Archive for the 'Vietnamese heart' Category

Thách thức Biển Đông và “chiếc nỏ thần” Việt Nam

TuanVietnam (14/06/2011) – Dân tộc Việt Nam có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được.

Những biến động dồn dập gần đây ở Biển Đông với hành động phi đạo lý của Trung Quốc trong xâm phạm chủ quyền của Việt Nam chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm khổng lồ chứa đựng không chỉ tham vọng vô đáy của Trung Quốc trong vùng biển xung yếu này mà cả sự đánh giá rất thấp (nếu không nói là coi thường) khả năng ứng xử chiến lược của nhà nước và sức trỗi dậy của dân tộc Việt Nam.

Đây là một nước cờ sâu và táo bạo. Có lẽ những người đi nước cờ này đã trù tính kỹ tới ba phản ứng sau đây của Việt Nam.

Thứ nhất, Việt Nam sẽ không tiếc tiền, vội vã mua sắm vũ khí, tăng cường phòng thủ. Điều này sẽ làm ngân sách quốc gia kiệt quệ, kinh tế vĩ mô chao đảo, kinh tế suy yếu.

Thứ hai, người dân Việt Nam sẽ rất bức xúc trong khi nhà nước bối rối lo ngại nên tăng cường kiểm soát và kìm chế. Kết quả là, người Việt Nam sẽ mất đi tính sáng suốt của sự đồng lòng; và do đó không còn tâm trí nào cho một nỗ lực cải cách sâu rộng.

Thứ ba, giới doanh nhân Việt Nam sẽ mất đi quyết tâm và nhuệ khí  trong thâm nhập thị trường Trung Quốc, một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược phát triển. Vì thế, Việt Nam sẽ tiếp tục là nước thua thiệt và yếu kém nhất trong các nước châu Á trong quan hệ thương mại với thị trường khổng lồ và tăng trưởng nhanh chóng này.

Thế nhưng, những người chơi nước cờ sâu và táo bạo nói trên có thể không lường hết sức trỗi dậycủa dân tộc Việt Nam. Dân tộc này có một vũ khí chiến lược vô song chỉ được dùng đến khi không còn phương cách nào khác. Vũ khí đó có khả năng làm kinh ngạc đối phương và thế giới bằng những nỗ lực phi thường mà trước đó không ai có thể hình dung được. Thách thức Biển Đông có lẽ là một vận hội vô giá, nó buộc người Việt Nam chúng ta phải dùng đến chiếc “nỏ thần” kỳ diệu này.

Chúng ta cần hiểu Trung Quốc hơn

Để vượt qua thách thức nghiệt ngã hiện nay, Việt Nam cần hiểu rõ hơn Trung Quốc. Đây là một dân tộc có nền văn hóa lớn, lâu đời, với nhiều thành quả huy hoàng trong quá khứ nhưng đã bị kìm nén nặng nề trong hàng trăm năm qua do chính sách đóng cửa và não trạng mê muội. Từ khi có cải cách do ông Đặng Tiểu Bình khởi xướng họ đã đi được những bước khổng lồ, làm thế giới thán phục, với động lực chủ đạo là ý chí và tham vọng rất lớn, trọng dụng nhân tài, tầm nhìn rộng, và mưu kế sâu sắc. Xu thế này hiện còn rất mạnh mẽ và có thể còn kéo dài.

 

Đảo Đá Đông thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh Chu Thanh Vân.

Việt Nam cũng như nhiều nước khác cần thấu hiểu cục diện này và chuẩn bị thật tốt để có thể sống bên một người láng giềng khổng lồ, hùng mạnh, tham vọng, mưu sâu, và có thể có những hành vi nhẫn tâm trong khẳng định quyền thế nhờ sự trỗi dậy của mình.

Đồng thời, Việt Nam cũng cần biết rõ những điểm yếu rất dễ tổn thương của Trung Quốc.

Thứ nhất, đó là nội tình phức tạp với nhiều yếu tố bất ổn từ trong cốt lõi. Mức độ ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng của Trung Quốc rất thấp so với hầu hết các nước (theo khảo sát thường niên của Ngân hàng Thế giới). Trung quốc sẽ không thể rảnh tay làm mưa gió trên thế giới nếu người dân Trung Quốc thấy chính phủ mình thua kém Việt Nam và các nước láng giềng trong nỗ lực cải cách-phát triển. Khi đó Trung Quốc sẽ phải quay về giải quyết vấn đề nội bộ.

Thứ hai, hình ảnh nhân văn của Trung Quốc trên trường quốc tế còn rất thấp. Từ thực tế châu Phi đến Biển Đông, họ chưa chứng tỏ được mình là một quốc gia có trách nhiệm cao trong  kiến tạo hòa bình và phồn vinh cho thế giới.

Thứ ba, Trung Quốc để lại nhiều ấn tượng chưa đẹp về tính trung thực và sự nhất quán giữa hành động và lời nói, từ chất lượng sản phẩm đến đường lối kinh tế và chính sách ngoại giao.

Một mặt khác, Trung Quốc là một quốc gia có lãnh đạo giỏi, tầm nhìn xa. Trên thực tế, họ rất ngại và kiêng nể các quốc gia có hội đủ ba yếu tố: thượng tôn các qui luật của tạo hóa, trọng dụng nhân tài, và dốc sức khai phát sức mạnh dân tộc. Bởi họ biết dân tộc này sẽ là một quốc gia hùng cường. Hàn Quốc là một trường hợp điển hình. Trong khi đó, họ có thể hành xử rất ngạo mạn với những quốc gia mê muội, giáo điều, hắt hủi hiền tài, phân liệt nhân tâm. Bởi họ biết đất nước này đang ở vào thế suy vi.

Trung Quốc đã qua giai đoạn trỗi dậy hòa bình và bước vào giai đoạn khẳng định uy lực của mình. Họ sẽ không ngại đối đầu trên những điểm mạnh của họ, đặc biệt là về thực lực kinh tế và quân sự. Tuy nhiên họ sẽ phải chùn lại nếu sự đụng độ khoét sâu các điểm yếu nêu trên: ổn định chính trị thấp, hình ảnh nhân văn hạn chế, ấn tượng về hành xử thiếu văn minh và trách nhiệm.

Việt Nam: Chiếc “nỏ thần” và phương cách sử dụng

Từ bài học từ cha ông

Binh pháp cổ có tổng kết rằng, muốn làm nên một chiến thắng hiển hách, cần có khả năng làm kinh ngạc đối phương. Đây là chiếc “nỏ thần” kỳ diệu mà người Việt Nam qua bao thế hệ đã dùng đến mỗi khi đất nước bị lâm nguy hoặc ngoại xâm giày xéo. Ông cha ta đã để lại những bài học quí giá khi dùng đến vũ khí chiến lược này.

Bài học của Đức Trần Hưng Đạo chỉ ra rằng cách bảo vệ tổ quốc tốt nhất là chủ động tiến công vào những yếu kém của chính mình. Theo tư tưởng này, ngài thảo ra hịch tướng sĩ, khích lệ tướng sĩ thấy nỗi nhục quốc gia mà bỏ thói hư tật xấu, quyết chí một lòng, xả thân vì nước.

Ngài chỉ rõ, nếu để mất nước thì: “chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến ngàn năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.”

Và nếu giữ được nước thì: “trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền.”

Nguyễn Trãi nêu ra những nguyên lý cao cả để dân tộc vượt lên mọi sự bạo ngược:

“Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo”

(Bình Ngô Đại cáo)

 

[caption id="attachment_1385" align="aligncenter" width="300" caption="Hội nghi Diên Hồng năm Giáp Thân 1284"]Hội nghi Diên Hồng năm Giáp Thân 1284[/caption]


Đến nỗ lực hôm nay

Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ trăn trở tìm kiếm người hiền tài ra giúp nước: “Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến… Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương.” (Chiếu cầu hiền)

Sẽ cần những nghiên cứu sâu sắc và thảo luận rộng khắp trong nhân dân để tìm ra đủ phương cách để Việt Nam có thể vượt lên bằng những nỗ lực làm kinh ngạc thế giới, buộc đối phương phải rút về thế phòng thủ – hòa hoãn. Ba hướng đi lớn cho các nỗ lực có thể là:

1- Xác lập ý chí cải cách của lãnh đạo Đảng và Nhà nước;

2- Cả nước trên dưới một lòng toàn tâm toàn ý khai phát sức mạnh tiềm tàng của dân tộc; và

3- Toàn xã hội thành tâm coi giá trị nhân văn và lòng nhân bản làm nền tảng phát triển và hướng đích cho dân tộc đi đến phồn vinh.

Theo hướng đi này chúng ta có quyền đòi hỏi và kỳ vọng một số hành động sau đây:

+ Lãnh đạo Đảng và Nhà nước lắng nghe bàn luận để thấy hết nguy cơ, thậm chí thảm họa mà đất nước nhân dân sẽ phải gánh chịu trong tương lai không xa nếu đất nước tiếp tục tụt hậu, dân tộc phân tâm.

+ Lãnh đạo Đảng và Nhà nước quây quần cùng đại diện mọi tầng lớp nhân dân, ngày đêm họp bàn tìm phương kế cải cách, đưa nhanh đất nước đến hùng cường.

+ Lãnh đạo Đảng và Nhà nước có chính sách sử dụng hiền tài, đưa đất nước vượt lên trên mọi lĩnh vực, từ phát triển kinh tế đến củng cố quốc phòng, từ dân chủ hóa đất nước đến xây dựng thiết chế nền tảng cho phát triển bền vững, từ cải cách giáo dục đến nâng cấp tiềm lực khoa học công nghệ, từ hợp tác quốc tế đến gia cường vị thế và hình ảnh Việt Nam.

+ Có những bước đi đột phá táo bạo; đặc biệt là xây dựng một số đặc khu kinh tế nhằm huy động sức mạnh tổng lực của dân tộc, là hình mẫu của Việt Nam năm 2045, với sức đuổi vượt mạnh mẽ làm thế giới khâm phục và kính nể.

+ Mỗi người dân Việt Nam, dù ở đâu hãy tự giác góp phần tạo nên hình ảnh một dân tộc có phẩm chất cao quí: thành tâm trong hợp tác, cầu thị trong học hỏi, ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng. Việt Nam cần trở thành một điểm sáng, có sức tương phản và thu hút mạnh mẽ trong hun đúc những phẩm chất cao quí này.

(Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-06-13-thach-thuc-bien-dong-va-chiec-no-than-viet-nam)

 

Yêu lắm Trường Sa – Việt Nam ơi!

'Tổ Quốc Luôn Bên Anh'

 

[caption id="attachment_1312" align="aligncenter" width="400" caption="Tổ quốc nhìn từ biền"]Tổ quốc nhìn từ biền[/caption]

 

 

Tiến sĩ Mai Liêm Trực – một ngôi sao khuê

Vừa qua, nhân dịp về thăm quê hương, Tiến sĩ (TS) Mai Liêm Trực đã đến thăm cán bộ, phóng viên Bình Định Điện tử. Nhắc đến ông là nói đến dòng họ Mai ở Tam Quan (Hoài Nhơn) – một trong những dòng họ được nhiều người biết đến với 3 anh em ruột đều mang “hàm thượng thư”. Đó là các ông: Mai Kỷ (nguyên Bộ trưởng – Chủ nhiệm Ủy ban Dân số); Mai Liêm Trực (nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính – Viễn thông, Chủ tịch Liên đoàn bóng đá VN); Mai Ái Trực (nguyên Bộ trưởng Bộ TN-MT). Trong đó, ông Mai Liêm Trực được biết đến như một “ngôi sao khuê tỏa sáng”…

Tiến sĩ Mai Liêm Trực

Người con liêm trực

Ông Mai Liêm Trực sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Thân phụ của ông là cụ Mai Cù, nguyên Trưởng ty Tài chính Bình Định thời kháng chiến chống Pháp. Vợ chồng cụ Mai Cù sinh hạ được 8 người con. Theo ông Mai Kỷ, cái tên Mai Kỷ là do ông nội ông đặt, với mong muốn sau này ông trở thành con người kỷ cương. Riêng 5 em trai sau của gia đình họ Mai đều do thân phụ đặt tên. Cách đặt tên của cụ Mai Cù là tất cả 5 anh em đều lấy tên là Trực, chỉ khác tên lót. Mục đích ông nội và thân phụ của các ông đặt tên như vậy là mong các con cháu ai cũng giữ gìn kỷ cương, liêm trực, mực thước, thẳng thắn.

Năm 1954, cụ Mai Cù đi tập kết ra Bắc. Ông Mai Kỷ nhớ lại: Ngày lên đường đi tập kết, ông cụ thân sinh hỏi vợ “bây giờ đứa nào theo cha?”. Cụ bà nuốt nước mắt rồi chỉ vào cậu bé Mai Liêm Trực “để nó theo ông!”. Và, cái tên Mai Liêm Trực đã gắn chặt với cuộc đời và sự nghiệp của ông từ đó.

Nói về người em trai của mình, ông Mai Kỷ không ngần ngại nhận xét: “chú ấy thông minh và thẳng thắn, y như cái tên mà cha tôi đã đặt cho”. Sau này, khi đã làm Tổng cục trưởng Bưu điện (nay là Bộ Bưu chính – Viễn thông), các đồng nghiệp và cấp dưới của ông Mai Liêm Trực đều thừa nhận ông là người dễ gần, có chuyên môn sâu, và luôn khẳng khái, cương trực. Trong căn nhà của ông ở Hà Nội luôn giản dị, treo bức chân dung của Bác Hồ với lời dặn dò ngành BC-VT: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng vì nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”.

Trong một lần giao lưu trực tuyến với bạn đọc của VnExpress, có người hỏi ông Mai Liêm Trực khá “cắc cớ” rằng: “Giả sử một ngày nào đó, cả hai máy điện thoại của ông cùng đổ chuông một lúc, một máy thì hiển thị số của Bộ Bưu chính – Viễn thông, máy còn lại của Liên đoàn bóng đá Việt Nam (khi đó ông Mai Liêm Trực làm Chủ tịch Liên đoàn), ông biết chắc rằng cả hai nơi đều có việc quan trọng cần giải quyết. Ông sẽ nghe máy nào trước?”. Ông Mai Liêm Trực đã thẳng thắn trả lời: “Tôi có thói quen là cầm máy lên là nghe ngay, không nhìn là số nào, nhưng sẽ hỏi ngay người ở đầu dây kia có việc gì gấp không, tôi đang có máy thứ hai. Nếu đó là việc gấp thì tôi sẽ giải quyết và yêu cầu máy kia chờ”.

Và nhiều người còn nhớ, năm 2002, trước khi Tổng cục Bưu điện được nâng lên thành Bộ BC-VT, ai cũng nghĩ chức bộ trưởng phải thuộc về ông Mai Liêm Trực. Thế nhưng, chính ông là người xin rút, để rồi vị trí ấy thuộc về ông Đỗ Trung Tá. Một lần cấp trên gọi ông Trực lên hỏi: “Bây giờ ý anh thế nào, có muốn chuyển đi đâu không?”. Lập tức ông trả lời ngay: “Tôi cũng đã có tuổi rồi nên chẳng ham hố gì, anh cứ để tôi ở lại làm phó cho anh Tá cũng được”. Thế rồi, sau đó ông làm Thứ trưởng thường trực Bộ BC-VT, còn ông Tá làm Bộ trưởng, dù trước đó ông vẫn luôn là cấp trên của ông Tá. “Đấy, tính nó là thế, cái gì cũng thẳng băng, luôn cống hiến hết mình. Chứ cứ như người ta mà thế thì phải ấm ức, hậm hực lắm!” – ông Mai Kỷ nhận xét.

TS Mai Liêm Trực (thứ 4, từ phải qua) nhận Giải thưởng Sao Khuê

Một ngôi sao khuê

Năm 1954, cụ Mai Cù đi tập kết, từ đó gia đình họ Mai luôn phải sống trong cảnh ly tán: Hai ông Mai Kỷ và Mai Liêm Trực cùng với thân phụ ở miền Bắc, còn 6 người con nhỏ ở lại với mẹ ở Bình Định. Tuy nhiên, vốn thông minh, lại có chí, ngay từ nhỏ cậu bé Mai Liêm Trực đã là một học sinh chăm ngoan, học giỏi. Khi mới theo cha tập kết Bắc, Mai Liêm Trực được vào học tại một trường chuyên ở Quảng Ninh. Học xong cấp III (PTTH ngày nay), ông được cử đi học đại học chuyên ngành điện tử ở CHDC Đức. Ông học rất giỏi và chơi thể thao cũng rất cừ, nhất là bóng đá. Có lần, ông Mai Liêm Trực kể: “Bấy giờ, Đội tuyển sinh viên Việt Nam tại Đức đã thi đấu hữu nghị và thắng đội hạng 2 của thành phố Magdeburg tại trại hè năm 1968. Toàn bộ trại hè sinh viên Việt Nam rất vui mừng với kết quả này. Tôi đã đá trung phong và ghi được một bàn thắng”.

Tốt nghiệp đại học, ông Mai Liêm Trực tiếp tục bảo vệ luận án tiến sĩ ngành kỹ thuật thông tin liên lạc tại Đại học Kỹ thuật Dresden. Trở về nước, ông trở thành một trong những chuyên gia hiếm hoi của ngành BC-VT của Việt Nam lúc bấy giờ. Đặc biệt, ông nổi tiếng là người có thể đọc và nói thông thạo đến 5 ngoại ngữ. Hầu hết các chuyên gia nước ngoài khi nghe ông nói chuyện bằng tiếng Anh đều phải trầm trồ. Khi được hỏi kinh nghiệm nào đã giúp ông thành thạo tới 5 ngoại ngữ, ông không ngần ngại chia sẻ: “Kinh nghiệm quan trọng nhất là nghe nhiều (như nghe đài, chương trình nước ngoài) và khi có điều kiện phải mạnh dạn nói. Mình nói ngoại ngữ không thành thạo thì không có gì xấu hổ. Chỉ có tiếng Đức tôi học bài bản, còn những ngôn ngữ khác chủ yếu tôi tự học”.

Điều đáng nói, ông Mai Liêm Trực còn nổi tiếng là một chuyên gia hàng đầu của ngành BC-VT, đã có công lớn trong việc định hướng hiện đại hóa mạng lưới viễn thông Việt Nam và đưa ngành BC-VT nước ta đuổi kịp bước phát triển của các nước trong khu vực. Với những cống hiến lớn lao này, tại lễ trao Giải Sao Khuê dành cho các đơn vị, cá nhân có đóng góp xuất sắc cho sự phát triển của ngành công nghệ phần mềm, công nghệ thông tin (CNTT) Việt Nam, ông Mai Liêm Trực là cá nhân duy nhất được tôn vinh và trao giải thưởng Sao Khuê về lĩnh vực hoạch định và thi hành chính sách. Tại lễ trao giải, ông nói như tâm sự: “Tôi thấy vui và mừng lắm. Các bạn thấy đấy, cách đây 5 năm, còn có sự nghi ngờ về khả năng phát triển về phần mềm, CNTT của Việt Nam. Nhưng bây giờ, tôi tin là không còn ai nghĩ như vậy nữa”.

TS Mai Liêm Trực (thứ 5 bên phải qua, người đứng bên trái ông là ông Đỗ Nguyên Hùng, Tổng biên tập Báo Bình Định) thăm Báo Bình Định điện tử. Ảnh: NP

Cầu thủ biết rời sân cỏ đúng lúc

Từng là Thứ trưởng Thường trực Bộ BC-VT, Chủ tịch LĐBĐ Việt Nam… bỗng dưng người ta thấy ông Mai Liêm Trực lần lượt… “giã từ sân cỏ”. Có lần, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá cao vai trò Chủ tịch LĐBĐ Việt Nam của ông Mai Liêm Trực: “Tôi đánh giá rất cao ông Trực, đặc biệt với việc tổ chức được đại hội khóa 5, mà theo tôi, là chưa có tổ chức xã hội nào tổ chức được một đại hội có tính dân chủ cao như thế”. Vậy nhưng, sau đó ông đã quyết định xin nghỉ. Lý giải về việc rút khỏi chức Chủ tịch LĐBĐ Việt Nam, ông Mai Liêm Trực cho biết: “Vì gia đình, đã đến lúc tôi cần phải nghỉ ngơi”.

Sau khi nghỉ hưu, ông Mai Liêm Trực đã nhận lời làm Chủ tịch HĐQT Công ty Liên doanh Iqlinks. Tại lễ ra mắt công ty, ông tâm sự: “BC-VT Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Chúng ta đã có nhiều thiết bị công nghệ hiện đại… phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước; nhưng vẫn không tránh khỏi những hạn chế về CNTT tại các địa phương. Công ty Qualcomm là đối tác lớn, phía Việt Nam cần uy tín, kinh nghiệm và trí tuệ. Công ty Qualcomm ra đời là nhằm khắc phục những hạn chế đó”. Tuy nhiên, ông Mai Liêm Trực cũng đặt điều kiện “Khi IQlinks đứng vững thì mình sẽ rút”. Và ông đã thực hiện đúng như vậy. Không ít người ngỡ ngàng không hiểu vì sao IQlinks đang trên đà phát triển mà ông Mai Liêm Trực lại xin rút lui. Lý giải về về vấn đề này, ông Mai Liêm Trực cho biết: “Giống như chơi bóng đá, tôi rời sân cỏ khi khán giả còn luyến tiếc. Tôi cho rằng, chúng ta nên tạo cơ hội cho thế hệ trẻ. Những cây đa, cây đề rất đáng quý nhưng cũng cần vun xới cho mảnh đất đâm chồi nẩy lộc. Chúng ta không thể thiếu cây đa, cây đề, nhưng dưới bóng cây đa, cây đề, đến cỏ cũng không mọc được” – ông hóm hỉnh nói.

Viết Hiền

(Nguồn: donghuongbinhdinh.org)

Bà tiến sĩ “Tây học” và làng tre

TT – Cách TP.HCM về phía bắc chừng 30km đến địa phận tỉnh Bình Dương là có thể đến làng Phú An, nơi có làng tre được coi là lớn nhất Đông Nam Á, qui tụ hầu hết giống tre trên khắp miền đất nước VN.

TS Mỹ Hạnh (trái) hướng dẫn đoàn khách của Trung tâm CIRAD đi thăm làng tre – Ảnh: T.Tuấn

Nghe đọc nội dung toàn bài:

 

Trong một buổi họp với bà con ở quê năm 1999, người dân xã Phú An đã “trách cứ” tiến sĩ (TS) Diệp Thị Mỹ Hạnh toàn đi nơi khác cống hiến mà bỏ rơi quê nhà của mình. Trong suốt hơn 20 năm kể từ khi lấy bằng TS về môi trường đất ở Pháp, TS Hạnh chỉ chuyên tâm nghiên cứu về dừa và đã lăn lộn với loại cây này trong các dự án ở đồng bằng sông Cửu Long. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ý tưởng về một vùng sinh thái cho cây tre – giống cây dẻo dai, kiên cường mang nhiều đặc trưng của người dân Việt – chợt đến với bà.

Khu bảo tồn tre

“Cây tre là cây của người nghèo, đồng thời cũng là cây sinh thái. Gỗ tre có thể sử dụng phục vụ nhiều mục đích như làm than, vải, làm nhiều loại công cụ khác nữa. Bản thân tre có thể hấp thụ kim loại nặng, giúp bảo vệ môi trường” – TS Hạnh giải thích về ý tưởng ban đầu đó của mình.

Theo bà Hạnh, tuy là nước trồng rất nhiều tre nhưng VN hiện tại hầu như không có chuyên gia hay trung tâm nào chuyên nghiên cứu về tre cả. TS Hạnh sau đó phải đi đến rất nhiều trung tâm và viện nghiên cứu ở nước ngoài để có được những tài liệu phong phú và sinh động nhất về loài tre.

 

TS Gabriel de Taffin, giám đốc Trung tâm nghiên cứu về nông nghiệp CIRAD ở khu vực Đông Nam Á -người từng đi nhiều nơi ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ nghiên cứu về môi trường, cũng ngạc nhiên khi tới làng tre Phú An: “Đó là công trình lớn. Tôi nghĩ đây là trung tâm bảo tồn về tre lớn nhất ở Đông Nam Á. Ở Bogor (Indonesia) và Singapore cũng có những khu bảo tồn lớn, nhưng đó là những khu tổng hợp mà tre là một phần trong đó chứ chưa có những trung tâm lớn như thế này. Ở nước Pháp chúng tôi cũng có một trung tâm bảo tồn về tre. Với những gì làm được hiện nay, làng Phú An hoàn toàn có thể phát triển lên tầm cỡ như trung tâm bên Pháp để trở thành một khu bảo tồn lớn về tre của châu Á”.

Rồi TS Hạnh lặn lội đến các tổ chức phi chính phủ, đại sứ quán Pháp và một số nước khác để xin tài trợ cho ý tưởng của mình. Năm 2004, chính quyền vùng Rhones Alpes của Pháp đồng ý hỗ trợ 600.000 euro để giúp bà thực hiện ý tưởng về ngôi làng sinh thái bằng tre. Phía tỉnh Bình Dương cũng hỗ trợ khi đồng ý cấp 10ha đất ở xã Phú An cho bà.

 

Sau bốn năm thực hiện, mảnh đất toàn cát, đất trống và cỏ ngày nào giờ trở thành khu bảo tồn, sinh thái lớn về tre. Ở đây bà TS đã thu thập được khoảng 130 giống tre với 300 loại mẫu tre khác nhau, trong đó có nhiều giống quí hiếm như tre vuông, mai ống, tre vàng sọc, luồng (Phú Thọ), mây Muồi Mai (Bắc Cạn), tre ngà (Thái Nguyên), tre mét, hóp lớn (Hà Tĩnh)…

Mảnh đất hoang rộng 10ha ngày nào của Phú An giờ trở thành một trung tâm nghiên cứu tre đồ sộ với đầy đủ các bộ sưu tập tre ở khắp nơi trên cả nước, trong đó được chia ra làm các khu như tre Bắc bộ, tre đồng bằng sông Cửu Long, tre Tây nguyên… Ngay trong trung tâm có khu để sinh viên và các nhà nghiên cứu tìm hiểu về tre, cách thức nuôi trồng, gây giống tre…

Giấc mơ xanh

Bản thân TS Hạnh cũng nghiên cứu dùng tre để thực hiện các dự án sinh thái như dùng tre để lọc kim loại nặng (cây Lantana camara), nghiên cứu các sản phẩm chế biến từ tre, dùng các sản phẩm tre để thay thế mặt hàng nhựa, nilông gây hại cho môi trường… Ngay giữa trung tâm là một bảo tàng (được xây dựng với cột, trần cũng bằng chất liệu từ tre) trưng bày từ các nhạc cụ tre như đàn prông, đàn tơrưng, một khu trưng bày sản phẩm về tre độc đáo với sự hỗ trợ trực tiếp của các kiến trúc sư người Pháp.

Ngoài ra còn có một khu mê cung tre để khách tham quan có thể khám phá, thư giãn ở đây. Ở một góc khác, TS Hạnh xây dựng một góc thiền riêng mà gần đó là một nhà hát ngoài trời, nơi nhìn đối diện sang khu bảo tồn tre đồng bằng sông Cửu Long với sông nước, cầu khỉ…

Tháng 11-2007, khi đến vùng Valence (Pháp) thuyết trình về dự án của mình, bà Hạnh đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của những người đến nghe. Cô gái trẻ Julie Logel (23 tuổi), bị thuyết phục bởi ý tưởng của trung tâm, đã tự bỏ tiền túi mua vé máy bay sang VN giúp đỡ dự án của bà. Gặp Julie ở trung tâm, có thể thấy cô lăn xả vào mọi việc của trung tâm từ sơn tre, dọn dẹp, tổ chức công việc hằng ngày cho trung tâm. Sau Julie, trung tâm đón nhận thêm Pauline (22 tuổi) tới làng để thực tập và làm tình nguyện viên tại đây.

Vùng Rhones Alpes coi đây là một trong những dự án thành công nhất họ từng có trong đầu tư ở nước ngoài. Theo kế hoạch, ngôi làng sinh thái tre này sẽ chính thức được khai trương vào ngày 8-4 trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa Pháp.

Những cây tre của ngôi làng xanh mà bà Hạnh mơ ước ngày nào giờ đã thành hiện thực. Sẽ còn nhiều công việc để bà TS phải lo như làm sao duy trì, phát triển được ngôi làng tre sau khi chính thức đi vào hoạt động. Tuy vậy, bà TS có thể tự hào về những gì đã làm được sau suốt gần mười năm theo đuổi giấc mơ “xanh” này của mình.

THANH TUẤN

 

Một góc khu bảo tồn ở làng tre – Ảnh: T.Tuấn

Vất vả nhất trong quá trình tìm tre của bà có lẽ là việc lặn lội tìm tre vuông ở một tỉnh miền núi phía Bắc. Đỉnh núi Mã ở Thanh Hóa bà cũng đã trèo tới hai lần để tìm loại tre dây ở đây, trong khi đỉnh Phanxipăng cũng không thiếu dấu chân bà, nơi bà tìm được một loại tre đặc biệt với thân có gai. 

 

Ý kiến bạn đọc

Tôi rất sung sướng được đọc bài này và xin cảm ơn Tiến sỹ Mỹ Hạnh về việc bà bỏ công sức ra để bảo tồn cây tre Việt Nam. Tôi là một người rất yêu cây tre Việt Nam và rất đau buồn khi giờ đây ở nhiều vùng, nhất là nông thôn Việt Nam ngày càng vắng bóng cây tre – một biểu tượng của dân tộc Việt Nam.

Hàng nghìn năm qua cây tre luôn gắn bó với đại đa số người dân Việt Nam – như Thép Mới đã viết trong bài “Cây tre Việt Nam”. Nhưng chỉ hơn chục năm gần đây, cây tre đã bị phá huỷ không thương tiếc, kéo theo là hàng loạt hệ luỵ về môi trường, về vănhoá… Đã nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy tre như mơ thấy người yêu dấu. Quê tôi (Thái Bình), tre bị phá chặt gần hết rồi.

Tôi đề nghị Tiến sỹ nên thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và ngành bảo vệ môi trường phổ biến rộng rãi cho nhân dân biết tác dụng nhiều mặt của cây tre và tái lập trồng tre ở nhiều nơi, không chỉ đưa tre vào “Bảo tàng tre” của bà. Chúng ta hãy phát triển hiện đại trong bóng cây cổ truyền một cách hợp lý.

Kính chào Tiến sỹ, ước gì được gặp Tiến sỹ và thăm bảo tàng tre của bà. Chúc bà khoẻ mạnh và thành công.

Vũ Mạnh Thắng
thangpmuc26@yahoo.com

(Nguồn: tuoitre.vn)

 

Sóng Biển Đông trong tâm hồn Việt Nam

Tác giả: TƯƠNG LAI

Hòa bình và hòa hiếu không thể là sự nhân nhượng yếu hèn mà có được vì chúng ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới. Bởi vậy, phải thường trực nuôi dưỡng và phát huy ý chí quật cường bất khuất mà ông cha ta bao đời nuôi dưỡng để biến thành vũ khí mầu nhiệm chống ngoại xâm. Kỷ niệm một trăm năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, chính là lúc đất nước với thế và lực mới càng phải khởi động sức mạnh toàn dân để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ tổ quốc. Đó là cách thiết thực kỷ niệm và học tập bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Sóng Biển Đông lay hồn người Việt

Từ buổi ấy, “đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi” để rồi “đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ, sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương” [Chế Lan Viên] , một trăm năm đã trôi qua. Và rồi hôm nay, trong tiếng “sóng quê hương” vỗ triền miên từ mũi Trà Cổ, đến Cà Mâu vòng về Kiên Giang của một đất nước thống nhất, non sông quy vào một mối, liệu Bác đã có thể ngủ yên? Liệu có còn lặp lại nỗi trằn trọc thuở nao của Bác “Một canh, hai canh, lại ba canh. … băn khoăn giấc chẳng thành, canh bốn canh năm vừa chợp mắt…  thì đã phải thức giấc vì tiếng sóng từ Biển Đông giội về!

Sóng Biển Đông đang gầm gào thét gọi, lay động những tâm hồn Việt Nam chẳng thể nào ngủ yên khi chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc đang bị xâm phạm một cách ngang ngược.

Ở cạnh một nước láng giềng với mong muốn “tối lửa tắt đèn có nhau”, chúng ta cứ ao ước được “bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em”. Và trong trái tim nhân dân của hai nước Việt-Trung bao đời, những người dân hiền lành, lương thiện, luôn dành chỗ cho tình hữu nghị anh em từng cưu mang cứu giúp lẫn nhau trong cơn hoạn nạn. Không phải ngẫu nhiên mà căn cứ địa thần thánh của cách mạng và kháng chiến của ta trong thế kỷ XX được xây dựng kề sát biên giới Việt Trung, và những chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã ghi tạc vào lòng sự đùm bọc của bà con người Hoa bên kia biên giới trong những ngày đen tối của xiềng xích thực dân, đế quốc, phát xít. Cũng chính nơi đây, sau 33 năm bôn ba bốn biển năm châu tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã dừng lại tại cột mốc biên giới để xúc động cúi hôn nắm đất quê hương.

Một góc quần đảo Trường Sa

Hiện nay, một “CNXH mang đặc sắc TQ” đang tự phơi bày trước thế giới hình ảnh của một “đại bá”, nhằm thực hiện quá trình tích tụ tư bản để công nghiệp hóa, muốn thế thì phải tìm mọi cách giải quyết nhu cầu năng lượng mà theo các số liệu do Bloomberg tổng hợp, nguồn dự trữ dầu của Trung Quốc đã sụt giảm gần 40% kể từ năm 2001. Trung Quốc đứng đầu bảng về phá hoại môi trường do phát triển “quá nóng”. Để đạt mục tiêu trở thành siêu cường, họ bất chấp những hệ lụy xã hội ngày càng gay gắt. Không phải ngẫu nhiên mà vừa rồi để nhằm trấn an dư luận, tờ Nhân Dân Nhật báo của Trung Quốc đã buộc phải có bài xã luận đề cập đến “những tiếng nói bị nhấn chìm” trong xã hội, ủng hộ quyền ngôn luận, kêu gọi “cứu vớt” những tầng lớp dân chúng cảm thấy bị bỏ rơi, không được lắng nghe và không có cách nào để bày tỏ những nguyện vọng của mình.Rồi đến hôm nay, đúng một trăm năm ngày Bác ra đi tìm đường, những cột mốc nằm suốt dải biên giới Việt Trung đã được xác định và gia cố vững chắc để khẳng định trên thực địa tính tôn nghiêm của chủ quyền lãnh thổ bất khả xâm phạm của một quốc gia. Thế nhưng cùng với việc thỏa thuận cột mốc biên giới trên bộ, thì “chiếc lưỡi bò” của mộng bành trướng với toan tính lấn chiếm lại thè ra muốn liếm trọn Biển Đông để thỏa cơn khát năng lượng của một cường quốc đang vội vã công nghiệp hóa và hiện đại hóa bằng bất cứ giá nào. Việc làm này rõ ràng đi ngược lại với nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc anh em vốn muốn sống hòa hiếu, muốn có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, đi ngược lại với thiên chí của nhiều nhà lãnh đạo TQ từng có những hành động và ý nguyện thiết thực xây đắp mối quan hệ Việt – Trung thực sự tốt đẹp.

Hành động “diễu võ dương oai” gần đây vì thế là mũi tên nhằm hai đích, vừa hù dọa các nước láng giềng vừa làm giảm áp lực nội bộ. Cho nên, cùng với sự kiên quyết giáng trả hành động xâm phạm, phải làm cho nhân dân Trung Quốc biết về những hành động ngang ngược của nhà cầm quyền của họ đối với nước láng giềng Việt Nam. Trong khi cố gắng hàn gắn và củng cố mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì đồng thời phải làm cho cộng đồng quốc tế biết về thiện chí của ta và tính hai mặt của Trung Quốc.

Cải thiện hình ảnh Việt Nam trong long bè bạn

Điều quan trọng nhất là trong khi mở ra một mặt trận đối ngoại để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, phải ra sức cải thiện hình ảnh Việt Nam trong lòng bè bạn. Để có được cái đó thì xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh làm chỗ dựa vững chắc cho mọi giải pháp cần phải có nhằm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Việc ngang nhiên cho tàu “hải giám” [thực chất là tàu quân sự] xâm nhập vùng biển của ta để cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh là một bước leo thang nhằm thực hiện ý đồ hiện thực hóa đường lưỡi bò, độc chiếm biển Đông. Cần hiểu rằng, đây chỉ là khúc nhạc dạo đầu để thăm dò thái độ của Việt Nam mà thôi. Và nếu như không có một thái độ thật cứng rắn thì từ khúc nhạc dạo đầu đó, nó sẽ là một bản “hòa tấu” quen thuộc của những lời có cánh hoa mỹ đi liền với những hành động xâm phạm trắng trợn. Đúng như sự nhận định của thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Bộ Công an ngày 31.5.2011 :  “Những tuyên bố của ta là đúng lúc, thiết thực nhưng chưa đủ. Chủ quyền quốc gia là tối thượng của một dân tộc, là vĩnh cửu, là trường tồn. Không ai có quyền được mặc cả độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia mình cả… Phải nói rõ việc làm của Trung Quốc đã vi phạm gì, vi phạm đến đâu sự độc lập của chúng ta, để cho thế giới biết chúng ta không kích động chủ nghĩa dân tộc mà là tinh thần tự tôn dân tộc”.

Sức mạnh vô bờ từ lòng yêu nước Việt Nam

Lòng yêu nước gắn làm một với tinh thần tự tôn dân tộc là điểm nhạy cảm nhất trong tâm thế Việt Nam, chạm đúng vào điểm nhạy cảm ấy là một sức mạnh vô bờ được bật dậy “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước ” như Bác Hồ đã từng phân tích. Đây chính là lúc phải biết khởi động truyền thống Việt Nam quật cường bất khuất không bao giờ chịu hèn yếu cúi đầu khuất phục cho dù kẻ thù có hung bạo đến đâu. Kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, chỉ giữ được hòa hiếu nếu chúng ta có đủ thực lực. Khi Nguyễn Trãi để nhằm “sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” đã “nghĩ kế lâu dài đất nước, tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh” [Bình Ngô đại cáo]. Mà làm được vậy vì thực lực của cuộc kháng chiến ở thế kỷ XV buổi ấy vốn đã từng “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn, Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông”.[Bình ngô đại cáo]

Các chiến sĩ Trường Sa.


Cũng vì vậy, đúng một năm trước ngày toàn quốc kháng chiến 19.12.1946, Hồ Chí Minh từng căn dặn : “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”. Để có đủ thời gian gây dựng thực lực, Hồ Chí Minh đã từng khai thác bất cứ khả năng nào có thể, cho dù là nhỏ nhất, để nhân nhượng nhằm kéo dài thời kỳ hoà bình mong manh. Thế nhưng, khi buộc phải cầm súng, chúng ta biết cách phải nhằm trúng vào kẻ thù. Đó chính là bản lĩnh của Hồ Chí Minh.

Có được bản lĩnh ấy vì Hồ Chí Minh tin chắc vào sức mạnh của dân tộc mình, biết cách khởi động và đẩy tới đỉnh cao sức mạnh đó bằng đường lối đại đoàn kết dân tộc. Vũ khí vạn năng của “người Việt Nam” là lòng yêu nước và ý chí quật cường lưu truyền trong huyết quản. Chính cái đó là chất xi măng gắn kết khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng của dân chủ và tự do được nghiêm chỉnh thực hiện. Bởi lẽ, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phục tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Với tấm lòng nhân hậu và trung thực, dân tộc ta vẫn mong sao “Biển sóng biển sóng đừng âm u/ Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”, chúng ta khát khao hòa hiếu và hữu nghị với các nước láng giềng.

Tuy nhiên, hòa bình và hòa hiếu không thể là sự nhân nhượng yếu hèn mà có được vì chúng ta càng nhân nhượng họ càng lấn tới. Bởi vậy, phải thường trực nuôi dưỡng và phát huy ý chí quật cường bất khuất mà ông cha ta bao đời nuôi dưỡng để biến thành vũ khí mầu nhiệm chống ngoại xâm. Kỷ niệm một trăm năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, chính là lúc đất nước với thế và lực mới càng phải khởi động sức mạnh toàn dân để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ Tổ quốc. Đó là cách thiết thực kỷ niệm và học tập bản lĩnh Hồ Chí Minh.

(Nguồn: tuanvietnam.vietnamnet.vn)

Next