Archive for the 'Research' Category

Lần đầu tiên, Việt Nam giành chiến thắng lớn tại ISEF

(Dân trí) – Đội Việt Nam vừa bất ngờ đoạt giải Nhất lĩnh vực Vật liệu và Kỹ sinh học tại ISEF 2012, sau khi “tịt ngòi” ở các giải thưởng phụ. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đoạt giải, và lại là giải nhất, đem lại cảm xúc dâng trào.

Đội Việt Nam đeo huy hiệu dành cho những người đoạt giải nhất

Có thể nói đội Việt Nam gồm các em Trần Bách Trung, Bùi Thị Quỳnh Trang và Vũ Anh Vinh đã tạo nên bất ngờ lớn và làm nên kỳ tích, bởi mặc dù không đoạt giải phụ nào nhưng đã giành giải Nhất trong lĩnh vực mình dự thi.

 

Trước đó, tại lễ trao các giải đặc biệt của ISEF 2012 do các cơ quan chính phủ các nước, các tổ chức, hiệp hội, các doanh nghiệp… trao tặng vào tối 17/5 (giờ địa phương, tức sáng 18/5 giờ Hà Nội), đội Việt Nam không nhận được giải nào và tưởng chừng sẽ phải ra về tay trắng. Nhưng tại lễ trao giải chính thức, diễn ra vào sáng 18/5 (giờ địa phương, tức tối 18/5 giờ Hà Nội), các em đã trở thành những thí sinh trong nước đầu tiên bước lên bục vinh quang của ISEF.

 

Vượt qua rất nhiều đối thủ nặng ký đến từ khắp các châu lục, đội Việt Namđã được chọn trao giải Nhất của lĩnh vực Vật liệu và Kỹ sinh học. Trong số 17 lĩnh vực của ISEF, mỗi lĩnh vực có từ 2-3 giải Nhất, mỗi giải trị giá 3.000 USD. Sau đó, Ban Giám khảo lại chọn trong số 2-3 giải này để trao tiếp giải đặc biệt trị giá 5.000 USD của lĩnh vực đó. Ở hạng mục này thì đội ViệtNam đã phải nhường bước cho một đối thủ của Mỹ.
Lễ trao giải ISEF 2012 vừa kết thúc, đội Việt Nam (khu vực giữa, hàng trên) lên nhận giải nhất trên sân khấu chính

 

Chia sẻ sau khi đoạt giải, cả 3 thí sinh Việt Nam đều bày tỏ sự xúc động và niềm tự hào mãnh liệt. Trung cho biết, các em sẽ sử dụng giải thưởng này để tiếp tục công cuộc nghiên cứu. Còn Vinh thì nói, sau khi về Việt Nam thì việc đầu tiên cần làm sẽ là “ngủ một giấc thật đã”. Quả thực, sự căng thẳng và mệt mỏi luôn thường trực trên nét mặt các em suốt mấy ngày qua. Nhưng ngay sau khi giải thưởng được công bố, hẳn là những mệt nhọc đó đã “bay” đi khá nhiều.

 

Bà Nguyễn Thị Thu Hoài, chuyên viên Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội, người luôn theo sát nhóm thí sinh Việt Nam, rạng rỡ nói: “Lần đầu tiên đoàn Việt Nam đoạt giải tại ISEF mà lại đoạt giải cao, tôi xúc động quá. Từ hôm qua tới giờ cả đoàn thấp thỏm, mong được giải phụ là mừng lắm rồi nhưng không có, hôm nay nhìn giải tư, rồi giải ba, giải nhì trôi qua, đã nghĩ hết hy vọng, nhưng khi nghe “Hà Nội – Việt Nam” xướng lên ở phần Giải Nhất thì cả đoàn suýt “rụng tim”, vỡ òa vì vui sướng”.
Nhóm học sinh Việt Nam (từ trái qua: Bùi Thị Quỳnh Trang, Vũ Anh Vinh, Trần Bách Trung) giới thiệu công trình cho khách tham quan tại ISEF 2012, diễn ra ở Mỹ.

 

Tình cờ, trong số 8 vị giám khảo chấm bài của nhóm Việt Nam lại có một người Việt, ông Nhiem Nguyen, một kỹ sư điện tử sống và làm việc tại bang Pennsylvania. Theo ông Nhiem, khi được ISEF mời làm giám khảo, ông không biết sẽ được chấm ai mà việc phân chia giám khảo – thí sinh là do máy tính thực hiện tự động và ngẫu nhiên. Ông cũng không hề biết trước là sẽ có người Việt sang dự thi. Tuy nhiên, khi tiếp cận với công trình của các em thì ông Nhiem thực sự ấn tượng và đã nêu ý kiến của mình với hội đồng giám khảo rằng: “Công trình của nhóm Việt Nam rất đơn giản mà sáng tạo, không tốn kém mà lại có thể mang lại tác động lớn tới cộng đồng nơi các em sống”. Kết quả, hội đồng đã đồng thuận chấm giải Nhất cho các em.

 

Trung, Trang và Vinh cùng bày tỏ sự cảm ơn vô bờ bến tới gia đình, các thầy cô, bạn bè đã giúp đỡ, ủng hộ hết mình trong suốt quá trình nghiên cứu, chuẩn bị và dự thi, cũng như Intel đã tạo điều kiện cho các em đi nửa vòng trái đất để góp mặt cùng bè bạn khắp thế giới trong một cuộc thi đầy ý nghĩa. Thông điệp các em đưa ra cho những bạn bè dự thi các năm sau là: “Hãy tự tin và mạnh mẽ, các bạn sẽ đạt được mục tiêu!”.

 

 

Sau khi giành tới 3 giải phụ, Vũ Mai Anh dừng bước ở giải Tư lĩnh vực Hóa học. Vanna Nga Hovanky cũng dừng ở giải Tư lĩnh vực Y học. Còn Kevin Anh Nguyen giành giải Nhì lĩnh vực Hóa học. Như vậy, đội từ ViệtNam không chỉ gây bất ngờ vì đoạt giải, mà còn đoạt giải cao nhất so với các bạn bè gốc Việt.

 

 

Tuấn Anh
(Từ Pittsburgh)

Trao giải thưởng tài năng khoa học trẻ Việt Nam

Tại Hà Nội, ngày 7/1, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức lễ trao giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” cho sinh viên năm 2011.

Năm nay, Ban Chỉ đạo xét tặng giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” đã nhận được 304 công trình gửi tham gia xét giải.

Đây là những công trình xuất sắc được lựa chọn từ hàng chục nghìn công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên ở 94 trường đại học, học viện trong cả nước.

Ban Tổ chức đã lựa chọn được 13 công trình đạt giải nhất, 30 công trình đạt giải nhì, 50 công trình giải ba và 105 giải khuyến khích. Đồng thời khen thưởng 17 giảng viên tham gia hướng dẫn 13 công trình đạt giải nhất và 20 đại học, học viện đạt thành tích xuất sắc trong tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Ngoài ra, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng đã trao tặng huy hiệu “Tuổi trẻ sáng tạo” cho 27 sinh viên thực hiện 13 công trình đạt giải nhất và bằng khen cho 77 sinh viên thực hiện 30 công trình đạt giải nhì.

Theo đánh giá của các chuyên gia, giải thưởng năm nay quy tụ được khá nhiều công trình có tính sáng tạo, nội dung phong phú, một số đề tài có khả năng triển khai ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

Một số công trình mạnh dạn đề cập đến những vấn đề xã hội đang quan tâm như công trình “Thiết kế hệ thống rửa quả lọc để tái sử dụng trong chạy thận nhân tạo” của nhóm sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Đây là đề tài có ý nghĩa xã hội tốt, có thể áp dụng rộng rãi cho các bệnh viện vùng sâu vùng xa.

Công trình “Nghiên cứu thực hiện phản ứng Suzuki sử dụng xúc tác phức palladium cố định trên chất mang nano từ tính” của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là một công trình nghiên cứu “mẫu mực” về xúc tác dị thể, tiếp cận được đến trình độ quốc tế. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được đăng trên tạp chí uy tín quốc tế.

Giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” đã tác động tích cực đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, thực sự góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường.

Các trường đại học, học viện trong cả nước đã thực sự coi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động không thể thiếu trong quá trình đào tạo.

Việc chỉ đạo tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học, học viện ngày càng được đổi mới, sáng tạo và có tính hệ thống.

Trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến sẽ tiếp tục đổi mới công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, tập trung chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học xây dựng và triển khai kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên gắn kết chặt chẽ với kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ của đơn vị; xây dựng cơ sở dữ liệu về sinh viên nghiên cứu khoa học; tiếp tục thực hiện chính sách gửi đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài đối với sinh viên có công trình đạt giải nhất…/.

Ngọc Anh (TTXVN/Vietnam+)

(C) vietnamplus.vn

“Họ làm được, sao mình không làm được?”

SGTT.VN – Tại cuộc họp mặt của giới vật lý thiên văn quốc tế mang tên Gặp gỡ Việt Nam lần thứ bảy vừa diễn ra ở TP Quy Nhơn, nhiều người rất ấn tượng với một nhà khoa học gốc Việt, vóc dáng nhỏ bé nhưng rất tự tin, pha chút ngang tàng với mái tóc dài như một nghệ sĩ rock. Ông chính là người đặt viên gạch đầu tiên chuyển giao chương trình vật lý tiên tiến của đại học Virginia (Hoa Kỳ) cho đại học Huế.

 

 

Là chuyên gia vật lý lý thuyết tại đại học Virginia, công trình nghiên cứu Sự hạn chế khối lượng của hạt, Khả năng tồn tại không gian thứ tư, thứ năm của giáo sư Phạm Quang Hưng được giới khoa học đánh giá rất cao. Gắn bó với Huế như một định mệnh, sự trở về của ông bắt nguồn từ triết lý sống “giúp được ai là giúp hết lòng”.

Là con út trong gia đình có chín người con, ba là công chức, mọi gánh nặng trong nhà đều đổ dồn lên vai mẹ –một thương nhân, bài học lớn nhất mà ông học được từ cha mẹ là gì?

Một tâm hồn thơ, một sức sống mãnh liệt và tinh thần bất chấp, không ngại gì hết. Là con út nên tôi có thời gian được sống, được trò chuyện với cha mẹ nhiều hơn. Đó là điều đặc biệt quan trọng với tuổi thơ. Nên với ba đứa con của mình, dù bận rộn với công việc khoa học, nhưng lúc nào tôi cũng muốn có thêm thời giờ để chăm sóc con.

Vì sao rời Việt Nam quá lâu mà tiếng Việt của ông vẫn còn rất phong phú như vậy?

Rời Việt Nam từ năm 1968, nhưng lúc nào tôi cũng háo hức tìm hiểu đời sống của người Việt ở quê nhà bằng cách đọc tiểu thuyết, báo chí Việt Nam. Tôi luôn cảm thấy thiếu thốn, lúc nào cũng muốn tìm hiểu, để hoà nhập vào đời sống cộng đồng người Việt. Từ lần trở về đầu tiên năm 2004 đến nay, năm nào tôi cũng tìm cách về nuớc, và mỗi lần như thế, tiếng Việt của tôi lại được đầy thêm.

Ngay từ nhỏ, ông đã là chàng trai có tính cách nổi loạn. Niềm đam mê khoa học của ông có bao giờ phải đối diện với những thử thách khiến ông dễ chệch hướng?

Mọi thứ tôi có hôm nay đều bắt nguồn từ sự nổi loạn, muốn làm một cái gì đó khác. Ngay từ nhỏ, lúc nào tôi cũng tò mò, thích khám phá những hiện tượng của tự nhiên, cố tìm hiểu vũ trụ được hình thành như thế nào, và tự lý giải theo cách nghĩ của riêng mình. Những thí nghiệm nho nhỏ thời trẻ con kích thích rất nhiều trí tưởng tượng của tôi, nuôi dưỡng trong tôi những câu hỏi bất tận về vũ trụ… Nhưng cũng như bao chàng trai khác thuộc thế hệ mình, nhạc rock cuốn tôi đi. Là cây guitar trong ban nhạc sinh viên, tôi quay quắt với những bản nhạc cuồng nhiệt, đi biểu diễn khắp nơi… Để có thể trở về với niềm đam mê khoa học, đọc sách rất quan trọng. Cuốn sách ấn tượng nhất thời tuổi trẻ của tôi là Những cuộc phiêu lưu của Mr.Tomkins trong vương quốc tương đối và vương quốc nguyên tử của George Gamow. Tôi không chỉ say mê nội dung khoa học của những cuốn sách, mà còn chịu ảnh hưởng rất nhiều ở khía cạnh cá nhân của những khoa học gia, cách họ làm việc, suy nghĩ, khám phá… Tất cả đã giúp tôi vượt qua ảnh hưởng của nhạc rock, và quyết chí đi theo con đường khoa học.

Người thầy nào đã giúp ông hoà nhập được vào môi trường học thuật đỉnh cao tại đại học Virginia?

 

Tôi không chỉ say mê nội dung khoa học của những cuốn sách, mà còn chịu ảnh hưởng rất nhiều ở khía cạnh cá nhân của những khoa học gia, cách họ làm việc, suy nghĩ, khám phá…

Môi trường khoa học tại Mỹ rất năng động. Trong nghiên cứu, họ không phân biệt quốc tịch, bất kể ai từ đâu tới nếu làm việc hiệu quả đều được đánh giá cao. Tôi không hề có cảm giác bị lạc lõng trong nghề nghiệp. Người ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất từ nhãn quan mỹ học đến triết học là giáo sư gốc Nhật J. J. Sakurai ở đại học UCLA. Ông luôn nói với tôi rằng đừng bao giờ tin những lý thuyết đang thịnh hành là lý thuyết cuối cùng, hãy hoài nghi tất cả. Một điều may mắn nữa là tôi đã gặp anh Trịnh Xuân Thuận, một đàn anh học trước tôi hai lớp ở trường Jean Jacques Rousseau ở Sài Gòn (nay là Lê Quý Đôn).

 

Cả cuộc đời kiên định theo đuổi một hướng nghiên cứu, ông nghiệm ra điều gì quý nhất, để có thể truyền lại cho sinh viên?

Kiên nhẫn, đừng bao giờ bỏ cuộc, tư duy độc lập mới có thể đi xa, những gì có được phải tự mình, và phải làm việc rất nhiều. Làm khoa học không thể ngắn hạn, phải biết chấp nhận thất bại. Một lý thuyết gia sai lầm một vài năm khi theo đuổi mô hình này, mô hình kia là chuyện bình thường, không vì thế mà cản trở mình tìm hiểu thêm. Nhưng quả thật với tôi, sự kiên trì gần như là bản tính sẵn có từ nhỏ, không thể muốn mà có được, có chăng là nỗ lực của mình, để nó đừng mất đi thôi. Trong lớp học của tôi có một khẩu hiệu được in trên áo cho cả thầy trò cùng mặc: “Khổ trước sướng sau”, đó cũng là con đường của khoa học. Để ngộ ra một chân lý nào đó có khi phải mất cả đời, hoặc nhiều đời. Những gì khiến mình mất ăn mất ngủ, khi tìm ra thấy ý nghĩa lắm. Để có một hướng nghĩ, giải một bài toán, phải làm tới cùng, với tất cả sự đam mê. Cuộc đời tôi có được ngày hôm nay cũng là nhờ quyết liệt lắm, nhưng tôi luôn tự nói với mình phải quyết liệt nhiều hơn. Dù sao, tôi vẫn còn một phần dè dặt trong bản tánh người Á Đông. Tôi luôn đấu tranh để dẹp nó xuống bằng cách nghĩ: “Họ làm được, sao mình không làm được?”

Đến với Gặp gỡ Việt Nam lần thứ bảy, điều gì khiến ông thú vị nhất?

Tôi rất ấn tượng với công trình của Đàm Thanh Sơn về lực liên kết các hạt, đó là một tính toán rất kỳ công, đưa ra khái niệm hoàn toàn mới có thể thay đổi bài toán rất khó sang một bài toán khác dễ giải hơn. Tôi hy vọng Sơn sẽ nhận được giải thưởng lớn, nhưng để kiểm chứng kết quả này, cũng phải mất nhiều năm nữa. Tuy nhiên, người Việt Nam còn quá ít trong cộng đồng vật lý thế giới, trong khi người Trung Hoa lại rất đa dạng, họ có thể hỗ trợ lẫn nhau. Càng có thế lực, càng có tiếng nói nhiều hơn. Nhưng tôi có niềm tin vào thế hệ trẻ. Một vài em ở Huế cũng rất triển vọng.

Một số người cho rằng thời internet không cần dự hội thảo cũng có thể nắm bắt mọi thông tin, điều đó không đúng. Sự gặp gỡ, trao đổi giữa các nhà khoa học với nhau về một đề tài mà mình đang nghiên cứu sẽ nảy ra nhiều suy nghĩ, tìm tòi, hợp tác mới. Phần nữa là đi để gặp lại bạn cũ. Rất khó để có thể tìm được bạn thân trong cùng một ngành khoa học, để có thể tin cậy, yêu thương, chuyện gì cũng có thể tâm sự, đó là một hạnh phúc hiếm hoi. Con đường khoa học đôi khi rất cô đơn… Tôi chỉ tiếc là giới khoa học Việt Nam dường như không quan tâm đến sự kiện này, có lẽ không có nhiều người làm trong một trình độ có chất lượng cao nên họ ngại tới, đó là một thực tế.

Suốt tám năm gầy dựng và nuôi dưỡng chương trình Vật lý tiên tiến thí điểm của bộ Giáo dục và đào tạo dựa theo chương trình gốc của khoa vật lý đại học Virginia tại đại học Huế, ông đánh giá thế nào về hiệu quả chương trình?

 

Rất khó để có thể tìm được bạn thân trong cùng một ngành khoa học, để có thể tin cậy, yêu thương, chuyện gì cũng có thể tâm sự, đó là một hạnh phúc hiếm hoi. Con đường khoa học đôi khi rất cô đơn…

Khó nhất là xây dựng được phòng thí nghiệm cho sinh viên, tìm được những giáo sư từ bên Mỹ và nước khác qua giảng dạy. Không dễ bởi những người đang làm khoa học, bỏ một tháng qua Việt Nam là rất quý. Tôi phải thuyết phục rất nhiều. Từ năm 2007 đến nay đã có gần 30 lượt giáo sư, tiến sĩ là giảng viên các trường đại học danh tiếng nước ngoài về giảng dạy và nhiều đoàn sinh viên Huế đi học tập và làm việc tại đại học Virginia. Khoá đầu tốt nghiệp năm 2010, hơn mười em được đi du học, sáu em được công ty công nghệ cao Renesas-Nec của Nhật nhận vào làm. Đó là cả một nỗ lực dài xây dựng lại nền tảng tư duy. Sự khác biệt của mô hình đại học Vigrinia chính là rèn luyện tư duy để phát triển, để làm việc, không chỉ với vật lý, mà trước mọi câu hỏi của cuộc đời phải biết cách tìm ra câu trả lời. Tăng sự đối thoại giữa sinh viên và người thầy, trong thi cử, hoàn toàn phải hiểu khái niệm mới làm được, không lặp lại những gì đã biết. Đến nay, mô hình này chỉ áp dụng ở Huế. Tôi hy vọng bộ Giáo dục và đào tạo có kế hoạch phổ cập mô hình này rộng hơn, nhưng quả thực không dễ dàng để tìm được số lượng lớn giáo sư từ Mỹ về vì chi phí rất cao. Với Huế, chỉ hoàn toàn nhờ quan hệ cá nhân của tôi. Huế cũng vừa thành lập trung tâm vật lý lý thuyết và vật lý tính toán mà tôi là một thành viên trong ban cố vấn. Tôi có ý định sẽ kéo những nhà vật lý từ những cuộc hội thảo ở Quy Nhơn về Huế nếu có cơ hội… Thôi thì cứ làm những gì phải làm, tới đâu hay tới đó, không phải cái gì cũng xảy ra như mình muốn.

 

 

 

 

PGS.TS Nguyễn Thám, hiệu trưởng đại học Sư phạm Huế:

“Một nhà khoa học tâm huyết với giáo dục Việt Nam, là cầu nối giữa đại học Huế với đại học quốc tế trong những chương trình vật lý, tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học và trường hè vật lý để sinh viên có thể tiếp cận với vật lý tiên tiến ở nước ngoài. Tạo được uy tín cao trong đồng nghiệp quốc tế, gần gũi, hoà đồng với sinh viên, được sinh viên hết sức kính trọng và yêu thương. Anh đã được trao danh hiệu Giáo sư danh dự của đại học Huế nhờ những tình cảm sâu nặng anh dành cho Huế suốt nhiều năm qua”.

 

 

Lê Thị Ngọc Trinh, sinh viên năm thứ tư chương trình Vật lý tiên tiến đại học Huế:

“Việc tiếp xúc thường xuyên với các giáo sư nước ngoài và các bài giảng hấp dẫn khiến em như được mở ra một chân trời mới. Nghiêm túc và tràn đầy nhiệt huyết, mỗi bài giảng của thầy như lôi cuốn tất cả sinh viên vào những điều mới mẻ. Cách truyền đạt kiến thức của thầy làm cho em có những cái nhìn thú vị về vật lý và niềm đam mê với bộ môn này cứ lớn dần lên. Vui tính, dễ hoà đồng với sinh viên, thầy còn là người rất yêu âm nhạc, trẻ trung và năng động. Phong cách giản dị, lối sống cởi mở, ân cần, chu đáo, vì thế chúng em không bao giờ ngại ngùng đặt các câu hỏi mà mình còn thắc mắc về bài giảng hay tâm sự những khó khăn trong học tập. Thầy thấu hiểu những điều đó và luôn tìm cách giúp đỡ sinh viên”.

Vì sao ông chọn Huế?

 

Tôi nghĩ chính Huế đã chọn tôi. Mỗi lần về đây, tôi được trở lại những gì của tuổi thơ đã nằm sâu trong tiềm thức… Mỗi lần trở về, tôi thấy càng ngày càng gắn bó, hoà hợp hơn với Huế, với người Huế. Nhiều người còn thành kiến với Huế, chỉ coi Huế là nơi phát triển du lịch, tâm linh là rất sai lầm. Bạn bè nước ngoài của tôi cũng thích Huế bởi con người ở đây hiền hoà, khiến họ rất thoải mái.

Làm thế nào để ông có thể giữ được nụ cười luôn tươi trẻ và ấm áp?

Chơi nhạc. Đêm nào tôi cũng dành thời gian cho cây guitar. Âm nhạc giúp cho mình bớt căng thẳng, mọi điều tự nhiên nhẹ nhàng hơn, giống như được đi vào một thế giới mới, tràn đầy cảm xúc. Cậu con út chín tuổi của tôi cũng rất mê nhạc rock của bố. Mỗi lần chở con đi học piano trong một cửa hàng bán nhạc cụ lớn, tôi như được trở về tuổi thơ, lạc trong một tiệm đồ chơi vậy… Tôi cũng mê tiểu thuyết của Murakami, Margaret Atwood, và cả Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… Thời trẻ, tôi còn làm thơ nữa đó (cười)…

Tôi là một người đến già vẫn còn mơ mộng. Năm tháng không làm cho sự lãng mạn trong mình mất đi, chỉ càng tinh tế hơn.

Nhìn vào giới trẻ hôm nay, điều gì khiến ông lo lắng nhất?

Giới trẻ thế giới nói chung, không chỉ Việt Nam, đều thiếu sự dấn thân. Phần lớn chỉ lo làm sao kiếm thật nhiều tiền, vun vén cho cuộc sống cá nhân. Ít ai nghĩ đến chuyện giúp người khác, hoặc nghĩ đến cộng đồng. Một điều đáng buồn nữa là họ ít đọc sách. Nhìn vào nguyện vọng đăng ký vào đại học sẽ thấy: phần lớn là vào các ngành kinh tế, ít ai theo đuổi khoa học cơ bản. Sự rung động trước những vấn đề của cộng đồng cũng ngày một nguội lạnh…

Bí quyết nào đã giúp ông vượt qua những thất bại, hụt hẫng về tinh thần?

Đời người luôn phải đối diện với sự bất như ý, nhưng bản tánh của tôi lúc nào cũng muốn ngẩng đầu lên, không muốn để cái gì đè mình xuống. Có lẽ nhờ lúc nào cũng cố vươn đầu lên mà mọi thứ khó đều qua đi. Ai chẳng có lúc tuyệt vọng, cách mình thoát ra tuỳ thuộc vào từng cá nhân. Những lúc như thế, hãy ngồi xuống, nghe một bản nhạc xưa hay đọc một quyển sách, một bài thơ… bạn sẽ thấy mọi điều thấm thía, rõ ràng hơn nhiều.

Điều gì ông muốn truyền lại cho con?

Tính độc lập. Cái gì mình có thể làm được phải nỗ lực tới cùng, đừng ỷ lại một ai hết, kể cả người thân thiết nhất.

Mong muốn lớn nhất của ông là gì?

Làm sao có thể về Việt Nam nhiều hơn, để giúp được nhiều bạn trẻ hơn trong ngành vật lý thì bản thân tôi rất mãn nguyện.

THỰC HIỆN: KIM YẾN
CHÂN DUNG HỘI HOẠ: HOÀNG TƯỜNG

(C) sgtt.com.vn

“Cây sáng chế” 9X

OVSED: Cảm ơn chị Phạm Thanh Vân (Đức) đã chia sẻ tin này.

Source: http://www.facebook.com/groups/147037265383082/203294989757309/

***

Mới 21 tuổi – sinh năm 1990 – nhưng chàng trai Huỳnh Khải Dũng đã cho ra đời hơn 80 sản phẩm công nghệ thiết thực cho cuộc sống và được trao nhiều giải thưởng

Tốt nghiệp Trường THPT Bình Phú, quận 6 – TPHCM đã 3 năm nay nhưng Huỳnh Khải Dũng vẫn ngày ngày đến CLB Sáng tạo của trường để truyền lửa cho đàn em với tư cách là chủ nhiệm CLB. Những sản phẩm sáng tạo của Dũng như: mũ bảo hiểm thông minh, hệ thống đèn giao thông dành cho xe buýt, máy báo vấp ngã cho người già, máy phát điện mini, máy giao thoa sóng nước… đều được đánh giá cao ở những cuộc thi sáng tạo khoa học trẻ.

Học lớp 2 đã biết chế đồ chơi

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình không khá giả ở quận 6, Huỳnh Khải Dũng không có tiền mua những món đồ chơi mới tinh, đủ màu sắc, đắt tiền như các bạn cùng trang lứa. Để có đồ chơi, Dũng phải mày mò tự chế từ phế liệu. Năm học lớp 2, cậu đã tự chế ra con lân cho mình từ giấy đề-can, bao ni-lông, ống nước, giấy cứng và lò xo. Ống nước được cắt nhỏ cùng với bao ni-lông tạo thành thân con lân uốn lượn; bìa cứng làm đầu lân với lò xo ở giữa giúp miệng có thể há ra, ngậm lại; giấy đề – can tạo nên vảy và đuôi lân đầy màu sắc…

Đồ chơi cũ của bạn bè cũng được Dũng lượm lặt rồi tháo ra, sau đó dùng những thứ còn xài được kết hợp lại với nhau để tạo nên đồ chơi mới. Dũng kể: “Có lần, người anh họ chơi xe cần cẩu xong vứt đi, tôi nhặt lại rồi kết hợp với bộ phận tay cầm của máy trò chơi điện tử thành xe điều khiển bằng tay”.

Từ nhỏ, mỗi lần thấy ba và ông ngoại sản xuất nhựa bằng máy ép, Dũng mê lắm. Cậu bé có khiếu sáng tạo lúc đó chăm chú nhìn bộ phận thủy lực ép nhựa trong khuôn, rồi lại quan sát động cơ giúp máy chạy. Niềm đam mê với điện và động cơ điện bắt nguồn từ đó. Biết Dũng thích đồ điện tử, ba cậu hay mua những trò chơi cũ, giá rẻ về cho con “phá”. Từ “phá” đồ chơi đến quạt máy, đồng hồ… rồi xe máy, ổ cắm điện, Dũng khiến ai trong nhà cũng “sợ”.

Huỳnh Khải Dũng trong “phòng thí nghiệm” của mình. Ảnh: Hiếu Hiền
Nhiều lúc Dũng, khi ấy chưa đầy 10 tuổi, còn dám tự thử chạy xe điện với nguồn điện 220V trong nhà, cũng may là không bị giật. “Tuy nhiên, cái gì đến cũng phải đến. Năm lớp 6, tôi bị điện giật do nghịch bộ phận đánh lửa xe máy nhưng lại chế ra được vợt bắt muỗi từ đó” – Dũng nhớ lại.

Đến khi được ba mẹ cho cái máy cassette bị hư, cậu học sinh 11 tuổi lúc ấy lần đầu tiên được làm quen với bảng mạch điện tử. Nhìn bảng mạch điện tử phức tạp quá, Dũng thực sự thấy tù mù vì kiến thức chưa tới. Mấy ngày sau đó, cậu ra nhà sách đọc “cọp” hết cuốn này đến cuốn khác về điện tử và đã mày mò chế máy cassette hư thành máy phát điện dùng năng lượng gió. Kể từ đó, “cây sáng chế” này đã cho ra đời hàng loạt sản phẩm ứng dụng cao trong cuộc sống.

Càng khó, càng nhiều sáng tạo

Với hầu hết những sản phẩm do mình sáng tạo nên, Huỳnh Khải Dũng cho biết ban đầu, ý tưởng xuất phát từ việc bản thân và gia đình sống trong hoàn cảnh khó khăn. “Với thiết bị máy phát điện mini là do nhà ở đông người, nóng bức nhưng lại hay cúp điện. Với thiết bị báo vấp ngã cho người già là vì bà nội 92 tuổi từng bị té ở nhà nhưng không ai hay. Với hệ thống đèn giao thông dành cho xe buýt, ý tưởng bắt nguồn từ một lần tôi đón xe nhưng do mắt bị cận không nhìn thấy gì…” – Dũng tiết lộ.

Nhiều sản phẩm Dũng chỉ tạo ra trong vòng vài ngày nhưng cũng có không ít thiết bị cậu phải mất nhiều năm để tháo ra, lắp vào, chỉnh sửa và hoàn thiện. Do gia đình còn khó khăn, để tạo nên những sản phẩm mà mình ấp ủ ý tưởng, Dũng vừa đi học vừa làm thêm và gom góp số tiền ăn sáng, tiền mua sách của ba mẹ cho rồi ra chợ Nhật Tảo tìm mua các bộ phận. Đối với Dũng, những lần đoạt giải trong các cuộc thi, số tiền thưởng là niềm vui lớn vì cậu có thể dùng nó để tạo ra các sản phẩm tiếp theo.

Hiện Dũng đang ấp ủ ý tưởng chế tạo sản phẩm thiết bị vệ sinh bằng chân trong các nhà vệ sinh. “Hiện nay, người sử dụng nhà vệ sinh công cộng thường rất ngại sử dụng tay xả nước và mở vòi nước. Trong khi đó, thiết bị cảm ứng lại chỉ dùng ở những nhà vệ sinh nơi sang trọng vì giá thành cao. Từ đó, tôi đã nảy sinh ý tưởng tạo ra thiết bị chuyển việc dùng tay sang dùng chân.
Huỳnh Khải Dũng giới thiệu sản phẩm mũ bảo hiểm thông minh của mình
Ở khu vực bồn vệ sinh sẽ có bộ phận xả nước bằng chân; khu vực vòi rửa tay cũng có thiết bị mở vòi xả nước và xà bông bằng chân. Với cách này, giá thành không cao nhưng lại giữ được sạch sẽ cho cả người dùng và nhà vệ sinh” -  Dũng hào hứng. Theo “cây sáng chế”, với khu vực vòi rửa tay, chỉ tốn khoảng 40.000 đồng là có thể lắp đặt thiết bị này.

Ngoài ra, Dũng cũng đã thử nghiệm phần mềm cài vào máy vi tính giúp mỗi lần trẻ em ngồi quá gần máy, vượt quá khoảng cách cho phép, màn hình sẽ tự tắt. Dũng giải thích: “Trẻ em có thói quen áp mặt quá gần vào màn hình vi tính và tivi nên dễ bị cận thị. Tôi muốn tạo ra phần mềm này để phụ huynh có thể bảo vệ mắt cho con em mỗi khi không ở bên cạnh nhắc nhở”. Sắp tới, Dũng sẽ thử nghiệm tiếp phần mềm này cho màn hình tivi thông qua remote.

Riêng với máy báo vấp ngã, Dũng dự định sẽ hoàn thiện hơn, không chỉ dừng lại báo động khi ngã mà người ở xa còn có thể kiểm tra tình trạng người đeo nó đang ngủ, đi lại hay đang ngồi…

Ứng dụng vào cuộc sống

Trong số những sản phẩm của Dũng tạo ra, nhiều thiết bị được khách hàng gọi điện đặt mua như máy báo vấp ngã cho người già, mũ bảo hiểm thông minh, máy massage USB, máy làm kem, lồng bắt chuột bằng hồng ngoại, sào phơi đồ tự động, máy báo mưa… Thế nhưng, Dũng chỉ làm 1-2 sản phẩm để thử nghiệm nên đành từ chối bán.

Nhiều sản phẩm của Dũng đã giành nhiều giải thưởng: Giải nhất cuộc thi Sáng tạo cấp trường với máy giao thoa sóng nước năm 2007; giải nhất Sáng tạo Bình Phú với máy báo vấp ngã dành cho người già, giải nhì với thiết bị báo quên mũ bảo hiểm năm 2008; giải nhì cuộc thi Thanh thiếu niên tham gia đề xuất các giải pháp và ý tưởng tiết kiệm năng lượng (Trung ương Đoàn tổ chức) với mũ bảo hiểm thông minh và giải khuyến khích với máy phát điện mini năm 2009… Mới đây, năm 2010, sản phẩm mũ bảo hiểm thông minh của Dũng lại giành giải khuyến khích cuộc thi Ý tưởng Sáng tạo trẻ do Thành đoàn TPHCM tổ chức.

Chia sẻ về ước mơ của mình, Dũng cho biết mong muốn sau này có thể mở trung tâm nghiên cứu, sáng tạo đồ chơi trẻ em và đồ dùng thiết yếu trong đời sống. “Nhưng trước mắt, tôi mong là những sản phẩm đã sáng chế được doanh nghiệp nào đó chấp nhận để sản xuất đại trà và đi vào cuộc sống vì chúng mới chỉ dừng lại ở các cuộc thi” – Dũng tư lự. Hiện nay, Dũng đang cố gắng hoàn thành việc đăng ký sở hữu trí tuệ cho sản phẩm mũ bảo hiểm thông minh.

Dũng thừa nhận những sản phẩm mình làm ra nhiều, cái nào cũng tâm đắc nhưng phải nghiên cứu thêm để hoàn thiện. “Có thể hôm nay, sản phẩm đó hoàn thiện nhưng ngày mai, nó đã trở nên lạc hậu” – Dũng nhận xét.

Đam mê khoa học thật sự 

Ông Nguyễn Tấn Lộc, Phó hiệu trưởng Trường THPT Bình Phú, nhận xét: “Dũng là một người đam mê khoa học. Lúc còn đi học, cái gì không hiểu thì em hỏi đi, hỏi lại đến nơi, đến chốn. Những sản phẩm làm ra được Dũng kết hợp kiến thức hai môn lý và hóa”.

Theo thầy Lộc, đến nay, sản phẩm sáng chế của Dũng đã lên tới con số hơn 80. Vào tháng 1-2012 tới, những sản phẩm này sẽ được triển lãm cùng với các sản phẩm của các học sinh khác.
“Hiện nhà trường đang giúp Dũng tìm kiếm nhà tài trợ để có thể sản xuất đại trà những sản phẩm này” – thầy Lộc cho biết.
Minh Quyên

(C) nld.com.vn

Bổ nhiệm lãnh đạo khoa học: vài bài học từ Úc

GS Nguyễn Văn Tuấn (Úc): Viện Garvan của tôi vừa bổ nhiệm viện trưởng mới. Nhìn qua qui trình bổ nhiệm viện trưởng, tôi chợt lan man nghĩ đến qui trình bổ nhiệm nhân sự khoa học ở bên nhà, đến những tham vọng có đại học trong các danh sách “top 200”.

Viện Garvan là một viện nghiên cứu y khoa hàng đầu của Úc và trên thế giới. Lúc tôi tham gia Viện Garvan (20 năm về trước), Viện có chưa đến 100 người. Dưới sự lãnh đạo của Giáo sư John Shine, Viện phát triển nhanh chóng, và nay có hơn 500 nhân sự. Số này bao gồm khoảng 10 giáo sư, 30 phó giáo sư, và một nhóm bác sĩ, nhà khoa học, nghiên cứu sinh, phụ tá, v.v. Với số nhân sự này, Viện Garvan là một viện nghiên cứu lớn vào hàng thứ hai ở Úc (chỉ sau WEHI ở Melbourne). Mỗi năm, Viện công bố được trên 170 bài báo khoa học, với impact factor trung bình 7.5. Với thành tựu đó, Viện Garvan đứng ngang hàng với các viện nghiên cứu y khoa hàng đầu trên thế giới. Nhưng Viện không dừng ở đó. Hội đồng quản trị lúc nào cũng đi tìm “máu mới” để đưa Garvan lên tầm cao hơn, và nhất quyết phải “đánh bại” WEHI cho được để trở thành viện nghiên cứu y khoa số 1 của Úc.

Hành trình tìm lãnh đạo

Sau hơn 20 năm làm viện trưởng Viện Garvan, Gs John Shine quyết định nghỉ hưu. Từ 2 năm trước, ông đã báo cho Hội đồng quản trị biết ông sẽ nghỉ hưu, và yêu cầu Hội đồng phải tìm người kế nhiệm. Hội đồng lập một “ủy ban tìm người” (gọi là Search Committee). Họ họp và ra những tiêu chuẩn để tuyển lãnh đạo mới. Tìm một lãnh đạo cho một viện nghiên cứu lớn như Garvan không dễ chút nào. Người lãnh đạo Viện, theo nhận định của Hội đồng quản trị, phải là một nhà khoa học xuất sắc, có tiếng trên thế giới, nhưng đồng thời phải là một nhà quản lí và ngoại giao giỏi. Viện Garvan có những giáo sư với chỉ số H cao ngất, những giáo sư danh tiếng trên trường quốc tế, những guru trong chuyên ngành. Vì thế, viện trưởng mới dù không cần phải có chỉ số H cao như những giáo sư tại chức, nhưng cũng phải có chỉ số H “đáng nể”, và ít ra cũng phải có tiếng. Tiêu chuẩn này rất khó, vì một nhà khoa học giỏi thì thường là một nhà quản lí tồi; ngược lại, một nhà quản lí giỏi thì khó khi nào là một nhà khoa học có tiếng. Ngoài ra, nhà khoa học danh tiếng thường có “cá tính”, họ chẳng biết ngoại giao là cái gì! Do đó, không ngạc nhiên khi quá trình đi tìm người lãnh đạo mới rất gian nan.

Viện Garvan tích cực quảng cáo trên các tập san khoa học lớn trên thế giới như Nature, Science, Cell, PNAS, v.v. để tìm người lãnh đạo mới. Sau gần 1 năm và tốn khá nhiều tiền, họ có một danh sách ngắn gồm 5 người. Năm người này đều là giáo sư hoặc viện trưởng từ các đại học ở Mĩ, Anh, Áo, Úc. Sau khi phỏng vấn 5 người, họ thích một giáo sư từ Áo. (Họ tốn cả trăm ngàn đôla trả tiền cho các giáo sư đó sang Úc dự buổi phỏng vấn). Ủy ban tìm người gật đầu với vị giáo sư người Áo và báo cho ông biết rằng ông đã trúng tuyển. Tổng thống Áo khi nghe “hung tin” liền nhấc điện thoại gọi cho vị giáo sư đó đừng đi Úc, muốn gì thì ông sẽ cho thêm tiền và cơ sở vật chất. Tổng thống Áo là người biết giữ nhân tài, vì không muốn mất một vị giáo sư đầy triển vọng cho nước Úc xa xôi kia! Thế là bao nhiêu tiền bạc và công sức của Ủy ban tìm người tan thành mây khói.

Ủy ban tiếp tục tìm ứng viên mới. Lại thêm quảng cáo và lại tốn tiền thêm để mời các ứng viên sang Úc phỏng vấn. Nên nhờ rằng những ứng viên này toàn đi máy bay hạng thương gia và ở khách sạn 5 sao! Sau cùng Hội đồng quản trị và Ủy ban tìm người cũng có được một danh sách 5 người. Phỏng vấn xong, họ gật đầu cho một ứng viên ở Anh đang là khoa trưởng y khoa của một trường danh tiếng bên Anh. Và lịch sử lặp lại. Khi nghe tin vị khoa trưởng này sắp rời Anh để đi nhậm chức bên Úc, hiệu trưởng đại học và đích thân Bộ trưởng bộ giáo dục Anh năn nỉ ông đừng rời Anh, và hứa sẽ cung cấp những gì ông muốn. Thế là Viện Garvan lại thất bại lần thứ hai. Lúc đó quá trình tìm người đã vào năm thứ hai. Gs John Shine ra “ultimatum” rằng vì ông muốn nghỉ hưu nên ông không chờ lâu nữa và hối thúc Hội đồng quản trị phải sớm tìm người. Ông nói thêm rằng nếu trong vòng 6 tháng không tìm được người thì ông vẫn nghỉ hưu và Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm quản lí Viện!

Nhất quá tam, lần thứ ba thì thành công. Lần này, Viện Garvan tìm được một ứng viên lí tưởng. Đó là Gs John Mattick, đang là viện trưởng viện sinh học phân tử ở Queensland. Sau nhiều thảo luận và nhiều lần thuyết phục, Gs Mattick đồng ý về làm viện trưởng viện Garvan, trong sự tiếc nuối của Thủ hiến Queensland. Đầu năm 2012, ông sẽ chính thức nhậm chức tại Garvan.

Bài giảng ra mắt ấn tượng

Ngày hôm kia, Gs Mattick có một buổi nói chuyện ra mắt ở Viện Garvan. Buổi nói chuyện để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp. Ông nói về cái nhìn tương lai của ông liên quan đến Viện Garvan, đến định hướng nghiên cứu, và định hướng y khoa nói chung. Ông là một người elitist. Ông xem Viện Garvan là một viện elite. Ông tuyên bố một câu thẳng thừng trước 500 người rằng “nếu các bạn không phải là, hay không dám xem mình là, elitist thì các bạn không có lí do để có mặt ở Viện này”. Một câu phát biểu đầy ấn tượng và … phách. Ông nói tiếp: là nhà khoa học elite, các bạn phải suy nghĩ đến những nghiên cứu nhắm đến mục tiêu làm thay đổi nhận thức hiện hành, đóng góp có ý nghĩa cho khoa học quốc tế; đừng nghĩ đến cạnh tranh ở Úc, hãy nghĩ đến cạnh canh trên trường quốc tế. Ông tỏ ra mỉa mai những công trình nghiên cứu mà ông gọi là tủn mủn. Ông khuyến khíchthink bigthink different, và quan trọng hơn hết là nghĩ về big science. Nghe rất ấn tượng!

Theo cái nhìn của ông, y khoa sẽ tiến đến một giai đoạn mà ông gọi là NextGene. Đó là giai đoạn thông tin di truyền học sẽ quyết định điều trị cho mỗi bệnh nhân (gọi là individualized therepy). Viễn kiến của ông cũng chẳng khác gì viễn kiến của các nhà di truyền học trong cuối thập niên 1990s khi công trình giải mã toàn bộ hệ di truyền sắp toàn tất. Theo đó, mỗi cá nhân chúng ta sẽ có một căn cước sinh học (gọi là biological ID), trong đó hàm chứa tất cả các thông tin về gien làm nên cá nhân đó. Khi đến gặp bác sĩ hay bệnh viện, bệnh nhân sẽ quẹt thẻ căn cước sinh học vào một máy tính (như chúng ta dùng thẻ tín dụng ngày nay), và máy tính sẽ xử lí số liệu, báo cho bác sĩ và bệnh nhân biết loại thuốc nào thích hợp để điều trị, nguy cơ phản ứng của thuốc và nguy cơ biến chứng ra sao, v.v. Để xử lí số liệu gien cho cá nhân đó, đòi hỏi phải có kĩ năng phân tích, và ông xem bioinformatics (sinh tin học) và thống kê học là hai lĩnh vực ông sẽ chú trọng trong tương lai. Tôi có cảm tình và đồng chí hướng với ông tân viện trưởng, vì tôi cũng quan tâm đến di truyền học và cũng từng viết về cá nhân hóa tiên lượng bằng gien. Điều thú vị là sau bài nói chuyện, một đồng nghiệp đi bên tôi nói: chắc anh nghe như nhạc nhỉ? Vâng, bài nói chuyện của ông tân viện trưởng nghe cứ như là một bài nhạc hay.

Nghĩ đến bên nhà

Câu chuyện bổ nhiệm viện trưởng Viện Garvan có ăn nhằm gì đến chuyện bên nhà? Bất cứ thấy chuyện gì bên này, tôi cũng đều nghĩ đến chuyện bên nhà. Do đó, tôi thấy qui trình bổ nhiệm viện trưởng Viện Garvan là thú vị và có thể là một kinh nghiệm cho các trung tâm và đại học bên nhà. Tôi rút ra ba bài học (có lẽ là kinh điển) như sau:

Một là qui trình bổ nhiệm rất minh bạch. Dù không xa lạ gì với nguyên tắc minh bạch ở phương Tây, nhưng tôi vẫn rất ấn tượng với tính minh bạch của toàn bộ qui trình bổ nhiệm. Hội đồng quản trị tham vấn các giáo sư của Viện để đề ra những tiêu chuẩn tuyển dụng và lên một văn bản về nhiệm vụ (statement of responsibilities) cho tân viện trưởng. Họ báo cáo từng kì với các nhà khoa học cao cấp trong Viện về tiến trình bổ nhiệm, và những khó khăn trong quá trình thu hút ứng viên. Sự minh bạch làm cho ai trong Viện cũng cảm thấy mình có dự phần và tiếng nói vào việc bổ nhiệm một lãnh đạo mới. Điều này có vẻ hơi khó ở bên nhà, bởi vì cách làm theo kiểu “cơ cấu”. Với chế độ cơ cấu, người ta chỉ nghe lời đồn đại cho đến ngày có tuyên bố chính thức mới biết ai là lãnh đạo mới. Với chế độ cơ cấu, cán bộ cấp dưới không có tiếng nói vào việc bổ nhiệm và cũng chẳng biết tiêu chuẩn cụ thể ra sao. Tôi nghĩ cần phải học phương Tây về tính minh bạch trong bổ nhiệm nhân sự khoa học cấp cao.

Hai là tiêu chuẩn hoàn toàn dựa vào tài năng của ứng viên. Thật vậy, Hội đồng tuyển dụng không hề quan tâm đến ứng viên có quan điểm chính trị gì, theo tôn giáo nào, và quá khứ chính trị ra sao. Yếu tố chính trị hoàn toàn không nằm trong tiêu chuẩn tuyển dụng. Họ cũng chẳng quan tâm người được bổ nhiệm là sắc dân nào, vì quảng cáo trên các tập san quốc tế.   Tiêu chuẩn khoa học được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến tiêu chuẩn quản lí và ngoại giao. Tôi nghĩ cách làm đó mới có thể thu hút người tài đẳng cấp quốc tế. Nhưng cách làm này cũng rất khó thực hiện ở Việt Nam. Hình như tiêu chuẩn hàng đầu để làm sếp trong các đại học và viện nghiên cứu, thậm chí phân khoa, phải là đảng viên. Nếu thế thì tất cả các giáo sư nước ngoài, cho dù là có giải Nobel, sẽ không bao giờ có đủ tiêu chuẩn để lãnh đạo một viện nghiên cứu Việt Nam vì họ không phải là đảng viên.

Ba là quân bình giữa khoa học và quản lí. Tôi nghĩ sẽ rất khó để tìm được một lãnh đạo viện nghiên cứu mà giỏi cả hai mặt về chuyên môn và quản lí. Ở Viện Garvan, Gs John Shine là một người có tiếng trong khoa học, nhưng nếu đo bằng uy tín và các chỉ số khoa học (như chỉ số H) thì ông chỉ thuộc vào hạng “đàn em” các giáo sư khác dưới quyền [hành chính] của ông. Thế nhưng Gs Shine có một tố chất mà các giáo sư danh tiếng kia không có được: đó là tài quản lí và tài ngoại giao. Ông có cách quản lí rất … thoải mái. Ông chẳng làm gì cả, mà tất cả chỉ giao cho cấp dưới làm và ông chỉ đứng ra đôn đốc. Đúng là “dám đốc”! Ông suốt ngày chỉ suy nghĩ về tương lai và làm sao để phát triển uy thế của Viện. Ông còn có tài nói rất hay, thuyết phục các chính khách cho tiền. Có người nói đùa rằng ông có khả năng nói ngọt đến nỗi chính khách bần tiện nhất cũng sẵn sàng rút ví tiền ra đưa cho ông! Tài ngoại giao của ông là ông có thể dung hòa tất cả các bất đồng ý kiến của các giáo sư, mà không làm phiền ai. Tôi thì thích tính hài hước của ông, mỗi khi có gì quan trọng ông mào đầu bằng những ví von rất vui làm cả hội trường cười xòa, rồi mới vào đề. Có lần tôi nổi nóng với một đồng nghiệp nước ngoài và viết một bài báo với lời lẽ gay gắt; ông đọc được và triệu tôi vào office. Ông pha cà phê cho tôi uống, nhìn tôi một hồi, rồi nói: mày đang nóng giận? Tôi nói yes, rồi ông nói: chẳng lẽ mày muốn chết sớm à, mày có đọc bài báo hôm qua trên Science nói là người nóng giận giảm tuổi thọ, và tao không muốn thấy mày nóng giận. Rồi ông khuyên một câu mà tôi còn nhớ đến ngày nay và lấy làm phương châm hành xử mỗi khi gặp chuyện buồn bực: stay above. Ông nói mình phải đứng trên những tranh chấp nhỏ nhặt, đừng bao giờ hạ mình thấp ngang hàng hàng với đám nhảm nhí. Tôi nhớ hoài lời khuyênstay above này. Do đó, khi ông nói thì các giáo sư đàn anh đều phải nghe và ông quản lí rất hữu hiệu. Ở Việt Nam, tôi không biết có những lãnh đạo như thế hay không. Tôi có cảm giác các lãnh đạo khoa học và đại học bên nhà tiêu quá nhiều thời gian cho quản lí (management) mà thiếu khả năng chiến lược (strategy). Rất hiếm khi nghe được một phát biểu nào mang tính chiến lược từ các hiệu trưởng đại học bên nhà.

Nói chuyện bên lề một chút (nhưng có liên quan đến VN ta). Hôm qua, tôi gặp một số anh em đang giảng dạy và nghiên cửu ở Singapore. Câu chuyện của chúng tôi cuối cùng thì cũng quay về quê hương mình, về giáo dục và khoa học bên nhà. Qua nói chuyện, tôi mới biết được một thông tin thú vị. Đại học Quốc gia Singapore (NUS – National University of Singapore) có chính sách thu hút các giáo sư giỏi từ khắp thế giới về giảng dạy và nghiên cứu ở NUS. Không có gì ngạc nhiên, vì tôi đã nghe đến chính sách này từ lâu. Nhưng tôi ngạc nhiên khi biết rằng lương bổng của các giáo sư ngoại ở NUS cao hơn đồng nghiệp bản xứ 18%. Chẳng hiểu sao có con số 18%, mà không là 20%! Tôi hỏi thế các giáo sư địa phương có phàn nàn gì không, thì anh K nói “không”, họ hài lòng vì sự nghiệp chung. Để phát triển Singapore, họ biết rằng cần phải có sự đóng góp của người ngoài và đó là cách hay nhất để thu hút người tài. Thật đáng nể! Chẳng biết bên Việt Nam có chính sách nào như Singapore?

Việt Nam ta đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ có đại học nằm vào danh sách “top 200” đại học hàng đầu thế giới. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực, từ đầu tư cho cơ sở vật chất đến nghiên cứu khoa học và nhất là nhân sự. Một đại học cho dù giàu có cỡ nào mà không có các giáo sư đẳng cấp quốc tế và công trình nghiên cứu đẳng cấp quốc tế thì không thể nào lọt vào danh sách top 200 được. Nhưng để có con người quốc tế là chuyện không dễ chút nào. Số giáo sư đẳng cấp quốc tế ở bên nhà chắc chắn chẳng bao nhiêu, nếu không muốn nói là đếm đầu ngón tay. Như vậy, cần phải tuyển mộ giáo sư từ nước ngoài. Nhưng bài học trên cho thấy không phải có tiền là có thể thu hút người tài từ ngoài, bởi vì nước người ta cũng cố gắng giữ người có tài. Ngoài ra, cơ chế tuyển dụng theo “cơ cấu” và những “tiêu chuẩn hồng” vô tình loại bỏ những ứng viên có tài. Nếu không có thay đổi tôi e rằng mục tiêu “top 200” vẫn chỉ là một phát biểu lãng mạn mà thôi.

(nguyenvantuan.net)

Next