2 năm “chỉ làm kỷ niệm”
- Từ năm 2009,  những ai  có giấy chứng nhận GS/PGS, đều được vinh danh tại Văn Miếu –Quốc Tử Giám, nhưng GS Nhung lại cho rằng giấy chứng nhận GS/PGS đó chỉ tương đương với điểm sàn đại học, chỉ khi bổ nhiệm mới thực sự trở thành GS/PGS. Đây là cách làm vô lý và không tránh khỏi tiêu cực
Rõ ràng cách bổ nhiệm GS/PGS hoàn toàn không phải theo thông lệ quốc tế mà chỉ giúp cho những người ra quyết định bổ nhiệm được nhận bổng lộc và ân huệ . Theo nhận định của người viết bài này, đây có thể  là lý do vì sao Chính phủ đã ra nghị quyết 66CP về việc gộp 2 quy trình công nhận và bổ nhiệm chức danh GS/PGS làm một,  nhưng Bộ giáo dục vẫn duy trì tinh thần quyết định 174 .
Thiết nghĩ, Bộ giáo dục cùng  HDCDGSNN cần có hồi âm cho bạn đọc được rõ hơn vấn đề nêu trên./.
Tài liệu tham khảo
Vì sao đủ tiêu chuẩn vẫn không được bổ nhiệm chức danh?
Vừa qua, tại Văn Miếu, Quốc Tử Giám, 65 nhà giáo được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) trao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư (GS) và 641 nhà giáo được trao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Phó Giáo sư (PGS).
Như những năm trước, sau khi nhận giấy chứng nhận chức danh, các nhà giáo đương nhiên trở thành các tân PGS, GS. Song bắt đầu từ năm 2009, sau khi nhận giấy chứng nhận, các nhà giáo lại phải trải qua khâu chờ bổ nhiệm chức danh GS, PGS. Nếu được bổ nhiệm, họ mới được gọi là các GS, PGS. Quy trình bổ nhiệm như thế nào, liệu có tình trạng “chạy” bổ nhiệm hay không, trường hợp không được bổ nhiệm trong năm nay thì năm sau có được xét bổ nhiệm lại?
Xung quanh vấn đề này, PV Báo CAND đã trao đổi với GS.TSKH Trần Văn Nhung – Tổng Thư ký HĐCDGSNN và PGS.TS Nguyễn Hữu Bạch – Chánh Văn phòng HĐCDGSNN.
PGS Nguyễn Hữu Bạch: Cơ sở giáo dục đại học (CSGD ĐH) bổ nhiệm GS, PGS phải theo đúng chuyên ngành mà cơ sở có nhu cầu. Ví dụ Trường ĐH Kinh tế quốc dân thiếu GS, PGS về triết học, thì sẽ được quyền công bố thiếu GS, PGS về triết học và chỉ những nhà giáo về chuyên ngành đó mới được ứng cử. Với quy trình mới này, sẽ có người được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh, nhưng chưa chắc đã được bổ nhiệm, nếu như CSGD đó chưa có nhu cầu. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.
PV: Một số ứng viên cho biết, việc xem xét nhu cầu cần bổ nhiệm bao nhiêu GS, PGS, nên được rà soát trước khi tiến hành xem xét công nhận chức danh, như vậy việc công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh sẽ sát thực tế, sát với nhu cầu của chính CSGD hơn. Và như vậy sẽ tránh được hiện tượng, người được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh rồi, mà lại không được bổ nhiệm ở chính nơi mà mình đang công tác giảng dạy.
GS Trần Văn Nhung: Đất nước chúng ta có khoảng 85 triệu dân, trong khi chúng ta mới có khoảng 1.300 GS và khoảng hơn 7.000 PGS. Như vậy, 1 vạn người mới có 1 GS hoặc PGS, tỉ lệ này quá thấp, chúng ta đang rất thiếu GS và PGS. Hiện nay, ĐH Tây Bắc chỉ có 1 PGS, ĐH Tây Nguyên cũng có rất ít GS, PGS. ĐH An Giang khi GS Võ Tòng Xuân về làm hiệu trưởng thì chỉ mình ông có chức danh GS. Trong chiến lược xây dựng cán bộ, các trường đều nêu rõ tỉ lệ PGS, GS là bao nhiêu. Tách hai khâu công nhận chức danh và bổ nhiệm chức danh là một cơ chế khoa học để luân chuyển cán bộ. Theo tôi, trường hợp nào mà hai năm không CSGD nào bổ nhiệm chức danh GS, PGS thì có lẽ phải làm lại trường hợp đó.
PV: Sau 2 năm, ứng viên không được bổ nhiệm thì tấm giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh còn giá trị không? Liệu có nảy sinh hiện tượng tiêu cực, chạy chọt?
GS. Trần Văn Nhung: Sau 2 năm nếu ứng viên không được cơ sở nào bổ nhiệm, thì tấm giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh cũng chỉ giữ để làm kỷ niệm vì nó chỉ có giá trị trong 2 năm.
PV: Vậy có chuyện “chạy” bổ nhiệm không? HĐCDGS NN có chế tài gì để hạn chế các hiện tượng tiêu cực không?
PGS Nguyễn Hữu Bạch: Theo tôi không thể “chạy” được, thứ nhất anh phải đạt tiêu chuẩn chức danh, thứ hai phải bổ nhiệm đúng chuyên ngành. Tất cả các bước bổ nhiệm đã được nêu rõ trong bản dự thảo chính là để hạn chế thấp nhất tiêu cực.
PV: Các giáo viên có quyền được đến các trường khác để xin bổ nhiệm phải không?
GS. Trần Văn Nhung: Đúng như vậy! Như thế mới là cách làm hay, tạo một cơ chế tự nhiên để luân chuyển cán bộ về những nơi mà còn thiếu PGS, GS. Theo quy định, các cơ sở phải công bố công khai số lượng GS, PGS mà họ đang thiếu.
PV: Một số ứng viên băn khoăn, nếu đã được công nhận đạt tiêu chuẩn mà không được bổ nhiệm chức danh GS, PGS thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín khoa học của họ vì để phấn đấu đạt tiêu chuẩn chức danh, họ đã phấn đấu không mệt mỏi.
PGS Nguyễn Hữu Bạch: Việc xét chức danh là do các ứng viên tự nguyện, còn việc bổ nhiệm là do CSGD có nhu cầu hay không. Hai việc đó hoàn toàn khác biệt. Cái đích chính theo tôi là họ làm chuyên môn tốt hay không. Trước đây, nhiều người sau khi được công nhận học hàm xong, thì không làm gì cả. Như thế rất lãng phí chức danh. Giờ theo quy trình mới này sẽ thiết thực hơn nhiều, chúng ta cần người làm việc, chứ không cần người có danh.
PV: Những người có tên trong hội đồng khoa học có được ứng cử xem xét bổ nhiệm không?
PGS. Nguyễn Hữu Bạch: Có thể họ có tên trong hội đồng khoa học, nhưng khi xét đến họ thì họ không được bỏ phiếu, không được tự mình xem xét cho mình.
PV: Xin cảm ơn đồng chí Tổng Thư ký và Chánh Văn phòng HĐCDGSNN.
GIÁO SƯ LONG ĐONG KÝ – Bài 4
Từ bài “Vì sao đủ tiêu chuẩn vẫn không được bổ nhiệm chức danh?”nghĩ về trách nhiệm của Bộ giáo dục & đào tạo
Bùi Thị Đoài
Cách đây 30 năm ai tốt nghiệp đại học đều được phân công nhiệm sở, còn bây giờ tốt nghiệp đại học loại giỏi muốn có việc làm phải “chạy” xin việc, các báo đã đăng nhiều bài viết về các tân cử nhân, tân kỹ sư đã phải bỏ tiền “chạy” như thế nào mới có việc làm. Năm 2009, để được công nhận PGS, các ứng viên phải trải qua thẩm định ở 3 cấp (cơ sở, ngành, nhà nước), thời gian xét duyệt hơn nửa năm và trên 1000 hồ sơ chỉ xét được 641 hồ sơ PGS. Khi đã được nhà nước công nhận, muốn được bổ nhiệm, những ứng viên phải viết đơn xin, từ đó hình thành một cơ chế “xin – cho”. Việc làm này giống như các các tân cử nhân, tân kỹ sư đi xin việc, và chính cái cơ chế “xin – cho” đó tất yếu dẫn đến việc “chạy” bổ nhiệm PGS là lẽ đương nhiên. GS, PGS là danh hiệu cao quí, đó là chức danh khoa học cao nhất của nhà giáo, do đó không thể để các nhà giáo mang danh GS, PGS phải “chạy” bổ nhiệm như sinh viên tốt nghiệp đại học.

Trong bài “Vì sao đủ tiêu chuẩn vẫn không được bổ nhiệm chức danh?”, GS Trần Văn Nhung nói: “Sau 2 năm nếu ứng viên không được cơ sở nào bổ nhiệm, thì tấm giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh cũng chỉ giữ để làm kỷ niệm vì nó chỉ có giá trị trong 2 năm”. Chúng tôi thực sự sốc trước phát biểu này!. Tôi làm nghề kinh doanh, bất cứ mặt hàng nào sản xuất ra đều ghi thời hạn sử dụng trên các sản phẩm đó. Cũng như các giấy chứng nhận GS, PGS trước năm 2007, giấy chứng nhận GS, PGS năm 2009 cũng không ghi thời hạn sử dụng. Tại sao cùng ở đất nước Việt Nam lại tồn tại 2 loại: GS, PGS trước 2007 (được công nhận đến khi chết) và GS, PGS sau 2009 (chỉ được công nhận 2 năm)?. Đợt xét chức danh năm 2009, tháng 5/2009 các ứng viên nộp hồ sơ nhưng đến tháng 5/2010 mới hoàn thành bổ nhiệm. Có ứng viên phải ‘chạy” đến 5 trường đại học mới được bổ nhiệm, tạo nên hình ảnh rất phản cảm về trí thức Việt Nam. Vậy trách nhiệm của Bộ Giáo dục & Đào tạo ra sao trong trường hợp này?

Vợ chồng tôi có con gái đạt danh hiệu thủ khoa Đại học, được vinh danh tại Văn Miếu năm 2004, đang chuẩn bị bảo vệ luận án Tiến sĩ ở Mỹ. Cháu có nguyện vọng về Việt Nam làm công tác giảng dạy ở trường Đại học, nhưng ngẫm nghĩ lại cái cảnh phấn đấu trở thành PGS quá phức tạp như ở Việt Nam,lại thêm phát biểu của GS Nhung: GS, GS chỉ có giá trị 2 năm, cháu đã quyết định ở lại Mỹ tìm việc làm. Cho dù công việc ở Mỹ rất vất vả.

Một vài chia sẻ của chúng tôi, đề nghị Bộ Giáo dục & Đào tạo điều chỉnh lại qui trình bổ nhiệm hợp lý sao cho” phù hợp với thông lệ quốc tế” như lời PGS. Bạch phát biểu. 

*Bài viết do tác giả Bùi Thị Đoài gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn tác giả

Đề nghị cải cách chức danh giáo sư
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Tiêu chuẩn xét duyệt chức danh GS, PGS hiện nay rất phức tạp và… số hóa. Mỗi công trình công bố đều tính bằng điểm, mỗi sách viết ra cũng tính điểm. Không có nơi nào trên thế giới lại “cho điểm” GS như thế. Làm như thế là một cách biến các ứng viên GS thành học trò!
Đến hẹn lại lên: Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) họp để xét duyệt những ứng viên cho chức danh GS và PGS. Lần này, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhâncó phát biểu yêu cầu HĐCDGSNN nên khẩn trương thay đổi qui chế xét duyệt chức danh GS, PGS sao cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Người viết bài nay xin được nhắc lại vài đề nghị đã phát biểu trước đây.
Thứ nhất là nên phân ngạch GS. Nước ta có hơn 9.000 GS và PGS, nhưng chỉ một phần nhỏ trong số này chính thức làm việc trong các đại học, trường và viện ĐH. Theo thống kê của Bộ GD và ĐT năm 2008, chỉ có 2108 GS và PGS đang giảng dạy, nghiên cứu trong các cơ sở ĐH. Nói cách khác, rất nhiều người có chức danh GS nhưng họ không trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu. Đó là một điều bất bình thường.
Vì thế, đề nghị nên có qui chế cho những GS chính thức, GS kiêm nhiệm (conjoint professor), và GS danh dự (honorary professor).

 

Chẳng những biến GS thành học trò, cách tính điểm cũng rất vô lí. Chẳng hạn như hiện nay HĐCDGSNN xem một bài báo khoa học đăng trong một tập san trong nước có điểm bằng, thậm chí cao hơn bài báo đăng trên các tập san danh tiếng ở nước ngoài!
Cần nói thêm rằng chưa có một tập san khoa học nào của Việt Nam được công nhận trong danh bạ ISI, và cách cho điểm như thế cực kì vô lí và phản cảm.

 

Ở nước ngoài người ta phân biệt rạch ròi ba ngạch GS như vừa đề cập. GS chính thức là những người trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu trong các cơ sở ĐH, họ được xét duyệt theo những tiêu chuẩn quốc tế nghiêm chỉnh. Những tiêu chuẩn đó thường là công trình nghiên cứu khoa học và đóng góp cho chuyên ngành và cộng đồng.
GS kiêm nhiệm dành cho các chuyên gia trong các cơ quan công quyền hoặc trung tâm nghiên cứu, bệnh viện, v.v… có công đào tạo nghiên cứu sinh, nhưng họ không nhận lương của cơ sở ĐH.
Tiêu chuẩn xét duyệt GS kiêm nhiệm cũng đơn giản và “nhẹ” hơn GS chính thức. Trường ĐH thường yêu cầu họ phải xưng rõ là “GS kiêm nhiệm” chứ không được dùng chức danh GS để phân biệt giữa hai ngạch.
GS danh dự là chức danh dành cho các “mạnh thường quân”, những người có công trong việc xây dựng và phát triển học thuật. Những người này không cần xét duyệt theo các tiêu chuẩn của GS chính thức và GS kiêm nhiệm, mà chỉ do các cơ sử ĐH trao tặng như là một cách ghi nhận công trạng.
Thứ hai, nên hủy bỏ cách xét duyệt chức danh theo “mô hình hai bước” như hiện nay. Theo Quyết định 174 của Chính phủ thì hiện nay qui trình tiến phong chức danh GS chia làm hai bước.
Bước một, HĐCDGSNN xét duyệt ứng viên đủ tiêu chuẩn GS, PGS. Bước hai, ứng viên phải được một cơ sở ĐH bổ nhiệm mới (và nếu sau hai năm vẫn chưa tìm được nơi bổ nhiệm thì chức danh GS cũng không còn!) Nói nôm na là HĐCDGSNN chỉ cấp văn bằng GS, và GS phải đi… tìm việc.
Cách làm này là một cách xem thường chức danh GS như chỉ ngang với một… bằng tốt nghiệp. Qui trình này rất lạ lùng. Tôi không thấy nơi nào trên thế giới làm như thế. GS là phải gắn liền với một cơ sở ĐH nhất định. Trước khi đệ đơn xin phong GS, ứng viên phải là giảng viên của một cơ sở ĐH cụ thể.

Cũng cần nói thêm rằng ở nước ngoài không có chuyện tiến phong chức danh GS theo nhu cầu. Ngày xưa thì ĐH còn có “nhu cầu”, vì mỗi bộ môn chỉ có một GS, và khi người này nghỉ hưu thì trường tuyển dụng GS thay thế.

Nhưng bây giờ thì không còn kiểu làm này nữa. Vì một bộ môn có thể có nhiều GS. Tôi thấy ở trường ĐH nơi tôi làm việc, ai cũng có thể đệ đơn xin đề bạt nếu họ thấy đáp ứng tiêu chuẩn đề ra, chứ không có chuyện nhu cầu nữa. Do đó, để phù hợp với qui chuẩn quốc tế, nên bỏ khái niệm phong chức danh GS theo nhu cầu.
Thứ ba, nên bỏ những tiêu chuẩn mang tính cân đo đong đếm. Tiêu chuẩn xét duyệt chức danh GS, PGS hiện nay rất phức tạp và… số hóa. Mỗi công trình công bố đều tính bằng điểm, mỗi sách viết ra cũng tính điểm. Không có nơi nào trên thế giới lại “cho điểm” GS như thế. Làm như thế là một cách biến các ứng viên GS thành học trò!
Chẳng những biến GS thành học trò, cách tính điểm cũng rất vô lí. Chẳng hạn như hiện nay HĐCDGSNN xem một bài báo khoa học đăng trong một tập san trong nước có điểm bằng, thậm chí cao hơn bài báo đăng trên các tập san danh tiếng ở nước ngoài!
Cần nói thêm rằng chưa có một tập san khoa học nào của Việt Nam được công nhận trong danh bạ ISI, và cách cho điểm như thế cực kì vô lí và phản cảm.
Cách tính điểm như hiện nay cũng tạo thêm điều kiện cho những kẽ hở tiêu cực trong qui trình đề bạt chức danh GS. Tôi có lần thấy một ứng viên trong ngành y khoa nộp 3 cuốn sách, như là một tiêu chuẩn để được xét duyệt chức danh PGS.
Điều phi thường là 3 cuốn sách này được viết trong vòng 1 năm. Ứng viên này không hề có một công trình nghiên cứu nào trên các tập san y khoa quốc tế mà đã viết 3 cuốn sách trên 1000 trang trong vòng 1 năm!
Thật ra, đọc sơ qua thì thấy đây là sách dịch (vì các bảng biểu đều rất quen thuộc với người trong ngành), và qua văn phong dịch thì rõ ràng sách có nhiều người dịch. Nói chung, tiêu chuẩn khoa học để xét duyệt chức danh GS còn  rất nhiều bất cập và nhiều điều không hợp lí, nhưng đây là vấn đề muôn thuở vì nhiều người đã lên tiếng nhưng vẫn chưa sửa đổi.
Thiết nghĩ, ngành GD và ĐT cần phải cải cách qui trình và tiêu chuẩn tiến phong chức danh GS, PGS để phù hợp với các nước trong vùng và từng bước hội nhập quốc tế./.

(C) vanhoanghean.vn

“Họ làm được, sao mình không làm được?”

SGTT.VN – Tại cuộc họp mặt của giới vật lý thiên văn quốc tế mang tên Gặp gỡ Việt Nam lần thứ bảy vừa diễn ra ở TP Quy Nhơn, nhiều người rất ấn tượng với một nhà khoa học gốc Việt, vóc dáng nhỏ bé nhưng rất tự tin, pha chút ngang tàng với mái tóc dài như một nghệ sĩ rock. Ông chính là người đặt viên gạch đầu tiên chuyển giao chương trình vật lý tiên tiến của đại học Virginia (Hoa Kỳ) cho đại học Huế.

 

 

Là chuyên gia vật lý lý thuyết tại đại học Virginia, công trình nghiên cứu Sự hạn chế khối lượng của hạt, Khả năng tồn tại không gian thứ tư, thứ năm của giáo sư Phạm Quang Hưng được giới khoa học đánh giá rất cao. Gắn bó với Huế như một định mệnh, sự trở về của ông bắt nguồn từ triết lý sống “giúp được ai là giúp hết lòng”.

Là con út trong gia đình có chín người con, ba là công chức, mọi gánh nặng trong nhà đều đổ dồn lên vai mẹ –một thương nhân, bài học lớn nhất mà ông học được từ cha mẹ là gì?

Một tâm hồn thơ, một sức sống mãnh liệt và tinh thần bất chấp, không ngại gì hết. Là con út nên tôi có thời gian được sống, được trò chuyện với cha mẹ nhiều hơn. Đó là điều đặc biệt quan trọng với tuổi thơ. Nên với ba đứa con của mình, dù bận rộn với công việc khoa học, nhưng lúc nào tôi cũng muốn có thêm thời giờ để chăm sóc con.

Vì sao rời Việt Nam quá lâu mà tiếng Việt của ông vẫn còn rất phong phú như vậy?

Rời Việt Nam từ năm 1968, nhưng lúc nào tôi cũng háo hức tìm hiểu đời sống của người Việt ở quê nhà bằng cách đọc tiểu thuyết, báo chí Việt Nam. Tôi luôn cảm thấy thiếu thốn, lúc nào cũng muốn tìm hiểu, để hoà nhập vào đời sống cộng đồng người Việt. Từ lần trở về đầu tiên năm 2004 đến nay, năm nào tôi cũng tìm cách về nuớc, và mỗi lần như thế, tiếng Việt của tôi lại được đầy thêm.

Ngay từ nhỏ, ông đã là chàng trai có tính cách nổi loạn. Niềm đam mê khoa học của ông có bao giờ phải đối diện với những thử thách khiến ông dễ chệch hướng?

Mọi thứ tôi có hôm nay đều bắt nguồn từ sự nổi loạn, muốn làm một cái gì đó khác. Ngay từ nhỏ, lúc nào tôi cũng tò mò, thích khám phá những hiện tượng của tự nhiên, cố tìm hiểu vũ trụ được hình thành như thế nào, và tự lý giải theo cách nghĩ của riêng mình. Những thí nghiệm nho nhỏ thời trẻ con kích thích rất nhiều trí tưởng tượng của tôi, nuôi dưỡng trong tôi những câu hỏi bất tận về vũ trụ… Nhưng cũng như bao chàng trai khác thuộc thế hệ mình, nhạc rock cuốn tôi đi. Là cây guitar trong ban nhạc sinh viên, tôi quay quắt với những bản nhạc cuồng nhiệt, đi biểu diễn khắp nơi… Để có thể trở về với niềm đam mê khoa học, đọc sách rất quan trọng. Cuốn sách ấn tượng nhất thời tuổi trẻ của tôi là Những cuộc phiêu lưu của Mr.Tomkins trong vương quốc tương đối và vương quốc nguyên tử của George Gamow. Tôi không chỉ say mê nội dung khoa học của những cuốn sách, mà còn chịu ảnh hưởng rất nhiều ở khía cạnh cá nhân của những khoa học gia, cách họ làm việc, suy nghĩ, khám phá… Tất cả đã giúp tôi vượt qua ảnh hưởng của nhạc rock, và quyết chí đi theo con đường khoa học.

Người thầy nào đã giúp ông hoà nhập được vào môi trường học thuật đỉnh cao tại đại học Virginia?

 

Tôi không chỉ say mê nội dung khoa học của những cuốn sách, mà còn chịu ảnh hưởng rất nhiều ở khía cạnh cá nhân của những khoa học gia, cách họ làm việc, suy nghĩ, khám phá…

Môi trường khoa học tại Mỹ rất năng động. Trong nghiên cứu, họ không phân biệt quốc tịch, bất kể ai từ đâu tới nếu làm việc hiệu quả đều được đánh giá cao. Tôi không hề có cảm giác bị lạc lõng trong nghề nghiệp. Người ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất từ nhãn quan mỹ học đến triết học là giáo sư gốc Nhật J. J. Sakurai ở đại học UCLA. Ông luôn nói với tôi rằng đừng bao giờ tin những lý thuyết đang thịnh hành là lý thuyết cuối cùng, hãy hoài nghi tất cả. Một điều may mắn nữa là tôi đã gặp anh Trịnh Xuân Thuận, một đàn anh học trước tôi hai lớp ở trường Jean Jacques Rousseau ở Sài Gòn (nay là Lê Quý Đôn).

 

Cả cuộc đời kiên định theo đuổi một hướng nghiên cứu, ông nghiệm ra điều gì quý nhất, để có thể truyền lại cho sinh viên?

Kiên nhẫn, đừng bao giờ bỏ cuộc, tư duy độc lập mới có thể đi xa, những gì có được phải tự mình, và phải làm việc rất nhiều. Làm khoa học không thể ngắn hạn, phải biết chấp nhận thất bại. Một lý thuyết gia sai lầm một vài năm khi theo đuổi mô hình này, mô hình kia là chuyện bình thường, không vì thế mà cản trở mình tìm hiểu thêm. Nhưng quả thật với tôi, sự kiên trì gần như là bản tính sẵn có từ nhỏ, không thể muốn mà có được, có chăng là nỗ lực của mình, để nó đừng mất đi thôi. Trong lớp học của tôi có một khẩu hiệu được in trên áo cho cả thầy trò cùng mặc: “Khổ trước sướng sau”, đó cũng là con đường của khoa học. Để ngộ ra một chân lý nào đó có khi phải mất cả đời, hoặc nhiều đời. Những gì khiến mình mất ăn mất ngủ, khi tìm ra thấy ý nghĩa lắm. Để có một hướng nghĩ, giải một bài toán, phải làm tới cùng, với tất cả sự đam mê. Cuộc đời tôi có được ngày hôm nay cũng là nhờ quyết liệt lắm, nhưng tôi luôn tự nói với mình phải quyết liệt nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn còn một phần dè dặt trong bản tánh người Á Đông. Tôi luôn đấu tranh để dẹp nó xuống bằng cách nghĩ: “Họ làm được, sao mình không làm được?”

Đến với Gặp gỡ Việt Nam lần thứ bảy, điều gì khiến ông thú vị nhất?

Tôi rất ấn tượng với công trình của Đàm Thanh Sơn về lực liên kết các hạt, đó là một tính toán rất kỳ công, đưa ra khái niệm hoàn toàn mới có thể thay đổi bài toán rất khó sang một bài toán khác dễ giải hơn. Tôi hy vọng Sơn sẽ nhận được giải thưởng lớn, nhưng để kiểm chứng kết quả này, cũng phải mất nhiều năm nữa. Tuy nhiên, người Việt Nam còn quá ít trong cộng đồng vật lý thế giới, trong khi người Trung Hoa lại rất đa dạng, họ có thể hỗ trợ lẫn nhau. Càng có thế lực, càng có tiếng nói nhiều hơn. Nhưng tôi có niềm tin vào thế hệ trẻ. Một vài em ở Huế cũng rất triển vọng.

Một số người cho rằng thời internet không cần dự hội thảo cũng có thể nắm bắt mọi thông tin, điều đó không đúng. Sự gặp gỡ, trao đổi giữa các nhà khoa học với nhau về một đề tài mà mình đang nghiên cứu sẽ nảy ra nhiều suy nghĩ, tìm tòi, hợp tác mới. Phần nữa là đi để gặp lại bạn cũ. Rất khó để có thể tìm được bạn thân trong cùng một ngành khoa học, để có thể tin cậy, yêu thương, chuyện gì cũng có thể tâm sự, đó là một hạnh phúc hiếm hoi. Con đường khoa học đôi khi rất cô đơn… Tôi chỉ tiếc là giới khoa học Việt Nam dường như không quan tâm đến sự kiện này, có lẽ không có nhiều người làm trong một trình độ có chất lượng cao nên họ ngại tới, đó là một thực tế.

Suốt tám năm gầy dựng và nuôi dưỡng chương trình Vật lý tiên tiến thí điểm của bộ Giáo dục và đào tạo dựa theo chương trình gốc của khoa vật lý đại học Virginia tại đại học Huế, ông đánh giá thế nào về hiệu quả chương trình?

 

Rất khó để có thể tìm được bạn thân trong cùng một ngành khoa học, để có thể tin cậy, yêu thương, chuyện gì cũng có thể tâm sự, đó là một hạnh phúc hiếm hoi. Con đường khoa học đôi khi rất cô đơn…

Khó nhất là xây dựng được phòng thí nghiệm cho sinh viên, tìm được những giáo sư từ bên Mỹ và nước khác qua giảng dạy. Không dễ bởi những người đang làm khoa học, bỏ một tháng qua Việt Nam là rất quý. Tôi phải thuyết phục rất nhiều. Từ năm 2007 đến nay đã có gần 30 lượt giáo sư, tiến sĩ là giảng viên các trường đại học danh tiếng nước ngoài về giảng dạy và nhiều đoàn sinh viên Huế đi học tập và làm việc tại đại học Virginia. Khoá đầu tốt nghiệp năm 2010, hơn mười em được đi du học, sáu em được công ty công nghệ cao Renesas-Nec của Nhật nhận vào làm. Đó là cả một nỗ lực dài xây dựng lại nền tảng tư duy. Sự khác biệt của mô hình đại học Vigrinia chính là rèn luyện tư duy để phát triển, để làm việc, không chỉ với vật lý, mà trước mọi câu hỏi của cuộc đời phải biết cách tìm ra câu trả lời. Tăng sự đối thoại giữa sinh viên và người thầy, trong thi cử, hoàn toàn phải hiểu khái niệm mới làm được, không lặp lại những gì đã biết. Đến nay, mô hình này chỉ áp dụng ở Huế. Tôi hy vọng bộ Giáo dục và đào tạo có kế hoạch phổ cập mô hình này rộng hơn, nhưng quả thực không dễ dàng để tìm được số lượng lớn giáo sư từ Mỹ về vì chi phí rất cao. Với Huế, chỉ hoàn toàn nhờ quan hệ cá nhân của tôi. Huế cũng vừa thành lập trung tâm vật lý lý thuyết và vật lý tính toán mà tôi là một thành viên trong ban cố vấn. Tôi có ý định sẽ kéo những nhà vật lý từ những cuộc hội thảo ở Quy Nhơn về Huế nếu có cơ hội… Thôi thì cứ làm những gì phải làm, tới đâu hay tới đó, không phải cái gì cũng xảy ra như mình muốn.

 

 

 

 

PGS.TS Nguyễn Thám, hiệu trưởng đại học Sư phạm Huế:

“Một nhà khoa học tâm huyết với giáo dục Việt Nam, là cầu nối giữa đại học Huế với đại học quốc tế trong những chương trình vật lý, tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học và trường hè vật lý để sinh viên có thể tiếp cận với vật lý tiên tiến ở nước ngoài. Tạo được uy tín cao trong đồng nghiệp quốc tế, gần gũi, hoà đồng với sinh viên, được sinh viên hết sức kính trọng và yêu thương. Anh đã được trao danh hiệu Giáo sư danh dự của đại học Huế nhờ những tình cảm sâu nặng anh dành cho Huế suốt nhiều năm qua”.

 

 

Lê Thị Ngọc Trinh, sinh viên năm thứ tư chương trình Vật lý tiên tiến đại học Huế:

“Việc tiếp xúc thường xuyên với các giáo sư nước ngoài và các bài giảng hấp dẫn khiến em như được mở ra một chân trời mới. Nghiêm túc và tràn đầy nhiệt huyết, mỗi bài giảng của thầy như lôi cuốn tất cả sinh viên vào những điều mới mẻ. Cách truyền đạt kiến thức của thầy làm cho em có những cái nhìn thú vị về vật lý và niềm đam mê với bộ môn này cứ lớn dần lên. Vui tính, dễ hoà đồng với sinh viên, thầy còn là người rất yêu âm nhạc, trẻ trung và năng động. Phong cách giản dị, lối sống cởi mở, ân cần, chu đáo, vì thế chúng em không bao giờ ngại ngùng đặt các câu hỏi mà mình còn thắc mắc về bài giảng hay tâm sự những khó khăn trong học tập. Thầy thấu hiểu những điều đó và luôn tìm cách giúp đỡ sinh viên”.

Vì sao ông chọn Huế?

 

Tôi nghĩ chính Huế đã chọn tôi. Mỗi lần về đây, tôi được trở lại những gì của tuổi thơ đã nằm sâu trong tiềm thức… Mỗi lần trở về, tôi thấy càng ngày càng gắn bó, hoà hợp hơn với Huế, với người Huế. Nhiều người còn thành kiến với Huế, chỉ coi Huế là nơi phát triển du lịch, tâm linh là rất sai lầm. Bạn bè nước ngoài của tôi cũng thích Huế bởi con người ở đây hiền hoà, khiến họ rất thoải mái.

Làm thế nào để ông có thể giữ được nụ cười luôn tươi trẻ và ấm áp?

Chơi nhạc. Đêm nào tôi cũng dành thời gian cho cây guitar. Âm nhạc giúp cho mình bớt căng thẳng, mọi điều tự nhiên nhẹ nhàng hơn, giống như được đi vào một thế giới mới, tràn đầy cảm xúc. Cậu con út chín tuổi của tôi cũng rất mê nhạc rock của bố. Mỗi lần chở con đi học piano trong một cửa hàng bán nhạc cụ lớn, tôi như được trở về tuổi thơ, lạc trong một tiệm đồ chơi vậy… Tôi cũng mê tiểu thuyết của Murakami, Margaret Atwood, và cả Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… Thời trẻ, tôi còn làm thơ nữa đó (cười)…

Tôi là một người đến già vẫn còn mơ mộng. Năm tháng không làm cho sự lãng mạn trong mình mất đi, chỉ càng tinh tế hơn.

Nhìn vào giới trẻ hôm nay, điều gì khiến ông lo lắng nhất?

Giới trẻ thế giới nói chung, không chỉ Việt Nam, đều thiếu sự dấn thân. Phần lớn chỉ lo làm sao kiếm thật nhiều tiền, vun vén cho cuộc sống cá nhân. Ít ai nghĩ đến chuyện giúp người khác, hoặc nghĩ đến cộng đồng. Một điều đáng buồn nữa là họ ít đọc sách. Nhìn vào nguyện vọng đăng ký vào đại học sẽ thấy: phần lớn là vào các ngành kinh tế, ít ai theo đuổi khoa học cơ bản. Sự rung động trước những vấn đề của cộng đồng cũng ngày một nguội lạnh…

Bí quyết nào đã giúp ông vượt qua những thất bại, hụt hẫng về tinh thần?

Đời người luôn phải đối diện với sự bất như ý, nhưng bản tánh của tôi lúc nào cũng muốn ngẩng đầu lên, không muốn để cái gì đè mình xuống. Có lẽ nhờ lúc nào cũng cố vươn đầu lên mà mọi thứ khó đều qua đi. Ai chẳng có lúc tuyệt vọng, cách mình thoát ra tuỳ thuộc vào từng cá nhân. Những lúc như thế, hãy ngồi xuống, nghe một bản nhạc xưa hay đọc một quyển sách, một bài thơ… bạn sẽ thấy mọi điều thấm thía, rõ ràng hơn nhiều.

Điều gì ông muốn truyền lại cho con?

Tính độc lập. Cái gì mình có thể làm được phải nỗ lực tới cùng, đừng ỷ lại một ai hết, kể cả người thân thiết nhất.

Mong muốn lớn nhất của ông là gì?

Làm sao có thể về Việt Nam nhiều hơn, để giúp được nhiều bạn trẻ hơn trong ngành vật lý thì bản thân tôi rất mãn nguyện.

THỰC HIỆN: KIM YẾN
CHÂN DUNG HỘI HOẠ: HOÀNG TƯỜNG

(C) sgtt.com.vn

Người Việt có nghiên cứu trên tạp chí hàng đầu thế giới

OVSED: Cảm ơn anh Nguyễn Trung Thành (Úc) đã chia sẻ tin này.

Source: http://www.facebook.com/groups/147037265383082/203542469732561/

***

Một nhà khoa học Việt Nam tại Hàn Quốc vừa có công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí Science AAAs của Mỹ, tạp chí khoa học hàng đầu thế giới.

Tiến sĩ Phạm Cao Thanh Tùng.

Trường Đại học Sogang có hai nhà nghiên cứu có công trình đăng tải trên tạp chí Science, trong đó Tiến sĩ Phạm Cao Thanh Tùng là người Việt Nam đầu tiên có bài đăng trên tạp chí này.

Tạp chí Science thuộc Hiệp hội Hoa Kỳ vì nền Khoa học Tiên tiến (AAAS) – một tổ chức ra đời năm 1848, có sứ mệnh “thúc đẩy và bảo vệ tính chính trực của khoa học và việc sử dụng khoa học”.

Khi gửi bài đến Science, ban biên tập phải đọc và chuyển cho ít nhất 2 chuyên gia để đánh giá và phản biện, đề xuất lên ban biên tập về việc cho đăng hay không. Ban biên tập sẽ đọc lại lần cuối và ra quyết định cuối cùng về việc nên cho đăng hay không. Quy trình này tương đối khắt khe, và tỷ lệ bài bị từ chối bởi những tạp chí như Science là rất cao, có khi lên tới 95% hoặc hơn.

Chính vì thế một nghiên cứu khoa học đăng ở Science có giá trị và ảnh hưởng rất lớn.

“Được đăng công trình trên tạp chí Science là ước mơ của người làm nghiên cứu, vì thế tôi rất vui và tự hào khi có công trình nghiên cứu được công bố. Đó không phải là kết quả riêng tôi mà là nỗ lực của cả tập thể thầy trò trong 3 năm qua”, tiến sĩ Phạm Cao Thanh Tùng, 34 tuổi, nói.

Tiến sĩ Tùng cho biết, công trình nghiên cứu của anh về Zeolit và ứng dụng vào lĩnh vực vật liệu mới. Zeolite nguyên thủy trong tự nhiên là một dạng khoáng bao gồm oxít Silic và oxít nhôm. Trong công nghiệp, zeolit được tổng hợp và ứng dụng từ khá lâu làm xúc tác trong ngành công nghiệp dầu khí, làm chất hấp phụ, làm phụ gia trong chất tẩy rửa.

Hướng nghiên cứu của anh là chế tạo các màng mỏng zeolit, và ứng dụng để tách riêng biết các phần tử trong hỗn hợp khí hay các hỗn hợp bao gồm các thành phần có kích thước phân tử khác nhau.

Hướng nghiên cứu này đã được 20-30 năm, nhưng vẫn có những hạn chế trong quá trình chế tạo. Lần này nhóm Tùng đã nghiên cứu chế tạo màng bằng phương pháp pháp mới, tổng hợp thành công lớp màng này, với nhiều ưu điểm nổi trội hơn phương pháp cũ.

“Khi thử nghiệm ứng dụng để tách riêng hỗn hợp 2 đồng phân của xylen, là nguyên liệu đầu tiên của ngành công nghiệp nhựa, kết quả cho độ tách rất cao”, Tùng nói.

“Trong công trình nghiên cứu công bố trên tạp chí Science lần này, ngoài kết quả ứng dụng để tách riêng 2 đồng phân của Xylen, màng mỏng zeolit này còn được nghiên cứu ứng dụng làm vật liệu quang học, gọi là vật liệu quang học phi tuyến tính. Thử nghiệm này cũng cho kết quả cao hơn 10 lần so với các kết quả từng công bố”, Tùng nói thêm.

Tiến sĩ Tùng vẫn đang tiếp tục nghiên cứu cải tiến dựa trên vật liệu này và đã thu được những kết quả mới rất tốt. Anh mong muốn thời gian tới có thêm nhiều hướng nghiên cứu ứng dụng dựa trên vật liệu này.

Phạm Cao Thanh Tùng tốt nghiệp Đai học Khoa học tự nhiên TP HCM năm 1999, hoàn thành thạc sĩ năm 2002. Từng công tác tại viện Công nghệ hóa học, thuộc viện Khoa học Việt Nam tại TP HCM 2000 – 2006. Từ tháng 8/2006, anh làm nghiên cứu sinh tại đại học Sogang, Seoul, Hàn Quốc và tốt nghiệp tiến sĩ 8/2011. Từ tháng 9 năm nay anh đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại trường này.

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho biết, Science là một tạp chí lớn, uy tín có số lượng người đọc lên đến hàng triệu người, nhiều người sử dụng tạp chí này như một nguồn chính thức và chính dẫn lại trong các đề tài nghiên cứu.

“Người ta thường xuyên dựa vào chỉ số Impact factor để đánh giá sự ảnh hưởng của một tạp chí khoa học. Và chỉ số này của tạp chí Science luôn ở mức rất cao”, giáo sư Dũng nói.

Hương Thu

(C) vnexpress.net

Ngôi nhà khoa học Quy Nhơn đã mở

OVSED: Cảm ơn anh Nguyễn Trung Thành (Úc) đã chia sẻ tin này.

Source: http://sgtt.vn/Khoa-giao/157168/Ngoi-nha-khoa-hoc-Quy-Nhon-da-mo.html

***

 

SGTT.VN – Từ ngày 15-22.12.2011, hai hội nghị quốc tế về vật lý hạt và vật lý thiên văn diễn ra tại Quy Nhơn, Bình Định (còn gọi là Gặp gỡ Việt Nam 7), với sự tham dự của hơn 200 nhà khoa học đến từ 29 quốc gia.

Sự kiện này gắn liền với lễ khởi công trung tâm quốc tế khoa học và giáo dục liên ngành (ICISE) do tổ chức Gặp gỡ Việt Nam mà giáo sư – tiến sĩ vật lý nguyên tử người Pháp gốc Việt Trần Thanh Vân làm chủ tịch xây dựng.

 

Mô hình ICISE do kiến trúc sư Pháp Milou thiết kế, hài hoà giữa kiến trúc và thiên nhiên.

 

Với diện tích 18,4 ha, vốn đầu tư 6 triệu USD, gồm hội trường, phòng làm việc, khách sạn 3 sao… dự kiến đưa vào hoạt động vào cuối năm 2012, hình hài “Ngôi nhà khoa học Quy Nhơn” đã thực sự làm ấm lòng tất cả những ai có mặt trong sự kiện này.

Niềm vui vì “nhà” đã có

Gặp giáo sư TS vật lý Đàm Thanh Sơn, đại học Washington, Hoa Kỳ trong buổi tiệc tối do UBND tỉnh Bình Định chiêu đãi, ông tỏ ra rất hào hứng: “Nhìn vào danh sách những nhà khoa học nổi tiếng có mặt trong sự kiện này, có rất nhiều người tôi nôn nóng muốn gặp. Chỉ có GS Trần Thanh Vân mới đủ uy tín mời được những người nổi tiếng như thế… Đây cũng là dịp để giới khoa học quốc tế biết đến Việt Nam và giúp Việt Nam. Nhìn những nỗ lực không mệt mỏi của hai vợ chồng GS Trần Thanh Vân cho các cuộc Gặp gỡ Việt Nam diễn ra từ 1993 tới bây giờ, tôi thực sự thấy… hơi phí. Đáng lẽ nên có sự hậu thuẫn trong nước cho những hoạt động này, vì rất nhiều người nước ngoài muốn giúp đỡ Việt Nam”.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận cũng đánh giá cao sự ra đời của ICISE: “Nhìn hai vợ chồng anh Thanh Vân tóc đã bạc phơ mà vẫn bền bỉ bỏ hết sức lực cho khoa học bành trướng ở Việt Nam, giúp các thế hệ sau có tinh thần nghiên cứu khoa học, có kiến thức về vật lý cơ bản, tôi rất cảm động. Anh luôn có những sáng kiến tuyệt vời, đưa giới khoa học đến gần với thiên nhiên, với vẻ đẹp của văn hoá tinh thần, để từ đó có cảm hứng sáng tạo. Ít nhà khoa học nào có tài tổ chức, tài quản trị như anh. Tôi biết đây là chuyện rất khó, phải vượt qua bao trở ngại để tìm ngân sách, lo thủ tục”.

Ông Jerome I Friedman, giáo sư nghiên cứu viện kỹ thuật Massachusetts (Mỹ) cho rằng dự án là cơ sở để thiết lập các hợp tác quốc tế và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục cũng như nghiên cứu liên ngành của Việt Nam như một đối tác đầy đủ của cộng đồng khoa học quốc tế. Giáo sư Martin Perl, giải Nobel vật lý năm 1995 dù không tới được cũng gửi thư chúc mừng, trong thư ông vạch rõ ba mục tiêu của ICISE: “Thứ nhất nó cung cấp không gian để trao đổi nghiên cứu khoa học và các ý tưởng mới cho các quốc gia khu vực Đông Thái Bình Dương. Thứ hai, cung cấp điểm nghiên cứu khoa học lý tưởng. Thứ ba, mở rộng cơ hội đào tạo khoa học ở Việt Nam và các nước láng giềng…”

Không thể không nhắc tới nỗ lực của UBND tỉnh Bình Định, nơi tạo mọi điều kiện cho chất xám chảy về. Ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cam kết: “Với mong muốn thu hút nhiều nhà bác học lớn trên thế giới đến Việt Nam, giúp đỡ các bạn trẻ phát triển tài năng… chúng tôi đã sang Pháp, Mỹ, mời gọi các giáo sư về Bình Định. Việc này đã được tiến hành từ các nhiệm kỳ trước, và tôi tiếp tục công việc còn dang dở ấy. Tôi tin là các nhiệm kỳ sau, lãnh đạo tỉnh vẫn duy trì chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật, coi đó là mũi nhọn để phát triển kinh tế, giúp thế giới biết đến Việt Nam”.

Và nỗi lo “người trông nhà”

Băn khoăn lớn nhất của các nhà khoa học là cần có một chiến lược quyết liệt của Nhà nước cho phát triển khoa học cơ bản. Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói: “Điều tôi buồn nhất là giáo dục khoa học cơ bản Việt Nam không được nhà lãnh đạo coi trọng một cách xứng đáng. Môn vật lý thiên văn không có ở Việt Nam, không có đài thiên văn, cũng không đầu tư cho khảo cứu khoa học cơ bản, chỉ tập trung vào khoa học thực dụng. Như vậy là sai. Phải có khoa học cơ bản mới có khoa học thực dụng. Đồng lương cho giáo viên, đầu tư cho giáo dục còn quá thấp. Sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học ngày một nhiều, nếu không muốn mất họ thì phải tạo điều kiện cho họ trở về. Tiếp xúc với sinh viên trong những ngày qua, tôi thấy các em rất đam mê khám phá khoa học, chịu học, thông minh… nhưng để vươn tới sự cạnh tranh trong khoa học, đó là vấn đề của các nhà chính trị”.

Đề cập đến tinh thần dấn thân, sự đam mê nghiên cứu khoa học của giới trẻ, giáo sư Đàm Thanh Sơn cho rằng: “Không thể kêu gọi các bạn trẻ quên hết mọi thứ để lao vào khoa học trong khi bản thân họ không nhìn thấy một tiền đồ tươi sáng cho sự nghiệp. Hãy quan tâm tới những bạn đang đi theo khoa học, làm thế nào để các bạn ấy có điều kiện tốt nhất nghiên cứu khoa học. Các bạn trẻ hơn sẽ nhìn vào tấm gương đó để tự nguyện dấn thân. Cải cách giáo dục đại học không thể làm đại trà. Để khoa học phát triển, ít nhất chúng ta phải tập trung xây dựng được một, hai trường đại học đạt chuẩn quốc tế. Để có một đại học như thế, phải đánh giá đúng tài năng giáo viên, và trả lương cho họ đúng với tài năng, đặt người giáo viên ở trung tâm của trường đại học. Nếu những người trẻ được tạo điều kiện phát triển trong nước thì những người như tôi sẵn sàng giúp đỡ. Ở Việt Nam, tôi đã nhìn thấy những người thầy rất tâm huyết với học sinh. Hệ thống giáo dục phải đánh giá đúng và trân trọng những người có tâm huyết với giáo dục, tạo điều kiện cho họ phát huy sức mạnh”.

BÀI VÀ ẢNH: HƯƠNG XUÂN

 

 

 

Vợ chồng GS Trần Thanh Vân (giữa) cùng hai cháu nội và GS viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu trong lễ khởi công ICISE.

 

Giáo sư Trần Thanh Vân: Muốn giàu mạnh phải đầu tư khoa học

Tận tụy đến không thể tận tụy hơn, giản dị đến không thể giản dị hơn, hai vợ chồng GS Trần Thanh Vân, hai nhà khoa học đã là hai điểm sáng đẹp nhất giữa lòng bạn bè quốc tế. Nhìn hai ông bà lo cho từng người từ chuyện ăn, chuyện ở, chuyện đi lại, đến những việc đại sự cho ICISE, mới hiểu vì sao các nhà khoa học thế giới đều quý trọng và ngưỡng mộ tấm lòng của hai vị giáo sư già cho khoa học, và cho Việt Nam suốt mấy chục năm qua

Kinh nghiệm nào đã giúp ông làm được những việc đầy ý nghĩa như thế cho Việt Nam?

Tôi luôn mong được trời thương mà thôi. Tất cả những việc tôi làm từ trước đến nay đều hoàn toàn độc lập, không có sự hỗ trợ của chính phủ, kể cả Việt Nam và Pháp. Nhưng khi thấy mình làm được, sau đó cả hai chính phủ đều giúp rất nhiều. Tôi hiểu hơn ai hết rằng nếu phụ thuộc vào chính quyền thì khi chính quyền thay đổi, sẽ rất khó cho mình. Tôi chỉ làm việc với cá nhân, những người có nhiệt huyết. Ở Việt Nam hỗ trợ tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Văn Hiếu. Năm 1963, Nam Bắc còn chưa thống nhất, ở Paris tôi đã gặp anh, người luôn đặt khoa học lên trên tất cả mọi chuyện. Vào những năm 90, ở miền Bắc, chỉ có anh là người không sợ bị chỉ trích, sẵn sàng giúp tôi mọi thủ tục để làm cuộc Gặp gỡ Việt Nam đầu tiên. 50 năm qua rồi anh vẫn nhiệt tình như thế, tình nghĩa giữa chúng tôi rất sâu, rất đậm. Sau này tôi còn có nhiều người bạn khác, nhưng anh Hiếu vẫn là người che chở chúng tôi nhiều nhất

Tài trợ cho nhiều chương trình phát triển giáo dục Việt Nam, tìm kiếm học bổng cho sinh viên học sinh, hơn 10 năm qua ông còn rất tâm huyết với chương trình “Bàn tay nặn bột”?

Đó là chương trình dạy cho các giáo viên cấp tiểu học kiến thức để có thể nâng cao trí tò mò của học sinh, tập cho các em cách đặt câu hỏi, tự tìm ra những giải pháp, và viết lại về sự hiểu của mình…Những chuyện nho nhỏ như thế chính là tạo tiền đề cho một tư chất khoa học tương lai. Phải dạy ngay từ bậc tiểu học thì lên đại học các em mới có cơ sở tìm ra những cái mới, động lực quan trọng nhất trong khảo cứu khoa học. Chứ đợi lên đại học rồi thì không dạy được nữa. Năm vừa rồi tôi đã thuyết phục được Bộ Giáo dục đào tạo bằng lòng cho vào chương trình giáo khoa một phần nào đó của chương trình, để giáo viên có những nội dung giảng dạy mới hơn

Nhìn từ kinh nghiệm của các nước, ông thấy bài học nào là thiết thực nhất cho Việt Nam, để xây dựng một chiến lược phát triển khoa học?

Phải nhìn vào thực tế. Cách đây 30 năm, Mao Trạch Đông đã buộc tất cả các nhà khảo cứu, giáo sư đại học về thôn quê đi cày, Campuchia đã từng giết bao nhiêu nhà khoa học. Sau bao nhiêu năm, từ chỗ không có gì, họ đã có được một đội ngũ khoa học khiến các cường quốc phải nể sợ. Ngay như châu Âu bây giờ, để làm nhà máy điện năng lượng mặt trời, mọi vật liệu đều phải mua từ Trung Quốc. Cách đây 30 năm, chúng ta cũng có một nền khoa học khá tốt. Nhưng sau 30 năm khoa học mình chẳng phát triển gì, vì sao? Lo âu của chúng tôi ở nước ngoài là những vị lãnh đạo có nhìn thấy, để đầu tư cho khoa học không?Tôi ngạc nhiên là suốt chiều dài 3.000 km bờ biển, đi đến đâu cũng nói đặc kín hết rồi bởi các khách sạn năm sao, các khu du lịch. Làm sao du lịch có thể chiếm giữ tất cả bờ biển như thế? Chẳng lẽ chúng ta chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền ngay. Muốn tương lai đất nước giàu mạnh, chẳng còn con đường nào khác là đầu tư khoa học. Chúng ta đang có cái nhìn rất thiển cận về khoa học.

Hiện tôi đang chọn một số học sinh, sinh viên đưa sang học châu Âu trong các trường kỹ sư. Tôi mong trong tương lai có thể có một trường kỹ sư Việt Nam chất lượng tương đương châu Âu. Việc này không thể làm một mình, tôi chỉ tạo cơ hội để Bộ Giáo dục thực hiện. Không thể cái gì cũng kinh doanh, phải có đầu tư của chính phủ để có một trường công lập chất lượng cao

Với “ngôi nhà khoa học Quy Nhơn”, cách thức hoạt động của ICISE có gì đặc biệt?

Thủ tục làm mất ba năm, tôi tỏ ra sốt ruột thì anh em Việt Nam lại nói rằng như thế là quá nhanh rồi! Chỉ tiếc giá như được sớm hơn một năm thì chúng tôi sẽ không gặp phải khủng hoảng kinh tế, số tiển dành dụm được sẽ không bị mất đi đến 30%… Tôi muốn có chỗ để đón tiếp các giáo sư quốc tế trong mùa hè với gia đình của họ, gặp gỡ với các nhà khoa học VN, cùng chơi, cùng sống chung với nhau… Sáng tạo luôn nảy sinh từ những lúc thảnh thơi. Tôi chỉ mong nơi này trở thành một địa điểm giúp khoa học Việt Nam có sự liên lạc, để xây dựng tình cảm, từ đó có được những công trình khoa học và cùng tiến bộ với thế giới. ICISE chỉ là một chuyện nhỏ, giống như gieo những hạt giống, còn các nhà khoa học VN có đón nhận hay không là tùy họ.

Mối quan hệ với những nhà khoa học trong ngành vật lý hạt tôi đã xây dựng hơn 45 năm nay, từ khi chúng tôi còn rất trẻ, chưa có tên tuổi gì. Cái gì cũng phải có thời gian. Bạn bè khoa học lúc đầu chỉ có vài người, dần nhân lên, có lẽ các bạn thấy sự xông pha của mình nên thương. Giờ đã thành thông lệ mỗi lần Gặp gỡ Việt Nam ai cũng muốn có công trình mới để đến trình bày với bạn bè…

Sức mạnh nào khiến ông bà có thể theo đuổi bền bỉ như thế cho sự nghiệp trồng người?

Thấy cái gì làm được mà không làm thì tâm đâu có yên. Có rất nhiều người bạn hết sức tâm huyết với chúng tôi, nếu mình để mất cơ hội ấy cho Việt Nm thì rất uổng. Sống cho mình thì đơn giản lắm, nhưng tôi “bị bắt buộc” phải sống cho cộng đồng mình. Điều tôi buồn nhất là bạn bè nước ngoài thì rất nhiệt tình, làm việc chẳng quản ngại, nhưng tìm ra một người Việt Nam có tinh thần ấy sao khó quá, ai cũng đặt vấn đề tiền bạc cả. Những người như ông Hiếu, ông Nguyễn Văn Hiệu rất ít. Tôi mong những xông pha cực khổ của chúng tôi sẽ khiến mọi người có một cái nhìn khác, bớt đi tư tưởng phải kiềm tiền ngay. Các nhà khoa học VN phần lớn đều có công ty riêng, do lương bổng kém nên họ phải tập trung kiếm tiền để lo cho cuộc sống hàng ngày. Vậy thì làm sao có thời gian khảo cứu. Cũng không trách họ được…

(C) sgtt.vn

Next