Archive for the 'Economics' Category

Ba thay đổi chóng mặt ở “đảo quốc Sư tử”

HỒNG NGỌC
27/09/2011 15:01 (GMT+7)
Singapore đã thay đổi chóng mặt kể từ khi tách ra khỏi Malaysia vào năm 1965 tới nay.

Ra đời cách đây chưa đầy nửa thế kỷ, quốc gia có diện tích chỉ bằng thành phố New York, ngày nay đã có mức thu nhập bình quân đầu người ngang bằng với Pháp, tờ Les Echos bình luận về những thay đổi chóng mặt ở Singapore.

Trong một bài viết mang tựa đề “Singapore, hòn đảo liên tục vận động”, Les Echos nói về những biến chuyển gần đây tại một trong những quốc gia năng động nhất hành tinh. Theo tờ báo Pháp được RFI dẫn lại, Singapore hiện là cánh cửa mở vào toàn bộ khu vực Đông Nam Á, với thế mạnh là những ngành công nghiệp mang lại giá trị gia tăng cao.

Mới đây, Singapore đã tổ chức giải đua ôtô Công thức 1 lừng danh thế giới. Không phải yêu thích tiếng động cơ gầm rú mà Singapore chấp nhận tổ chức giải đua ôtô. Thiên đường rất sạch sẽ chỉn chu này muốn xóa đi hình ảnh một quốc gia “tẻ nhạt” để hấp dẫn thêm khách du lịch từ nước ngoài đổ vào.

Hai sòng bạc mới được mở ra vào năm 2010, bất chấp khủng hoảng kinh tế, đã thu được nhiều tiền hơn cả “kinh đô bài bạc” Las Vegas. Để đạt được mục tiêu thu hút hơn một triệu du khách hàng tháng, Singapore muốn xóa mờ hình ảnh của một đất nước cấm kẹo cao su và trừng phạt mọi vi phạm giao thông dù hết sức nhỏ.

Theo Les Echos, sự thay đổi chóng mặt ở “đảo quốc Sư tử” tựu chung lại có 3 điểm chính yếu. Thứ nhất, Singapore là một đất nước thường xuyên kết hợp giữa thái độ thích nghi rất thực tế với những kế hoạch dài hạn.

Sống bên cạnh một nước Trung Hoa khổng lồ, quốc gia tí hon gần 5 triệu dân vốn hoàn toàn không có tài nguyên đã biết cách để trở thành một nền kinh tế không phụ thuộc hoàn toàn vào các hoạt động cung cấp dịch vụ. Theo một chủ doanh nghiệp, công nghiệp chiếm từ 20 đến 30% tổng sản phẩm quốc nội của Singapore.

Một người dân Singapore cho biết, đảo quốc này đã biết phát triển các nền tảng có sẵn nơi đây từ thời còn là thuộc địa của Anh quốc, như : tiếng Anh được sử dụng phổ biến, luật pháp được tôn trọng, không có tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ, thuế thấp, nền hành chính hết sức có hiệu quả…

Trong thời gian khủng hoảng kinh tế năm 1998, theo ông Pierre Verdière, đại diện của Công ty Hermès và Chủ tịch Phòng thương mại Pháp tại Singapore, phần đóng góp của chủ vào tiền lương đã được hạ xuống từ 10 – 20%, điều này khiến cho đảo quốc tiếp tục là nơi thu hút đầu tư.

Tuy nhiên kinh nghiệm này không thể được áp dụng tại Pháp, theo nhận định của Chủ tịch Phòng thương mại Pháp. Một kinh nghiệm khác của Singapore là biết để cho các ngành công nghiệp không còn khả năng cạnh tranh nữa “xẹp xuống một cách từ từ” và biến mất, chứ không cố sức bảo vệ chúng.

Nét lớn thứ hai, theo Les Echos, là Singapore đã tìm ra được hướng đi trong việc nỗ lực trở thành nơi sản xuất và lắp ráp các sản phẩm tiên tiến nhất của thế giới. Singapore muốn trở thành một điểm cân bằng giữa một nước Trung Quốc 1,3 tỷ dân và phần còn lại của khu vực, với một Ấn Độ 1,1 tỷ người cùng một Đông Nam Á 600 triệu dân.

Hơn 10% vật liệu bán dẫn được sản xuất ở Singapore. Nước này cũng phát triển được nền công nghiệp hóa dầu, đầu tư mạnh vào các phòng Nghiên cứu và Phát triển (R&D). Cách trung tâm thành phố chưa đầy nửa giờ là một khu khoa học công nghệ mới, phát triển các nghiên cứu công nghệ có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận, như công nghệ sinh học…

Theo một chủ doanh nghiệp, mục tiêu của Singapore không phải là dẫn đầu trong nghiên cứu phát triển (R&D), mà là trở thành một địa chỉ được tin cậy trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, nét lớn thứ ba theo Les Echos lại là các yêu sách xã hội ngày càng tăng tại đảo quốc. Trước hết, Singapore sẽ gặp phải các giới hạn về dân số và diện tích trong vòng hai, ba thập niên tới. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Singapore Lawrence Wong thừa nhận nước này sẽ phải học cách sống được với một mức độ tăng trưởng thấp hơn trước.

Theo một nhà nghiên cứu, hơn 10 năm nay, khoảng cách thu nhập giữa các nhóm xã hội dãn ra hơn. Lần đầu tiên, thu nhập của nhóm 20% những người nghèo nhất chững lại. Khoảng 5 năm nay, Singapore phải lập hệ thống bảo hiểm giúp những người thu nhập thấp. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội mới đây, đảng cầm quyền tại Singapore đã vấp phải nhiều phản đối của cử tri.

(vneconomy.vn)

Coffee Harvest in VN May Reach Record on Good Weather

Coffee Harvest in Vietnam May Reach Record on Good Weather, Increased Area

By Bloomberg News - Sep 23, 2011 11:06 AM GMT+0200

Vietnam, the second-largest coffee grower, may produce a record crop in the upcoming harvest as favorable weather and a larger cultivated area boost output in the 2011-2012 season, increasing global supplies.

Production may total 1.32 million metric tons, according to the median estimate in a Bloomberg survey of 12 traders, growers and exporters. That compares with 1.12 million tons, or 18.7 million, 60-kilogram bags, in the last crop, according to a U.S. Department of Agriculture estimate. For 2011-2012, the USDA has forecast output of 1.24 million tons, which would be an all-time high, according to data stretching back to 1959.

Record production from Vietnam, the largest grower of robusta coffee, used in instant drinks, may boost exports and further lower prices that have shed 23 percent from their peak this year. Coffee has slumped on speculation that supplies may gain as a slowdown in global growth pares demand.

“A lot of new trees have come into play and the weather has been favorable,” Jens Nielsen, founder of Singapore-based Oriental Coffee & Commodities Pte, said in a telephone interview yesterday. “I am in no doubt we will see a new, record crop.”

Robusta futures surged to $2,672 per ton on March 18 on London’s NYSE Liffe, the highest level in three years, on concern that availability was constrained. The November-delivery contract — which fell to $1,996 yesterday, the lowest price since July 21 — was at $2,048 at 4:53 p.m. inSingapore today.

‘Rude Health’

The survey finding matches the outlook from Volcafe, the coffee unit of commodities trader ED&F Man Holdings Ltd., which forecast a record Vietnam crop of 22 million bags (1.32 million tons) in 2011-2012, according to a report earlier this month. The report cited a crop “in rude health,” with rising output backed by expansion, excellent farm management and good weather.

The harvest in Vietnam may replenish local stockpiles, which are almost depleted after the rally in the initial months of 2011 prompted farmers to sell more of their crop earlier in the year, cutting export volumes in later months. Shipments may have been 40,000 tons in August, according to an estimate from Vietnam’s General Statistics Office on Aug. 25. That’s 49 percent lower than in the same period last year.

“The coffee price has been very good this year, and it may prompt farmers to start picking some coffee early,” Nguyen Van An, general director of Thai Hoa Production & Trading Corp., the country’s third-biggest exporter, said in a telephone interview. The peak of the crop is likely to come in November, he said.

Largest Region

Weather conditions in Dak Lak province, Vietnam’s largest coffee-growing region, will be favorable for production over the next ten days, the Dak Lak Hydrology and Meteorology Office said in a Sept. 21 report, with heavy rains at times.

Rain in Buon Ma Thuot, the biggest coffee-growing area in Dak Lak, totaled 1,433 millimeters (56.4 inches) this year, compared with 1,206.5 millimeters in the same period last year, according to figures from the meteorology office.

“There has been a lot of rain in the region and it’s very good for the crop at this point,” said Bui Hung Manh, head of the business department at Tay Nguyen Coffee Investment, Import and Export Co., the country’s biggest shipper. “But if more rains come during the picking period and drying time, then it’ll hurt the harvest,”

Vietnam’s total area planted to coffee rose 1.8 percent to 548,200 hectares (1.35 million acres) in 2010-2011, the Ministry of Agriculture and Rural Development said on Feb. 9.

To contact the reporters on this story: Nick Heath in Hanoi at nheath2@bloomberg.net; Nguyen Dieu Tu Uyen in Hanoi at uyen1@bloomberg.net

To contact the editor responsible for this story: James Poole at jpoole4@bloomberg.net

(bloomberg.com)

Người đầu tư giáo dục “khác thường”

Doanh Nhân (13/07/2011) Xuất phát điểm khi bước vào con đường kinh doanh của bà Nguyễn Thị Kiều Oanh, Chủ tịch HĐQT Trường Quốc tế Canada (CIS), là nhu cầu của một người mẹ.

 

Đôn đáo tìm trường cho con trong nhiều năm liền, bà hiểu được nỗi khổ tâm của những phụ huynh có cùng khát vọng là muốn cho con được học tập trong môi trường giáo dục hoàn hảo. Kinh doanh với khát vọng, để thỏa mãn nhu cầu nên bà có những chiến lược khiến nhiều người phải… giật mình.

tc

Ảnh: Quý Hòa

 

Trường Tây cho người Việt

* Trong khi trường quốc tế xuất hiện khá nhiều ở trung tâm thành phố thì bà lại ra tận Bình Chánh mua đất và cũng xây trường quốc tế, bà có nghĩ là mình mạo hiểm quá không?


- Trước khi đến với quyết định đầu tư vào kinh doanh giáo dục, tôi có một quãng thời gian dài chạy từ trường này sang trường khác, từ trường công sang trường tư, từ trường quốc tế “tự phong” cho đến trường Tây trên đất Việt.

 

Không phải khảo sát thị trường mà là tôi đi tìm trường cho con mình. Cũng như mọi người mẹ khác, tôi muốn con mình được hưởng thụ một nền giáo dục tiên tiến, được hòa nhập với một môi trường năng động…

 

Nhưng tất cả đã không diễn ra như tôi mong đợi, và thật xót lòng khi thấy con cứ bị “tha” đi khắp nơi, thậm chí chỉ trong vòng một năm mà thay đổi tới ba trường khác nhau cho các cháu!. Ngay từ khi đó, ý tưởng về một ngôi trường ước mơ đã hình thành và vợ chồng tôi đã có cơ hội bắt tay vào hiện thực hóa ước mơ của mình từ năm 2007.

 

Khu vực trung tâm thành phố không đáp ứng được yêu cầu đầu tư nên tôi chọn Bình Chánh. Tôi quan niệm, trong giáo dục, khoảng cách địa lý không là vấn đề. Quan trọng hơn cả vẫn là môi trường và phương pháp giáo dục.

 

* Vì vậy mà bà sang tận Canada để tìm hiểu hệ thống giáo dục của quốc gia này và áp dụng tại Việt Nam?


- Chúng tôi chọn Canada vì đây là đất nước có nền giáo dục chất lượng cao, hệ thống chính trị ổn định và ôn hòa. Đây cũng là một trong những quốc gia có cộng đồng người Việt sinh sống với tỷ lệ cao so với các nước khác. Canada cũng nổi tiếng là một quốc gia đa văn hóa, không có tình trạng kỳ thị sắc tộc.

 

Chúng tôi cảm thấy hài lòng khi đặt vấn đề hợp tác, họ đã tỏ ra rất tôn trọng nền văn hóa Việt Nam và mong muốn có cơ hội giới thiệu nền giáo dục Canada tại Việt Nam.

 

Lý do thứ hai khiến chúng tôi quyết định chọn chương trình Canada vì theo kết cấu chương trình của họ. Chúng tôi có thể đưa môn tiếng Việt vào thời gian học chính khóa chứ không phải như một môn ngoại khóa.

 

Tôi muốn người nước ngoài và hệ thống giáo dục của họ phải phục vụ cho người Việt, chứ không phải người Việt phải “xin xỏ” để được vào học ở các trường Tây. Và muốn làm được vậy thì phải dùng công cụ kinh tế.

 

* Vậy có thể hiểu rằng, bà chọn hệ thống giáo dục của Canada vì thuận lợi về tài chính?


- Hình thức hợp tác của chúng tôi với đối tác tại Canada là độc lập hoàn toàn về tài chính. Họ không tham gia đầu tư mà chỉ cung cấp chương trình, đội ngũ nhân sự làm công tác chuyên môn và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo cũng như bằng cấp cuối cùng. Chúng tôi trả phí cho họ để thực hiện những nhiệm vụ này.

 

Và như vậy, không thể nói là “thuận lợi về tài chính” mà chính xác hơn, phải gọi là “thuận lợi về cơ chế hợp tác”. Tôi rất hài lòng về hình thức hợp tác này bởi không phải phụ thuộc đối tác nước ngoài về mặt tài chính mà chỉ khai thác thế mạnh của họ về mặt chuyên môn..

 

* Canada là quốc gia rất ít quảng bá về giáo dục. Trong thương vụ ấy, bà có gặp khó khăn?


- Thông qua sự giúp đỡ tận tình của Lãnh sự quán Canada tại TP.HCM cùng các cộng sự thân thiết khác tại Canada và Việt Nam, chúng tôi đã có được mối quan hệ hợp tác rất thành công với Sở Giáo dục vùng Niagara (thuộc tỉnh bang Ontario, Canada).

 

Đây là một sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ Giáo dục Ontario, hiện đang quản lý gần 200 trường phổ thông các cấp tại vùng Niagara. Sở giáo dục Niagara chịu trách nhiệm tuyển dụng cho chúng tôi Ban giám hiệu cũng như toàn bộ các giáo viên từ Canada, đồng thời cung cấp chương trình và tư vấn việc thực hiện chương trình cho CIS tại Việt Nam.

 

Giáo dục ở Canada rất chú trọng việc bảo tồn bản sắc văn hóa, thế nên dù sử dụng tiếng Anh nhưng mỗi ngày họ đều dành một giờ học tiếng mẹ đẻ như tiếng thổ dân, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha…

 

Vậy nên, ở CIS, tất cả học sinh Việt Nam các cấp đều được học tiếng Việt với thời lượng mỗi ngày một tiết. Tiếng Việt cũng là một trong 30 tín chỉ bắt buộc đối với học sinh Việt Nam để lấy bằng Tú tài phổ thông Ontario theo chương trình tại đây.

 

Và đó là một trong những điều tâm đắc nhất của chúng tôi, vì ngay từ đầu, chúng tôi đã chủ trương mong muốn mang lại cho các học sinh Việt Nam một môi trường học tập tiêu chuẩn cao với chất lượng và bằng cấp quốc tế, nhưng vẫn phải giúp các em học sinh của mình giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng mẹ đẻ.

 

* Tuy là trường quốc tế nhưng lại giảng dạy bằng tiếng Việt xen kẽ, chứ không phải hoàn toàn bằng tiếng Anh, phụ huynh phản ứng thì làm thế nào, thưa bà?


- Đầu tư vào giáo dục là một sự nghiệp lớn vì đó là đầu tư vào con người nên không thể xem nhẹ, và cũng không thể dễ dàng thay đổi các mục tiêu ban đầu vì những áp lực khách quan hay chủ quan.

 

Tôi quan niệm, nếu được học theo chương trình quốc tế, nói tiếng Anh rành rẽ mà không thông thạo tiếng mẹ đẻ thì đó là bi kịch cho đứa trẻ và cho cả gia đình.

 

Tôi nhớ, có lần nghe con nói: “Mẹ vỗ hands, đi mẹ”, tôi đã ngớ người ra. Tôi biết tiếng Anh mà còn vậy, nếu con tôi nói câu này với ông bà, liệu ông bà sẽ phản ứng ra sao?

 

Một số phụ huynh khi đến CIS đã góp ý về chương trình tiếng Việt của trường. Họ bảo muốn đổi giờ học tiếng Việt sang học một thứ tiếng khác vì họ có thể dạy con tiếng Việt ở nhà, nhưng tôi từ chối.

 

Đi nước ngoài nhiều nên tôi thường trải qua cảm giác lạc lõng khi mình là người “ngoại quốc”. Khi ra nước ngoài, dù có sử dụng tiếng Anh tốt đến đâu, xã hội phương Tây cũng không thừa nhận và mình vẫn là người lạ. Chỉ khi về với quê hương, mình mới đích thực là thành viên của cộng đồng mình đang chung sống.

 

Với những đứa trẻ không được học tiếng Việt bài bản, chúng không hiểu hết các giá trị của cộng đồng người Việt thì làm sao có thể hòa đồng. Khi đó, chúng rơi vào trạng thái không nguồn cội. Rất nhiều người Việt xa xứ đã trải nghiệm nỗi đau khổ này.

 

Ở chiều ngược lại, khi con cái không hiểu tiếng Việt, làm sao cha mẹ dạy con? Tôi tin là có những thông điệp chỉ dùng tiếng mẹ đẻ mới có thể truyền tải hết ý được. Thế nên, dù đi ngược với nguyên tắc kinh doanh: khách hàng là trên hết, tôi vẫn không kiên trì với con đường mình đã chọn.

 

Giáo dục toàn diện

* Trên những tài liệu giới thiệu về CIS không có hình ảnh các cô, cậu học sinh người nước ngoài như các trường quốc tế khác vẫn làm. Lại là một kiểu “đi ngược” của bà chăng?

tc_1

- Tôi xác định phân khúc CIS nhắm đến là học sinh Việt Nam. Thực chất, thị trường phục vụ học sinh quốc tế đã bão hòa và mang yếu tố không ổn định, do chủ yếu học sinh quốc tế là con em của đối tượng chuyên gia nước ngoài đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam với thời hạn nhất định.

 

Trong khi đó, nhu cầu hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến của người Việt còn rất cao. Quan niệm đầu tư cho việc học hành của con cái là quan trọng nhất vẫn hiện hữu trong ý nghĩ của đa số người Việt. Tôi cho rằng đó là cơ hội cho những nhà đầu tư nghiêm túc với giáo dục.

 

* Theo đánh giá của bà, cơ hội ấy có mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư?


- Nhu cầu hội nhập của đất nước cộng với quan niệm truyền thống trong đầu tư cho con cái của phụ huynh ở Việt Nam là cơ hội rất lớn cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. So với các lĩnh vực kinh doanh khác hiện nay, đầu tư vào giáo dục là ít rủi ro nhất và tính ổn định cũng rất cao…

 

* Vì vậy nên bà khá mạnh tay trong đầu tư cơ sở vật chất cho CIS?


- Dù hiện nay các thông tin kinh tế đều cho rằng đầu tư vào giáo dục đang là lĩnh vực hấp dẫn nhất trong các hạng mục đầu tư, nhưng ai là người trong cuộc rồi mới hiểu đầu tư cho giáo dục không thể thu lời ngay, nếu đầu tư nghiêm túc.

 

Ngoài khuôn viên giảng dạy đầy đủ tiện nghi, sân chơi, CIS còn có sân đá bóng, sân golf, hồ bơi, có riêng một nhà văn hóa với rạp chiếu phim, phòng hòa nhạc…

 

Tất cả chỉ với mục đích là tạo không gian thoải mái nhất cho việc lĩnh hội kiến thức và phát huy tối đa khả năng của mỗi học sinh. Thú thật, tôi cũng khá mạnh tay trong chi tiêu, nhưng đó đều là những khoản chi hợp lý. Tôi chưa bao giờ lãng phí, dù chỉ một đồng.

 

* Nhưng vấn đề cốt lõi của giáo dục vẫn là chương trình đào tạo. Chả phải ngày xưa Mạc Đĩnh Chi đọc sách bằng đèn đom đóm mà vẫn học rất giỏi đó sao, thưa bà?


- Trong thời đại hiện nay, tôi nghĩ hai yếu tố này song hành cùng nhau. Vật chất đầy đủ sẽ giúp óc sáng tạo được phát huy nhiều hơn. Tôi cũng rất quan tâm đến chương trình đào tạo, nhưng do là nhà đầu tư chứ không phải nhà giáo nên việc điều hành trường tôi giao toàn quyền cho thầy hiệu trưởng.

 

Phải biết mình là ai, khả năng của mình đến đâu thì mới điều khiển được cuộc đời mình. Ôm đồm nhiều việc thì sẽ hạn chế việc phát huy bản thân và cản trở người khác. Tôi đã tìm hiểu rất kỹ và hoàn toàn tin tưởng vào chương trình giáo dục toàn diện của Canada. Không chỉ dạy kiến thức, họ còn giúp các em phát huy năng khiếu của bản thân và ý thức được trách nhiệm đối với xã hội.

 

Bài học từ con trẻ

* Đã hiện thực hóa được giấc mơ về ngôi trường theo đúng chuẩn của riêng mình, chắc hẳn bà đã không còn phải ngược xuôi tìm trường cho con?

 

- Ba đứa con tôi đều là học sinh của CIS. Hai cháu lớn học cấp 3, cháu nhỏ nhất học cấp 1. Tôi luôn tự đặt mình ở cương vị là những người làm cha mẹ khi xem xét mọi vấn đề ở CIS với suy nghĩ: Khi tôi hài lòng được về việc học tập của các con tôi tại CIS, thì có nghĩa là tôi có thể hy vọng nhiều bậc cha mẹ khác cũng có thể hài lòng như tôi.

 

* Bất cứ bà mẹ nào cũng mong con mình vượt trội. Với kết quả học tập của con như thế, bà có băn khoăn và tự trách mình?


- Tôi không bao giờ có suy nghĩ phải tạo áp lực cho con cái trong việc học tập, ngay cả khi là chủ đầu tư của CIS. Dù các con tôi cũng luôn tự ý thức rằng bây giờ là học sinh của CIS, các cháu rất muốn cha mẹ được hãnh diện vì mình, nhưng tôi và chồng tôi chỉ định hướng các mục tiêu cho các cháu chứ không bao giờ tạo áp lực.

 

Các con tôi học chưa phải xuất sắc, nhưng điều tôi hài lòng nhất là các cháu đã biết suy nghĩ và định hình nhân cách để mình có thể yên tâm. Điều tôi quan tâm nhất là giáo dục kỹ năng và các giá trị nhân văn cho con nói riêng và học sinh CIS nói chung. Kiến thức là vô cùng, chỉ có kỹ năng và yếu tố nhân văn mới làm nên giá trị một con người.

 

CIS có một chương trình rất đặc biệt là Chương trình giáo dục tính cách bằng hành động. Các chủ đề của chương trình này là giáo dục những đức tính cơ bản, cần thiết đối với việc hình thành phẩm chất của con người trong mối quan hệ với xã hội và được giáo viên truyền đạt cho học sinh trong suốt năm học.

 

Trong một lần đi ăn cùng con ngoài tiệm, vì căng thẳng trong công việc, tôi vô ý gắt gỏng với một người bán vé số. Chính con tôi là người nhắc khéo khiến tôi phải giật mình: “Mẹ đã được học về Caring chưa? (Caring, tức sự quan tâm, chia sẻ là một trong những chủ đề giáo dục tính cách tại trường?”).

 

Nghe con nhắc nhở, tôi vừa xấu hổ, vừa cảm thấy tự hào và hạnh phúc vô cùng khi thấy rằng những nỗ lực của vợ chồng tôi, những ước mơ ngày nào của chúng tôi, đang dần gặt hái được những kết quả vô giá. Đối với tôi, không có khoản lợi nhuận nào có thể mang đến cho mình một cảm giác sung sướng như vậy.

 

* Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!


PHƯƠNG QUYÊN thực hiện

(C) Doanh Nhân

Kỳ 3: Nằm trên đồng vàng mà vẫn nghèo

Tuần Việt Nam (12/07/2011) Nếu nông nghiệp là tấm gương phản chiếu xã hội, sẽ cho thấy Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một khu vực trì trệ và bị tổn thương. Cùng được thừa hưởng những giá trị của Đổi Mới song với những gì diễn ra ở khu vực này trong chừng mực cho thấy nông dân chưa bắt kịp tiến trình này, nếu không muốn nói là đi sau các thành phần khác với khoảng cách khá xa.

Chuyên viên kinh tế Nguyễn Văn Sơn thuộc Trung tâm nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – người gắn bó với miền Tây trước và sau năm 1975 cho rằng, vùng này hiện đang tồn tại nhiều nghịch lý: là nơi sản xuất hàng hoá phát triển nhất nhưng tỷ lệ người nghèo, trẻ em thất học cũng nhiều nhất; là nơi đóng góp 90% lượng gạo và 60% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước nhưng cũng là nơi có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất; nông dân tích luỹ thấp và tỷ lệ hộ dân sống nhà tạm bợ cũng đứng hàng nhất nước… “Họ nghèo lắm, dù có chút may mắn là không bị đói”, ông Sơn quả quyết.

Thu nhập 0,3 USD/ngày

Ông Năm Sáng sinh ra và lớn lên ở ĐBSCL, cánh đồng 1ha lúa của gia đình ông ở ven xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn (An Giang) thuộc Tứ giác Long Xuyên- một trong hai trung tâm lúa gạo bậc nhất Việt Nam. Từ lâu đời vùng đất này chuyên trồng lúa hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu. Nhưng gia đình ông và phần đông người hàng xóm luôn ở gần sát chuẩn nghèo. Bình thường thì không sao, nhưng chỉ cần một biến động nhỏ là nhanh chóng rơi vào diện nghèo.

“Ông nội khi còn sống cứ mong mỏi làm sao dành dụm được chút tiền cất cái nhà ngói làm chỗ cúng ông bà cho đàng hoàng. Chắt chiu cho đến lúc chết ông vẫn chưa làm được. Hết đời cha, giờ tới tôi, ngoài 60 rồi vẫn chưa thực hiện được di nguyện của ông. Tiền cho tụi nhỏ học hành, trả nợ vay ngân hàng không đủ nói chi đến chuyện cất nhà”, ông Năm Sáng miệng nói, tay chỉ vào căn nhà lợp lá, tuyềnh toàng tạm bợ cạnh đó.

“Đầu vụ đang được giá, nhưng giữa vụ đột nhiên giá rớt cái rụp”. Ảnh: Thu Hà

Số liệu được nói đến nhiều nhất trong dư luận là, thu nhập GDP trên đầu người của ĐBSCL chỉ bằng khoảng 2/3 mức trung bình của cả nước; Còn về tiêu dùng – được coi là một thước đo chính xác hơn cho mức độ nghèo đói thì mức tiêu dùng trên đầu người của người dân ở ĐBSCL hiện nay thấp hơn mức bình quân của cả nước khoảng 10% (290.000 so với 316.000); không những thế, lại có tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 1993-2003 chỉ bằng 2/3 tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước (63% so với 96%). Điều này có nghĩa là chênh lệch về mức sống của người dân ở ĐBSCL so với các vùng khác không những không được thu hẹp, mà còn liên tục bị nới rộng. Không ít xã đang có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 18% -20%. Nếu tính theo tiêu chí mục tiêu thiên niên kỷ, số hộ dân còn nghèo dưới mức 1 USD/người/ngày có thể ước tính khoảng 50%.

Thực tế này khiến những người như ông Sơn suy nghĩ mãi. “Thu nhập cỡ 200.000 đồng/người/tháng, tức 2,4 triệu đồng/người/năm, tương đương khoảng 150 USD/người/năm theo giá năm 1994; giảm xuống còn 120 USD/người/năm theo giá 2009, tức khoảng 0,3 USD/người/ngày không hiểu nông dân xoay sở cuộc sống thường nhật thế nào?”, ông Sơn băn khoăn.

Thua thiệt đủ đường

Cuối tháng sáu, các cánh đồng ở miền Tây vào mùa thu hoạch rộ. Nhà nông mặc dù hài lòng vì vụ này được mùa, nhưng vẫn héo hắt ruột gan vì cũng như những vụ trước, họ bán lúa với giá không như mong muốn. “Đầu vụ đang được giá, nhưng giữa vụ đột nhiên giá rớt cái rụp”, một người nông dân cho biết.

Sau một hồi mặc cả kịch liệt ngay trên thửa ruộng của mình, lão nông Bảy Dự (ấp 4, xã Láng Biển, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) dù không hài lòng nhưng vẫn phải chấp nhận bán 4.800 đồng/kg lúa ướt.

Nhìn sang các thửa ruộng gần đó, nơi những người nông dân và thương lái đang căng thẳng trả giá bán – mua, ông quả quyết, những người hàng xóm sẽ sớm phải chấp nhận mức giá các thương lái đưa ra. Giống như ông, họ không còn lựa chọn nào khác vì “không bán, thu hoạch về biết cất trữ vào đâu?”.

“Mấy năm gần đây đều trúng mùa, Mỗi vụ, 2,5ha ruộng thu được cỡ 115 triệu đồng, trừ đi các khoản nợ mua giống má, phân bón, thuốc trừ sâu, còn lại khoảng 70 triệu. Làm để có dư thì khó lắm, làm chỉ đủ gói ghém cuộc sống trong một năm đó thôi, nợ ngân hàng vẫn còn đó. Làm hoài mà vẫn cực”, ông Dự nhẩm tính.

Lão nông này cho biết thêm, “vật giá tất cả đều tăng, giá lúa cũng tăng so với năm rồi và các năm trước, nhưng tôi thấy thu nhập của mình vẫn vậy. Bán lúa được nhiều tiền hơn nhưng khi mua lại các thứ cũng cao hơn. Cụ thể phân bón tăng khoảng gần 30%, có một số loại phân tăng trên 30%, thuốc sâu thuốc bảo vệ thực vật cũng tăng từ 20% đến 30%. Cuộc sống bây giờ khó khăn vật giá cái gì cũng lên hết kể cả con cái đi học, tiền học phí tiền mua sách, tất cả mọi thứ đều tăng, trừ thu nhập.”

Những khó khăn của bác Bảy Dự cũng là khó khăn chung của phần đông nông dân trồng lúa ở ĐBSCL- những người trực tiếp làm ra sản phẩm, nhưng lại không được tự quyết định giá của sản phẩm của mình. Do không có điều kiện, họ chấp nhận bán hàng với giá rẻ mạt để có tiền thanh toán các khoản vay từ đầu mùa vụ các mặt hàng thiết yếu như phân bón, thuốc trừ sâu, tiền công mướn… kẻo “càng để lâu, càng gánh không nổi lãi”.

Theo Giáo sư nông học Võ Tòng Xuân, “người trồng lúa nghèo triền miên vì làm nông nghiệp không có vốn, nông dân phải vay tiền mua. Sau mỗi vụ gặt, nông dân chen chúc ở ngân hàng nông nghiệp để trả nợ. Xong nợ cũ lại vay mới để đầu tư làm vụ kế tiếp. Có tới 95% nông dân phải vay ngân hàng để sản xuất theo kiểu ăn trước trả sau”.

GS Võ Tòng Xuân: “Có tới 95% nông dân phải vay ngân hàng để sản xuất theo kiểu ăn trước trả sau”.
Ảnh minh họa: Thu Hà

Khi được đề nghị lý giải về việc cái nghèo đeo bám dai dẳng nông dân miền Tây, Ông Xuân nói thế này: Thực tế là người nông dân của ta từ chỗ chuyên sản xuất lúa gạo theo kiểu “tự cấp, tự túc”, thì sau đó đã chuyển sang sản xuất theo kiểu hàng hoá, người nông dân bước vào thị trường. Nhưng khi bước vào thị trường thì họ luôn là người lép vế, đặc biệt là nông dân nghèo. Chẳng hạn lấy phân bón, thuốc trừ sâu trên thị trường là hai trăm, doanh nghiệp bán lại cho nông dân hai giá hai trăm rưỡi. Đôi khi có những người còn mua phải phân bón và thuốc trừ sâu giả. Thế là nông dân đã nghèo lại càng nghèo cùng cực hơn”.

Cũng vì lẽ đó, nhà báo Lê Thanh Nguyên mới đúc kết rằng, trong các thành phần kinh tế, nông nghiệp phát triển chậm hơn so với công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Thu nhập thấp nên người nông dân cải thiện cuộc sống chậm hơn. Thị trường nông sản của ta chủ yếu dựa vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp. Doanh nghiệp giữ vai trò độc quyền về chế biến và lưu thông, còn nông dân không có quyền mặc cả và vì thế hay bị ép giá. Trong khi đó, giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng.

“Bị định giá nên thường phải gánh phần thua thiệt trong khi chi phí ngày càng tăng mà lợi ích thì ngày càng giảm, đầu vào tăng nhiều, còn đầu ra chỉ tăng chút ít. Tình hình kinh tế khó khăn gần đây càng góp phần làm cho cuộc sống của nông dân ĐBSCL thêm khó khăn, bản thân họ hầu như không được hưởng lời khi thị trường thuận lợi và luôn phải chịu lỗ khi nông sản bị mất giá”, ông Nguyên nói.

Trong một cuộc hội thảo mới đây, chính thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng cũng thừa nhận: “những thành tích mà Việt Nam có được trong xuất khẩu gạo là có thật nhưng chúng ta không khỏi day dứt vì nông dân là những người nghèo, những vùng chuyên canh trồng lúa là những vùng kém phát triển”.

Đúng là giá lúa gạo qua các năm có tăng nhưng vẫn không theo kịp giá chi phí đầu vào. Năm ngoái, giá thu mua lúa tăng 15%-20% nhưng vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu tăng tới 30%. Thêm vào đó, diện tích trồng lúa của các hộ gia đình quá nhỏ, manh mún (trung bình 0,3-0,8ha) nên dù tỉ suất lợi nhuận từ trồng lúa có cao đến mấy thì tổng lợi nhuận thu được chẳng đáng là bao.

Thực tế này khiến nhiều người có cảm giác nông dân lâu nay chưa được quan tâm, họ lép vế và phải chấp nhận thua thiệt mọi bề. Chính điều đó khiến họ mắc kẹt mãi trong cái nghèo dù cuộc Đổi Mới dưới sự khởi xướng của Đảng đã đi qua 25 năm.

—————————————————————-

* Chú thích: Bài viết sử dụng các số liệu được cung cấp tại các hội thảo khoa học về ĐB.SCL

(C) Tuần Việt Nam

Kỳ 2: Điểm yếu chí tử của Đồng bằng sông Cửu Long

Tuần Việt Nam (12/07/2011) Dòng thời sự nông nghiệp chủ lưu hiện nay là sự yếu kém của hạ tầng giao thông đang cản trở năng lượng phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Giao thông chính là điểm yếu chí tử khiến miền Tây mắc kẹt trong cái nghèo.

Có một thực tế được cuộc sống đúc kết thành qui luật, hễ nơi nào đường xá  thông suốt thì cuộc sống nơi có có cơ hội thịnh vượng. Ngược lại, nơi giao thông ách tắc thì cầm chắc nghèo túng, lạc hậu. Khỏi phải nói thêm, điều này chắc chắn đúng với ĐBSCL.

Đường bộ chưa thông

Trong một bài giảng với chủ đề Làm thế nào để ĐBSCL bớt tụt hậu? TS. Vũ Thành Tự Anh kể rằng, khi ông hỏi GS. Võ Tòng Xuân, vào những năm 1960-1970, thời gian GS đi từ Sài Gòn đến Cần Thơ giảng bài hết bao lâu. GS. Võ Tòng Xuân cho biết, mất khoảng 4 tiếng rưỡi.

Đối chiếu thực tế những năm gần đây, gần nửa thế kỷ đã qua, ông Tự Anh ái ngại, “tốc độ giao thông giữa ĐBSCL tới các trung tâmkinh tế - thương mại lớn nhất của cả nước chưa được cải thiện bao nhiêu”.

Thật ra, chuyện giao thông ở ĐBSCL lạc hậu như thế nào không quá khó để nhận thấy. Hơn thế, điều này cũng được thông báo công khai trong nhiều cuộc hội thảo tại địa phương. Cụ thể, ĐBSCL chỉ có 5% đường nông thôn có giá trị vận tải, số còn lại chỉ có giá trị giao thông cho dân đi bộ, đi xe đạp và xe gắn máy. 95% đường còn lại cần được mở rộng và nâng cấp.

Quanh 13 tỉnh miền Tây chằng chịt sông rạch, cù lao vẫn còn hàng trăm cây cầu xây từ đầu thế kỷ 20 đến nay vẫn chưa được thay thế.  Để có thể lưu thông, người dân vẫn phải tận dụng những cầu ọp ẹp. Trên nhiều tuyến quốc lộ huyết mạch vẫn còn không ít những cây cầu đang khai thác có tải trọng chỉ khoảng 4 đến 10 tấn, và đang hư hỏng nặng, đi xe thô sơ còn khó nói chi đến xe tải vận chuyển hàng hoá.

Quan sát của GS. Võ Tòng Xuân, một người gần gũi với vùng này cũng cho biết, miền Tây ít nơi có đường rộng 5m, chủ yếu là đường đất, vài nơi cố lắm cũng chỉ trải đá mi. Hệ thống quốc lộ xây mới chưa nhiều, chiều rộng cũng khiêm tốn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của vùng. Ví dụ, quốc lộ 50 đi qua tỉnh Tiền Giang do Bộ GTVT đầu tư cũng chỉ được thiết kế rộng 7,5m, thay vì 12m.

Ảnh minh họa: báo Đại Đoàn Kết

Ông Nguyễn Văn Sơn, chuyên viên của Viện nghiên cứu Phát triển ĐBSCL cũng nghĩ như vậy. “Đường đi lại ở ĐBSCL giờ chỉ có giá trị nông thôn chứ không có giá trị vận tải. Hạ tầng giao thông của ĐBSCL yếu kém nhất nước, chỉ xếp trên vùng Tây Bắc”, ông Sơn- người thường xuyên qua lại vùng ĐBSCL trước và sau thời điểm 1975 nhận xét.

Và hệ luỵ là việc đi lại học hành, việc cấp cứu trị bệnh, việc tiếp cận với các cơ sở văn hoá… và mưu sinh cũng đều gặp khó khăn. Chi phí vận tải hàng hoá tăng dẫn đến nông sản bị ép giá, nông sản hư hao do phải chờ… Từ những thông tin được công bố rộng rãi, ông Sơn nhẩm tính, nếu gộp toàn bộ chi phí cơ hội, nông dân ĐBSCL có thể phải chi đến 15% thu nhập cho đi lại và cho chuyên chở hàng hoá. Điều đó khiến cho họ chưa “mở mày mở mặt”.

Đường sông vẫn tắc

Là vùng trọng điểm sản xuất nông sản hàng hoá xuất khẩu, ước tính, hàng năm ĐBSCL có nhu cầu xuất – nhập khẩu từ 12 tới 13 triệu tấn hàng hoá. Nhưng thật éo le, trong khi đường bộ chưa thông thì đường sông của vùng này cũng đang xập xệ.

Hệ thống giao thông thủy của miền Tây với hai tuyến chính là TPHCM – Kiên Lương và TPHCM – Cà Mau… nhưng do địa hình nên buộc phải hợp lưu tại kênh Chợ Gạo (nối sông Tiền ở Tiền Giang với sông Vàm Cỏ Tây ở Long An.

Trong khi 13 tỉnh miền Tây đang chen chúc dùng chung tuyến đường sông duy nhất đi TP. Hồ Chí Minh và ngược lại thì cửa luồng Định An cũng không khá hơn. Do mấy chục năm qua chỉ tập trung khai thác mà không bảo dưỡng nên trước sự bồi lắng phù sa, cửa Định An đang bị cạn khiến các tàu hàng hải lớn không vào được thành ra 70% khối lượng hàng hoá vẫn phải nhập nhờ qua TP. Hồ Chí Minh.

Lưu thông vòng vèo khiến lợi nhuận từ việc bán nông sản hàng hoá thấp đi do bị ép giá trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào thì không ngừng đội lên. Thua thiệt đủ đường khiến nhà nông lãnh đủ, dồi dào năng lượng mà vẫn trong nhóm nghèo nhất nước.

Tắc đường do tắc tư duy?

Trước những phàn nàn về sự trắc trở của hệ thống giao thông ĐBSCL, giới phân tích chính sách cho rằng không phải do thiếu tiền mà là do ách tắc trên hệ thống tư duy.

“Cầu Mỹ Thuận được xây dựng là do viện trợ cho không của Úc thì không nói làm gì còn cầu Cần Thơ được xây dựng nhờ ODA của Nhật, mà ODA lúc nào cũng tăng giá. Hơn nữa, ODA Nhật ở cầu Thanh Trì khác với ODA Nhật ở cầu Cần Thơ. Vì ODA ở cầu Thanh Trì là do ngân sách quốc gia trả, còn ODA cầu Cần Thơ cũng là ngân sách quốc gia nhưng mà lấy ở địa phương. Một là ngân sách của cả nước đóng vào, còn một là ngân sách chỉ của một địa phương nên “giá rất đắt”.

Ông Nguyễn Văn Sơn

Lấy giá trị sử dụng làm căn cứ, ông Nguyễn Văn Sơn dẫn chứng, liệu có công bằng không khi sông Hồng qua địa phận Hà Nội, sông Hàn ở Đà Nẵng có bao nhiêu cây cầu, trong khi 7 tỉnh nam sông Hậu chỉ có duy nhất cây cầu Mỹ Thuận (khánh thành năm 2009), và gần chục tỉnh khác chung cây cầu Cần Thơ (khánh thành năm 2010). Cứ thử đo giá trị sử dụng của những cây cầu đó sẽ thấy ngay nghịch lý không công bằng. Rõ ràng so với năng lực phát triển, ĐBSCL cần nhiều hơn 2 cây cầu đó.

Ông Sơn ước, nếu nhà nước dành cho chừng 10% kinh phí dự kiến làm đường sắt cao tốc Bắc Nam như đã thảo luận trong QH thì chắc chắn toàn ĐBSCL sẽ thay đổi nhanh bộ mặt kinh tế xã hội trong vòng mười năm. Đầu tư cho giao thông cấp huyện là mở lối ra cho nông dân và hàng hoá tiếp cận với thị trường, mở cánh cửa giáo dục và đào tạo cho thanh thiếu niên; Đầu tư cho giao thông cấp tỉnh là mở mối giao lưu kinh tế xã hội của các huyện về trung tâm tỉnh; Đầu tư cho giao thông cấp tỉnh là mở mối giao lưu kinh tế xã hội của tỉnh với các tỉnh lân cận và cả nước, lẫn quốc tế; Và, đầu tư cho giao thông nông thôn là giải quyết đồng bộ nền tảng cho phát triển đồng bộ sản xuất kinh doanh và đời sống của nông dân.

Trước sự hối thúc của phát triển, mới đây thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố, “chính phủ tiếp tục có sự quan tâm đặc biệt cho ĐBSCL, trong đó sẽ có những chính sách thuận lợi, ưu đãi đặc biệt để khu vực này chuyển mình nhanh chóng. Chính phủ đã quyết định đầu tư nhiều dự án lớn nhằm nhanh chóng tăng cường cơ sở hạ tầng tạo điều kiện kết nối cho cả vùng. Xác định đưa ĐBSCL là trung tâm năng lượng lớn của cả nước trong tương lai”. Dù sao muộn cũng còn hơn không. Đây là quả là thông tin đáng mừng.

Xem ra tư duy đã thông, vấn đề chỉ còn chờ xem chỉ đạo của thủ tướng sẽ được các cấp triển khai như thế nào.

(C) Tuần Việt Nam

Next