Archive for the 'Sciences' Category

176 NKH được trao giải thưởng HCM và Nhà nước về KHCN

Sáng 18.2, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức trao giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về khoa học công (KHCN).

176 nhà khoa học là đồng tác giả, tác giả của 32 công trình nghiên cứu (trong đó, 12 công trình được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 20 công trình được trao tặng Giải thưởng Nhà nước). Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về KHCN được xét duyệt và công bố 5 năm một lần, là những giải thưởng cao nhất của Việt Nam, là sự công nhận, tôn vinh, khích lệ của nhà nước đối với các nhà khoa học. Đây là những công trình đặc biệt xuất sắc thuộc 5 lĩnh vực: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp, khoa học Y-Dược.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho giáo sư Hà Minh Đức.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho giáo sư Hà Minh Đức.

Theo ban tổ chức các công trình được xét trao giải lần này đều mang tính thời sự cao, việc xét tặng trao giải là sự ghi nhận và động viên và khích lệ với cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam. Phát biểu tại lễ trao giải, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã chúc mừng đội ngũ các nhà khoa học, các tổ chức khoa học được trao giải cùng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu KHCN đã kế thừa và phát huy đồng thời say mê sáng tạo phát triển KHCN ứng dụng và cuộc sống, đưa đất nước ngày một phát triển.

Chủ tịch nước cũng  khẳng định bằng sự lao động say mê các nhà khoa học VN đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong những thành tựu mà tổ quốc và nhân dân ta đạt được trong những năm qua đều có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học. Việc xét tặng và trao giải lần thứ 4, có ý nghĩa lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đẩy mạnh CNH-HĐH, phấn đấu vào năm 2020 VN sẽ trở thành một đất nước có nền công nghiệp hiện đại ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới.

Đặng Tiến

(C) laodong.com.vn

Vì sao chỉ số giáo dục của VN vẫn ở nhóm trung bình?

TTCT – Báo cáo phát triển con người mà Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố ngày 9-11 vừa qua cho thấy Việt Nam có chỉ số phát triển con người (HDI) ở nhóm trung bình, xếp bậc 128/187 quốc gia.

Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ đứng trên Lào và Campuchia, xếp sau tất cả các nước còn lại. Chưa hết, trong ba chỉ số quan trọng, chỉ số phát triển giáo dục của chúng ta có giá trị khá thấp.

 

Nguồn biểu đồ: http://hdrstats.undp.org/en/countries/profiles/VNM.html

 

Các chỉ số phát triển

Từ năm 2010, UNDP sử dụng phương pháp tính HDI mới, trong đó giá trị của HDI được tính là trung bình nhân của chỉ số tuổi thọ (LEI), chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập (II).

So với thời điểm trước năm 2010, phương pháp tính mới này có thêm vào chỉ số nghèo đói đa chiều (MPI). Trong đó thay vì tính mức nghèo đói theo một định lượng duy nhất là thu nhập trung bình tính theo đầu người, chỉ số này còn phản ánh mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế – giáo dục và chất lượng cuộc sống qua việc sử dụng điện, nước, nhà vệ sinh, diện tích nhà ở, tài sản sở hữu, mức độ suy dinh dưỡng của trẻ em… Như vậy, chỉ số nghèo đói đa chiều phản ánh toàn diện hơn mức sống của người dân.

Theo chỉ số này, tỉ lệ nghèo đói đa chiều ở Việt Nam đã tăng lên mức 23,3%, thay vì mức 14,5% là tỉ lệ nghèo đói quốc gia nếu chỉ tính theo mức thu nhập trung bình.

Nhìn vào giá trị của các chỉ số này thấy rằng chỉ số thu nhập đạt giá trị rất thấp (0,478). Điều này cũng dễ hiểu vì Việt Nam vừa ra khỏi nhóm nước chậm phát triển năm 2008.

Tuy nhiên, chỉ số giáo dục cũng có giá trị rất thấp. Nguyên nhân chính làm chỉ số này có giá trị thấp, theo tính toán ở trên, là số năm đến trường trung bình của người dân (từ 25 tuổi trở lên) chỉ đạt mức 5,5 năm, tức là vừa qua bậc tiểu học được nửa năm. Từ năm 2000, Việt Nam đã công bố đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học. Năm học 2002-2003, tỉ lệ biết chữ ở người trong độ tuổi 15-24 đạt mức 95% với số năm học trung bình là 7,3 năm.

Nhìn vào xu hướng thay đổi của các chỉ số phát triển thấy rằng trong thập niên 2000-2011, HDI của Việt Nam đã tăng chậm hơn so với mức trung bình của thập niên trước đó, đạt mức 1,06%/năm so với mức 1,5% của cả giai đoạn 1990-2011. Trong khoảng thời gian 2006-2011, Việt Nam chỉ tăng được một bậc trong bảng xếp hạng của HDI. Đây là những dấu hiệu đáng lo ngại.

Ngoài ra, báo cáo phát triển con người năm nay nhấn mạnh đến hai yếu tố: bình đẳng và bền vững, được phản ánh rõ trong tiêu đề: “Bình đẳng và bền vững: Một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”. Tuy nhiên, cả hai tiêu chí bình đẳng và bền vững này lại là những tồn tại lớn của Việt Nam. Chính sách phát triển kinh tế theo bề rộng: phát triển do tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và xuất khẩu nguyên liệu thô, không chú trọng bảo vệ môi trường, chất lượng giáo dục thấp đã không giúp Việt Nam phát triển bền vững.

Con số 8% người dân sống trên các vùng đất thoái hóa (năm 2010), cao hơn nhiều nước châu Phi có chỉ số HDI thấp hơn cũng gợi lên nhiều lo ngại. Ngoài ra, các số liệu trong báo cáo cho thấy Việt Nam có sự bất bình đẳng lớn giữa các vùng miền. Nếu xét đến sự bất bình đẳng, HDI của Việt Nam giảm 14%, trong khi chỉ số giáo dục giảm 17,1%. Như vậy, đã có sự bất bình đẳng lớn hơn mức trung bình đối với chỉ số giáo dục.

Giáo dục đáng lo ngại

Nếu dựa vào số liệu của báo cáo phát triển con người của UNDP, thành tích giáo dục của Việt Nam dường như đang thụt lùi: số năm đi học trung bình trong báo cáo (5,5 năm: năm 2011) thấp hơn so với con số công bố trong nước trước đó (7,3 năm trong khoảng 2002-2003). Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do thống kê của Việt Nam và UNDP không giống nhau, hoặc đích xác là chất lượng giáo dục đã thật sự thụt lùi: trẻ em bỏ học tăng, tỉ lệ tái mù chữ cao…

Dù nguyên nhân thật sự của sự khác nhau này là gì đi chăng nữa thì một điều không thể phủ nhận là dưới con mắt của các chuyên gia quốc tế, trình độ giáo dục của Việt Nam đang ở mức rất thấp. Tính trung bình, người Việt Nam trưởng thành chỉ có trình độ giáo dục ở mức tiểu học (số năm đi học trung bình là 5,5 năm), trong khi kỳ vọng chung đối với Việt Nam, người trưởng thành phải có mức giáo dục đạt trình độ giữa phổ thông trung học (số năm học trung bình là 10,4 năm). Như vậy, giáo dục của Việt Nam quả là đáng lo.

Để cải thiện tình trạng này, Việt Nam trước hết cần ngăn chặn việc bỏ học quá sớm nhằm gia tăng số năm đến trường của trẻ. Thay vì theo đuổi những mục tiêu xa vời, ngành giáo dục hãy đưa trẻ đến trường và ngăn chặn tình trạng bỏ học giữa chừng. Nếu không giáo dục sẽ có nguy cơ tụt hậu như cảnh báo và Việt Nam sẽ rất khó phát triển bền vững, nhất là khi Việt Nam đang đặt ra mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020. Sẽ rất khó hình dung một nước công nghiệp hóa khi tính theo trung bình, người dân chỉ mới trải qua bậc học tiểu học.

Chính vì thế bà Ingrid Fitzgerald, tác giả báo cáo, cho rằng: “Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh hiệu quả trong một thị trường ngày càng toàn cầu hóa cao, và khó tránh khỏi bẫy thu nhập trung bình nếu không thể cải thiện các kết quả giáo dục và trình độ kỹ năng một cách bền vững”.

Nhận định này hoàn toàn trùng khớp với khuyến nghị của giới chuyên môn và các nhà làm chính sách trong và ngoài nước suốt nhiều năm qua. Chẳng hạn, ông Lý Quang Diệu trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007 đã cho rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực chính là “nút cổ chai” phát triển mà Việt Nam phải đương đầu”.

Các chuyên gia và trí thức trong và ngoài nước như giáo sư Hoàng Tụy, nhóm giáo sư đại học cùng một số trí thức trong và ngoài nước cũng có những nhận xét và đề xuất tương tự về cải cách giáo dục, trong nhiều năm liên tiếp với nhiều ý kiến tâm huyết. Tiếc thay, chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn không cải thiện. Trong khoảng thời gian 1990-2011, nếu chỉ số tuổi thọ tăng ấn tượng do phát triển kinh tế thì chỉ số giáo dục tăng không đáng kể.

Vì thế, đã đến lúc ngành giáo dục nghiêm túc nhìn lại mình, vì qua báo cáo phát triển con người của UNDP, chất lượng giáo dục của Việt Nam không tốt như đánh giá của những người có trách nhiệm trong ngành.

 

 

Chỉ số phát triển con người (HDI) là trung bình nhân của chỉ số tuổi thọ (LEI), chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập (II):

 

 

Các chỉ số này đều được tính theo một công thức chung:

 

 

Các giá trị tối đa và tối thiểu được chọn như sau:

Với LEI: mức tuổi thọ trung bình tối đa là 83,4 tuổi (ứng với Nhật Bản), mức tối thiểu được chọn là 20. Với EI: số năm học trung bình tối đa là 13,1 (ứng với Cộng hòa Czech), số năm học kỳ vọng tối đa chọn được là 18; số năm học tối thiểu được chọn là 0. Với II: mức thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương tối đa là 107.721 USD (ứng với Qatar) và mức tối thiểu được chọn là 100 USD.

Với Việt Nam, năm 2011, ước tính tuổi thọ trung bình đạt mức 75,2 tuổi; số năm học trung bình là 5,5 năm; số năm học kỳ vọng là 10,4 năm; thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương là 2.805 USD.  Do đó, các chỉ số sẽ có giá trị như sau:

 

 

Khi đó, HDI của Việt Nam sẽ có giá trị:

 

 

 

GIÁP VĂN DƯƠNG

(C) tuoitre.vn

Khoa học Việt Nam cũng cần “khoán hộ”

(C) Ảnh Vietnamnet.vn
***

Thực hiện cơ chế khoán sẽ giúp các nhà khoa học
tự chủ trong việc triển khai các đề tài, đề án.
Ảnh: Lê Phú
Tia Sáng – Mọi chính sách khoa học cần hướng tới kích cầu, minh bạch, đầu tư thỏa đáng đúng chỗ và nhất là đòi hỏi cao tương ứng đối với kết quả, để buộc mọi nhà khoa học, quản lý phát huy tiềm năng chuyên môn của bản thân theo tinh thần khoán sản phẩm.
Vai trò của nghiên cứu khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay quả là mờ nhạt. Với thực tế như vậy thật khó mà thu hút các doanh nghiệp, nhất là khối tư nhân còn nhỏ bé nhưng năng động, đầu tư cho khoa học công nghệ nước nhà. Nhiều doanh nhân Việt Nam hiện nay vốn xuất phát và được đào tạo là các nhà khoa học, và họ biết rõ thực trạng trì trệ, nhiều tiêu cực và viển vông của khoa học công nghệ, và họ không muốn đầu tư vào những chỗ không tin cậy.
Khác với các láng giềng như Trung Quốc chẳng hạn, các cơ quan khoa học Việt Nam chưa có được các chính sách đủ hấp dẫn các tiến sĩ trẻ giỏi từ nước ngoài trở về, vì thực tế họ chưa phải chịu sức ép về thành tích công bố quốc tế, phát triển công nghệ mới, đặt hàng cụ thể từ thị trường, chưa kể thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của không ít chức sắc còn làm nản lòng những người trẻ tuổi…
Theo tinh thần của cuộc cải cách 1986 và đổi mới chương trình Nghiên cứu cơ bản vừa qua, mọi chính sách khoa học cần hướng tới kích cầu, minh bạch, đầu tư thỏa đáng đúng chỗ và nhất là đòi hỏi cao tương ứng đối với kết quả, để buộc mọi nhà khoa học, quản lý phát huy tiềm năng chuyên môn bản thân theo tinh thần khoán sản phẩm. NCCB thì phải công bố quốc tế, nghiên cứu ứng dụng thì phải ra được sản phẩm và công nghệ thực thụ và cũng phải được công bố công khai.
Phạm Đức Chính

Khi làm khoa học kiểu “ăn xổi”

SGTT.VN (16/07/2011) – Những ngày gần đây, báo chí trong nước liên tục phanh phui những sai phạm cơ bản trong công tác đánh giá tác động môi trường về các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A. Từ những thông tin, số liệu được đưa ra ánh sáng, hẳn điều đó sẽ khiến nhiều người giật mình cho cung cách làm việc “ăn xổi, ở thì”, vô cảm với thiên nhiên và môi trường con người đang sinh sống.

 

Đánh giá tác động môi trường một công trình thuỷ điện phải khảo sát, tính toán, đong đếm hết sức chi ly để không gây ra hệ luỵ. Ảnh minh hoạ. Ảnh: Trung Dũng

 

Từ phản ánh của báo Tuổi trẻ, báo Sài Gòn Tiếp Thị, tôi không thể hình dung ra trách nhiệm của cơ quan tham gia đánh giá tác động môi trường, các vị lãnh đạo hữu trách và cả ê kíp tham gia ở đâu. Đặc biệt, khi đã bị phát hiện sự gian dối, khó có thể biện minh thì vị lãnh đạo đại diện nhóm trực tiếp lập báo cáo lý giải một cách tỉnh rụi “do năng lực hạn chế về trình độ, chưa chín muồi trong chuyên môn, nhận thức”.

Trong bài viết này tôi hoàn toàn không có ý muốn “thêm dầu vào lửa” vì sức nóng của bài viết “Lật tẩy báo cáo đánh giá tác động môi trường” hay “Báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ là bản sao chép” đăng tải trước đó, đã lan tỏa đến đông đảo bạn đọc và nhiều người cũng đã trực tiếp biểu hiện thái độ trước những thông tin gây sốc ấy. Nhưng, việc đòi hỏi về cách làm có trách nhiệm hơn với công tác đánh giá tác động môi trường để từ đó triệt tiêu ngay những tư tưởng ăn xổi thì luôn cần thiết.

Bước vào địa hạt bảo tồn gần 15 năm qua, chúng tôi đã trực tiếp tham gia đánh giá nhiều công trình trọng điểm, như: dự án nhiệt điện Vũng Áng (Hà Tĩnh), dự án nhiệt điện Mông Dương II (Quảng Ninh), dự án truyền tải điện hạ Sê San – Tung Streng (Campuchia) và còn nhiều dự án khác… Với trải nghiệm của một chuyên gia về động vật hoang dã, tôi nghiệm ra, để đánh giá tác động môi trường một dự án hay một công trình nào đó liên quan đến môi trường, đời sống dân sinh thì cũng cần phải có nhiều cơ quan, ban ngành có liên quan vì môi trường là khoa học đa ngành. Chẳng hạn, riêng về động vật hoang dã (chim, thú, lưỡng cư và bò sát) trong hợp phần sinh thái cũng phải cần ba chuyên gia riêng biệt.

Tuy nhiên, một số khu vực rừng thứ sinh không thuộc vào các khu vực bảo vệ, như: vườn quốc gia, khu bảo tồn thì cũng có thể ghép ba chuyên môn này lại thành một. Tất nhiên, chuyên gia này phải có sự am hiểu về động vật hoang dã và môi trường sinh thái. Như vậy là phải hơn cả chục người ở các cơ quan khác nhau đánh giá theo những hợp phần khác nhau để khảo sát, thu thập và hoàn tất đánh giá các dữ liệu của báo cáo đánh giá tác động môi trường…

Số tiền để thực hiện dự án đánh giá tác động môi trường hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A là 420 triệu đồng (chúng tôi không phủ nhận rằng công sức, chất xám nào cũng đo được bằng tiền) chứng tỏ kinh phí để làm việc và phải làm nghiêm túc, là không eo hẹp chút nào. Chỉ tiếc là cơ quan tham gia đánh giá tác động thiếu nhiều thứ không nên thiếu: trình độ, cái tâm và tầm với công việc mình được giao.

Chỉ cần làm một thống kê nho nhỏ, có thể thấy số tiền ấy “dư giả” mức nào: Nhóm khảo sát chỉ có ba người trong bảy ngày (cho là thực sự làm việc, không bị lạc rừng) dùng số tiền đó cho việc thuê xe hai cầu, ăn ở, vài ngày để viết báo cáo (mà ở đây lại chép và đạo báo cáo từ khu vực khác); mua bản đồ các tỉ lệ khác nhau; chung chi ngược lại cho đối tác vài chục phần trăm (giả sử có như vậy để có được hợp đồng cơ quan đánh giá) thì số tiền vẫn còn khá nhiều.

Kiếm tiền từ công tác đánh giá tác động môi trường quá dễ dàng; hay có phải số tiền này đã làm cho cơ quan đánh giá tác động môi trường hoa mắt nên quên mất vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình? Bảy ngày thực địa, mất cả ba ngày lạc rừng, trong khi không có sự giám sát của cơ quan hữu trách quản lý rừng thì làm gì còn sức để thu được dữ liệu để đánh giá mà không phải sao chép và “đạo văn”?!

Báo cáo theo kiểu này được gửi lên cấp trên, khi đọc cấp trên cùng thấy không có gì bị tác động và ảnh hưởng nên có lẽ mới phán một câu đầy tự tin: “Anh em báo cáo đâu thấy gì”. Có lẽ, cũng vì cấp dưới báo “không thấy gì” bất thường trong những chuyến khảo sát “cưỡi ngựa xem hoa” nên sông vẫn bị chặt khúc, rừng đầu nguồn vẫn bị tàn phá không kiểm soát… Và đáng tiếc, hệ lụy từ cung cách làm việc cẩu thả ấy không hế nhỏ: lũ lụt triền miên đến hẹn lại lên, người dân sống dưới mỗi đập thủy điện luôn canh cánh nỗi bất an khi mùa mưa đến…

 

Hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A nằm trong khu vực rừng Cát Tiên của tập đoàn Đức Long – Gia Lai đang trong giai đoạn chờ được Chính phủ phê chuẩn. Tuy dự án đã bị bộ Tài nguyên và môi trường trả về nhưng lại đang được bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, với tư cách là đơn vị tư vấn cho Chính phủ, tán thành. Nếu dự án này được thông qua, coi như 370ha rừng Cát Tiên bị xoá sổ, các hậu quả khác về môi trường cũng không lường hết được.

 

Một người dân bình thường sống ở vùng đệm của mỗi vườn quốc gia hay khu vực bảo vệ khác, chỉ cần chặt cây xanh, bẫy con thú nhỏ thì đã bị cho là xâm phạm đến tài nguyên rừng, bị phạt hoặc bị tù tùy thuộc vào mức độ xâm hại. Một tổ chức khoa học hay cá nhân cố tình làm sai lệch dữ liệu đánh giá trong báo cáo đánh giá tác động có nguy cơ làm mất hàng trăm hecta rừng trong vườn quốc gia thì nên xử như thế nào cho đúng? Có thể coi là tội phạm môi trường không?

Ăn quen, nhịn không quen trong trường hợp này lại rơi vào những người làm khoa học và lại “ăn” cả vào vườn quốc gia. Thật đáng tiếc. Những mảng rừng còn lại của quốc gia 20 mươi năm về trước đã được báo cáo là “lốm đốm như da báo rồi”, với cung cách làm việc như vậy thì tương lai gần, liệu còn rừng? Khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia và các khu vực được bảo vệ khác là thành lũy cuối cùng để bảo tồn nguyên vị những giống loài sinh học của quốc gia và quốc tế, là nguyên khí xanh của mỗi đất nước. Vì lý do kinh tế hay nhu cầu điện năng, ít nhiều phải hi sinh một phần “nguyên khí” đó. Nhưng, thiết nghĩ làm gì thì cũng phải tính toán, đong đếm hết sức chi ly, cẩn thận để không gây ra hệ luỵ, mà thế hệ tương lai phải gánh chịu; cách làm khoa học ăn xổi lại càng không được diễn ra. Đây chính là hành động có trách nhiệm chung của những ai có lương tâm và trách nhiệm, vì tương lai.

Những kiểu làm vừa đá bóng vừa thổi còi vừa qua sẽ góp phần không những làm suy giảm nguyên khí xanh của quốc gia mà còn làm nản chí những nỗ lực của các nhà bảo tồn, các tổ chức bảo tồn trong nước cũng như quốc tế vì thiên nhiên xanh của Việt Nam.

NGÔ VĂN TRÍ (NHÀ NGHIÊN CỨU SINH VẬT)

(C) SGTT.VN

Tăng đầu tư để phát triển khoa học

Đất Việt (16/07/2011) Hiện nay, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là đơn vị dẫn đầu cả nước về nghiên cứu cơ bản, số lượng công bố khoa học quốc tế của Viện chiếm gần 50% cả nước, góp phần lớn tạo nên vị trí khoa học của Việt Nam trong khu vực và quốc tế.

Theo báo cáo GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ (KH-CN) Việt Nam tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và đoàn công tác tại Hà Nội ngày 12/7, trong giai đoạn 2006-2010, Viện đã có nhiều nghiên cứu phát triển công nghệ gắn với thực tiễn phục vụ hiệu quả cho sự phát triển đất nước, tập trung vào những lĩnh vực như: Công nghệ thông tin và vũ trụ; công nghệ sinh học và sinh thái nông nghiệp bền vững; phòng tránh, giảm nhẹ hậu quả thiên tai và viễn thám; khoa học công nghệ biển…

Nghiên cứu sát thực tế

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Viện đã tạo ra giống lúa mới mang gene tạo axít béo omega-7, nâng cao chất lượng gạo; phục tráng giống lúa nếp đặc sản; sản xuất chế phẩm phòng chống nấm cho ngô, đỗ tương; tạo giống hồ tiêu chuyển gene kháng rầy rệp…

 

Nghiên cứu khoa học tại Viện Công nghệ  Sinh học – Viện KH-CN Việt Nam (Ảnh: Phương Hoàn)

 
Viện còn ký kết hợp tác khoa học công nghệ với 13 tỉnh, thành phố và các bộ, ngành nhằm nhanh chóng ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn một cách hiệu quả. Điển hình như dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc trừ ốc bươu vàng TOBI.25H” đã được Bộ NN-PTNT cho phép ứng dụng rộng rãi, hiện giá thành rẻ hơn 30% so với giá nhập ngoại, được nông dân đón nhận với nhu cầu sử dụng ngày càng cao…

Đặc biệt, Viện đã nghiên cứu và chuyển giao thành công dự án công nghệ sản xuất thuốc sốt rét cho nước Cộng hòa Công gô trị giá 1 triệu USD. Dự án này do Viện Hóa học đảm nhiệm và được tiến hành vào tháng 4/2012.

Cần tăng thêm nguồn lực

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Viện trưởng Viện tài nguyên môi trường Trần Đức Mạnh đề nghị Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề nghiên cứu biển (ưu tiên tăng cường về nhân lực cho nghiên cứu, đặc biệt là cử cán bộ trẻ đi học tập ở các nước phát triển…) để phục vụ nghiên cứu biển tại Việt Nam.

Trong lĩnh vực toán học, ông Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán nêu ý kiến, mặc dù nền toán học Việt Nam không thua kém thế giới nhưng có một thực trạng là tinh hoa của khoa học đều ở nước ngoài. Chính phủ chưa có chính sách hấp dẫn để thu hút nhân tài, chưa có chương trình cụ thể nào thu hút các nhà khoa học.

Ông Phạm Văn Lực, Giám đốc Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam cho biết, hiện Bảo tàng đang thực hiện dự án thu thập mẫu vật cổ với tổng kinh phí lên tới 340 tỷ đồng, tuy nhiên vấn đề khó khăn nhất là chưa nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Nhà nước trong việc thu hồi mẫu vật cho bảo tàng và địa điểm xây dựng.

Các nhà khoa học đều cho rằng, đầu tư cho nghiên cứu KH-CN còn thấp so với mặt bằng chung của các nước trong khu vực, chưa có chế độ đãi ngộ xứng đáng, tôn vinh những nhà khoa học có thành tích nghiên cứu cao.

Thứ trưởng thường trực Bộ KH-CN phát biểu tại buổi làm việc với Viện KH-CN Việt Nam (Ảnh: Phương Hoàn)

 
Trước những khó khăn mà Viện gặp phải, GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện KH-CN Việt Nam đề xuất, nhà nước cần quan tâm, đặt hàng các nhiệm vụ, giao các chương trình KH-CN lớn của nhà nước cho Viện. Đặc biệt chính phủ nên giao cho Viện KH-CN Việt Nam góp ý tham gia xây dựng chiến lược phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ, tham gia hoạch định chính sách phát triển KH-CN, giáo dục-đào tạo, bảo vệ tài nguyên – môi trường của đất nước.

Tăng đầu tư để phát triển khoa học

Bày tỏ quan điểm của mình tại buổi làm việc, Thứ trưởng thường trực Bộ KH-CN Nguyễn Quân cho biết, Bộ KH-CN đánh giá cao những kết quả mà Viện đạt được trong thời gian qua.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiếu vướng mắc trong việc gắn kết nghiên cứu với sản xuất trong toàn bộ hệ thống ngành khoa học nói chung và Viện nói riêng. Vì vậy, Thứ trưởng hi vọng việc thành lập doanh nghiệp KH-CN sẽ giúp gắn kết chặt chẽ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Về chế độ chính sách của nhà nước đối với các nhà khoa học, Thứ trưởng cho rằng các cán bộ nghiên cứu khoa học đang chịu nhiều thiệt thòi hơn so với mặt bằng chung của cán bộ công chức, “hiện nay chỉ có cán bộ ngành khoa học và nghệ thuật là chưa có phụ cấp nào ngoài lương”.

Bộ KH-CN cũng đề nghị chính phủ quan tâm phê duyệt đề án xây dựng bảo tàng của Viện KH-CN Việt Nam để mọi người, nhất là thanh thiếu niên tiếp xúc với KH-CN có điều kiện tiếp xúc và nuôi dưỡng lòng say mê khoa học.

Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Viện KH-CN Việt Nam là một đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học tự nhiên. Việc tăng cường đầu tư cho Viện là cần thiết. Còn tăng như thế nào sẽ có sự bàn bạc thống nhất và viện cũng tăng cường trách nhiệm để việc đầu tư thật sự hiệu quả.

Phó thủ tướng khẳng định, trong quá trình phát triển đất nước thì nhà nước phải đặt hàng các nhà khoa học. Nhà nước sẽ có những đặt hàng với Viện trong lĩnh vực nghiên cứu biển.

Chính phủ sẽ tiếp tục quan tâm, ưu tiên đầu tư tăng cường về cơ sở, vật chất cũng như nguồn nhân lực cho Viện KH-CN Việt Nam để Viện sớm đạt trình độ nghiên cứu tiên tiến trong khu vực..

Mai Hà – P. Hoàn

(C) Đất Việt

 

Next