Archive for the 'Vietnamese' Category

Nguyễn Hoàng Long: Giảng viên Oxford

(PL&XH) – Những ai đã cùng học với Nguyễn Hoàng Long tại lớp chuyên toán Đại học Quốc gia Hà Nội, biết năng lực và niềm đam mê khoa học của anh sẽ không mấy ngạc nhiên khi nghe tin, vào tuổi 26, Long đã trở thành tiến sĩ tại Đại học Oxford – Anh Quốc.

Personal photo - Long Nguyen

http://www.cs.ox.ac.uk/long.nguyen/

Vào năm thứ nhất khoa  Công nghệ thông tin Đại học Bristol, Long đã tham dự chương trình của năm thứ 3. Vào năm thứ 3, anh đã tìm hiểu chương trình dành cho thạc sĩ. Và chính năm học này, Long đã nhận giải thưởng nghiên cứu khoa học của Viện Nuffield. Đây là mốc quan trọng, khích lệ chàng sinh viên thực hiện ước mơ của mình. Luận văn tốt nghiệp của anh nhận được giải thưởng  xuất sắc nhất. Giáo sư trực tiếp hướng dẫn Long nhận xét: “Anh Long là sinh viên có năng lực đặc biệt”. Một nhận xét ngắn ngủi của giáo sư uy tín, đủ nói lên được hình ảnh của sinh viên Việt Nam đang theo học tại trường.

Dẫu Nguyễn Hoàng Long nhận được những hợp đồng đúng chuyên môn và lương bổng cao, nhưng đã từ lâu anh thầm mơ ước được theo học một trường Đại học danh giá nhất nước Anh. Đó là Đại học Oxford. Anh nói: Một quyết định như vậy vào thời điểm đó là một khó khăn. Có thể là sai lầm và tiếc nuối. Nhưng khao khát của tôi lấn át mọi lời chào mời để đến với những gì mà tôi mơ ước. Trước mắt tôi, Oxford có sức hút đặc biệt, không sao cưỡng nổi.

Để được nhận vào Đại học Oxford, phải qua bước tuyển chọn khắt khe. Nhưng với Hoàng Long, đó không còn là vấn đề lớn. Anh  được nhận vào làm nghiên cứu sinh tại ngôi trường cổ nhất và danh giá nhất nước Anh. Hơn nữa, anh được đặc cách bảo vệ tiến sĩ không qua bậc thạc sĩ.

Sau thành công của luận án tiến sĩ khoa học, tên tuổi Nguyễn Hoàng  Long được bỉết đến như một hiện tượng trong giới khoa học công nghệ. Anh được gần hai mươi trường đại học hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới như Cambridge, Stanford, UCL…mời thuyết trình, giảng bài. Hiện anh đang giảng dạy tại trường Oxford với nhiều chuyên đề khác nhau. Cho đến nay, Nguyễn Hoàng Long là giảng viên Việt Nam đầu tiên tại Đại học danh tiếng này.

Dẫu được nghiên cứu trong môi trường khoa học lý tưởng, lại được chào đón ở nhiều quốc gia với quyền lợi hấp dẫn, nhưng Hoàng Long vẫn luôn hướng về đất nước. Anh nói, tại đây (nước Anh), điều kiện nghiên cứu , môi trường tiếp cận các Trung tâm nghiên cứu, các nhà khoa học và cộng sự hết sức thuận lợi. Anh cần một thời gian để hoàn thiện, nâng cao kiến thức, có đủ thời gian quan hệ với các cơ sở khoa học – đào tạo. Sau đó anh sẽ về Việt Nam – Anh nói với lớp trẻ.

- Những kiến thức thu được ở các trường Đại học trong nước không thua kém bao nhiêu so với nước ngoài. Khác chăng chỉ ở chỗ môi trường để thử thách, vươn tới ở nước ngoài rõ rệt, năng động hơn. Bạn trẻ nên tìm đến cơ hội để mình có cơ may thử thách, để thực sự nhận diện ra mình, tìm cho mình hướng đi thích hợp. Không chỉ kiến thức, mà còn là thử thách bản lĩnh trước mọi đòi hỏi khắt khe của khoa học và cuộc sống. Chấp nhận thử thách, nghĩa là hướng đến khẳng định mình.

Kính Hiền

(Pháp Luật)

GS. NGuyễn Thừa Hợp – Người “đưa đò”… thầm lặng

Người thầy giáo ấy, chưa một lần được nghe ông giảng bài, nhưng không hiểu sao ngay buổi gặp đầu tiên tôi đã có cảm giác như quen thân, gần gũi từ lâu. Năm nay đã 74 xuân, vậy mà trông ông vẫn nhanh nhẹn và da dẻ thì còn hồng hào lắm.

 

Trong lời kể của những cựu học sinh Khối THPT chuyên Toán rồi cựu sinh viên Khoa Toán – Cơ – Tin học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) tên của ông thường được nhắc tới bằng niềm trân trọng, yêu kính…

GS.TSKH Nguyễn Thừa Hợp sinh ngày 24.12.1932 trong một gia đình tiểu tư sản ở Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội. Cha ông làm thư ký bưu điện còn bà mẹ bươn chải bằng nghề chạy chợ, buôn bán nhỏ. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công rồi kháng chiến chống Pháp nổ ra, cũng như bao nhiêu người khác, gia đình ông phải li tán mỗi người một nơi. Ông theo mẹ sơ tán ra ngoại thành, việc học tập bị gián đoạn, lúc ấy ông đang học dở lớp đầu tiên bậc trung học cơ sở. Hoàn cảnh sơ tán khó khăn không làm giảm lòng ham học của cậu học trò Hà thành thông minh. Ngoài thời gian lao động, tham gia các công việc như những đứa trẻ vùng tản cư, ông thường tranh thủ tự học bằng nguồn sách vở ít ỏi mang đi theo. Chẳng thế mà dù không được đến lớp nhưng vốn kiến thức và hiểu biết của ông vẫn được bồi bổ không ngừng.

Năm 1948, giặc Pháp càn về vùng nông thôn, ông lại theo mẹ rời lên thị xã Hà Đông. Tại nơi ở mới, điều kiện để tiếp xúc với môi trường học tập có tốt hơn nhưng cuộc sống lại khắc nghiệt và khó khăn hơn. Ông vừa tự học ở nhà vừa phụ giúp mẹ. Mẹ ông buôn bán, chạy chợ để đảm bảo cuộc sống, còn ông chủ yếu làm các công việc nhà như nấu cơm, giặt giũ. Đã có những thời gian ông phải đi học làm thợ may. Đó là những năm tháng tuy vất vả nhưng cũng để lại trong ông những kỷ niệm khó quên. Ban ngày, ông giúp mẹ lấy hàng, đưa hàng, tối đến mới có thời giờ để học. Suốt từ khi về thị xã cho đến năm 1951, ông học theo hình thức đó. Bằng hình thức thí sinh tự do mà ông đã thi đỗ và lấy được bằng thành chung và năm 1951, ông đỗ tú tài phần một. Sau đó, ông vào học lớp tú tài phần hai ở Trường THPT Chu Văn An và đậu tú tài phần hai năm 1952. Do hoàn cảnh gia đình vừa neo người lại khó khăn, nên sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đã xin vào học Trường Cao đẳng Sư phạm với mục đích chính làm sao có học bổng để duy trì tiếp con đường học tập. Trong điều kiện như thế, ông vẫn không quên niềm đam mê toán học của mình. Vừa theo học Trường Cao đẳng Sư phạm, ông vừa đăng ký theo học Khoa Toán đại cương, Trường Đại học Khoa học. Sau hè năm 1953, ông học xong năm thứ nhất Trường Cao đẳng Sư phạm đồng thời đỗ Toán đại cương ở Trường Đại học Khoa học. Theo một vài người cùng thời cho biết, trong đợt thi Toán đại cương năm ấy, có tới 42 người đăng ký dự thi nhưng chỉ có 3 người đỗ trong đó có ông. Cuối năm 1953 – đầu 1954, giặc Pháp tăng cường lùng sục khắp nơi bắt thanh niên ra nhập quân ngũ. Mặc dù không muốn nhưng để tránh bị bắt lính, ông đã chủ động bỏ học, rời Hà Nội ra vùng kháng chiến, khi ấy ông đang học dở năm thứ hai Trường Cao đẳng Sư phạm. Vốn là trí thức tiểu tư sản trong thành nên khi ra vùng kháng chiến, cũng như một số người khác, ông gặp không ít những khó khăn cả về vật chất và tinh thần, bởi người ta vẫn mang tâm lý kỳ thị đối với những ai đã một thời sống trong vùng tạm chiếm. Nhưng ông không vì thế mà nản lòng, ông đã làm rất nhiều những công việc lao động tự do bằng chân tay để kiếm sống và ngay cả trong hoàn cảnh ấy, ông vẫn dành thời gian cho sách vở, cho khoa học. Ông luôn tâm niệm rằng phải tự mình vượt lên hoàn cảnh, không ngã lòng trước những khó khăn, phải phấn đấu bằng chính năng lực của bản thân, và có lẽ vì thế nên tất cả những thành công mà ông đã phải vất vả lắm mới có được ngày hôm nay thật đáng trân trọng, tự hào. Đó là tặng vật vô giá mà cuộc sống ban tặng cho một nhà sư phạm, một nhà khoa học có nghị lực, kiên trì, bền bỉ như ông.

Sau ngày hiệp định Giơnevơ được ký kết, quân Pháp rút; ông nhập vào đoàn người hồ hởi trở về thành phố Hà Nội vừa giải phóng, giấc mơ được tiếp tục học nốt chương trình đại học còn dang dở lại thôi thúc ông. Ông xin vào học Trường Đại học Sư phạm Khoa học vừa mới mở trên cơ sở hợp nhất 2 trường Cao đẳng Sư phạm và Trường Sư phạm Cao cấp bên Trung Quốc chuyển về. Sau một thời gian dài đi tản cư, được trở lại giảng đường đại học ông và bạn bè rất háo hức, ai cũng say sưa học tập như để truy thu lại những kiến thức mà chiến tranh đã làm gián đoạn. Lứa sinh viên hồi đó được học trực tiếp những người thầy giỏi, những nhà giáo uy tín như Lê Văn Thiêm, Nguyễn Cảnh Toàn, Ngô Thúc Lanh… Và chính các thầy là người đã giúp ông hoàn thiện dần tư duy toán học và phương pháp nghiên cứu khoa học…

Năm 1956 là năm được đánh dấu bởi sự ra đời của một số trường đại học danh tiếng về sau này như Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội… Cũng trong năm này, Nguyễn Thừa Hợp tốt nghiệp cử nhân ngành Toán học và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khóa học của ông được giữ lại rất đông, do miền Bắc mới hòa bình, nhu cầu về giáo dục đại học được đặc biệt quan tâm, hơn nữa lực lượng cán bộ, giảng viên còn thiếu rất nhiều. Ngay ở Khoa Toán lúc bấy giờ, lực lượng giảng viên rất mỏng, thầy Nguyễn Thừa Hợp mới về ít lâu đã phải trực tiếp tham gia vào công tác giảng dạy cho sinh viên. Ông và các bạn đồng nghiệp hồi đó vừa giảng dạy vừa tự mày mò học hỏi bởi có những kiến thức mới chưa hề được biết. Trong các ngành đào tạo có rất nhiều bộ môn mới xuất hiện, không còn cách nào khác, các giảng viên trẻ phải kịp thích nghi. Ông được phân công phụ trách môn Phương trình đạo hàm riêng, vừa giảng dạy vừa phải tự bồi dưỡng và bổ sung kiến thức. Ông cho biết, ngoài chuyên môn Toán thì ông cũng như các đồng nghiệp trẻ khác phải học tiếng Nga, một ngoại ngữ không thể thiếu vì các sách vở, tư liệu trong thư viện toàn bằng tiếng Nga. Ông kể một cách dí dỏm và đầy sự kính mến về người thầy đầu tiên dạy tiếng Nga cho ông chính lại là giáo sư toán Lê Văn Thiêm, dạy chủ yếu tập trung vào ngữ pháp, sau đó học từ chuyên môn, rồi cứ thế bổ sung dần dần các từ bằng cách giở sách chuyên môn ra dịch.

Ông không chỉ dạy cho các lứa sinh viên Khoa Toán – Cơ – Tin học mà còn là một người thầy tâm huyết được rất nhiều thế hệ học sinh Khối THPT chuyên Toán – Tin (Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) kính trọng, yêu mến. Với ông, ngoài dạy cho học trò những kiến thức cơ bản còn phải cung cấp cho các em phương pháp học tập, nghiên cứu, mà hơn hết là thái độ nghiêm túc, đúng đắn trước một vấn đề mang tính khoa học dù là nhỏ nhất. Phải chăng vì thế mà bất cứ một ai đã từng được ông giảng dạy đều nhớ, đều nhắc đến tên ông mỗi khi kể về lớp cũ, trường xưa.

Năm 1964, ông được cử đi thực tập khoa học ở Liên Xô. Trước đó, ông đã có một số công trình tự làm ở Việt Nam và trong thời gian đi thực tập ấy ông đã kịp hoàn thành luận án tiến sĩ Toán học. Sau năm 1975, miền Nam giải phóng, trước yêu cầu mới của hoàn cảnh chính trị xã hội, những nhà khoa học đã có sẵn công trình nghiên cứu được tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ học vị, được phong học hàm. Năm ấy, thầy giáo Nguyễn Thừa Hợp bảo vệ thành công học vị tiến sĩ, cùng năm với thầy Hoàng Hữu Đường. Cũng chỉ sau đó không lâu, ông được phong Phó giáo sư (1980), rồi Giáo sư Toán học (1991). Bằng uy tín và năng lực của mình, ông đã được mời tham dự rất nhiều hội thảo khoa học ở trong nước và quốc tế. Ông từng có 1 năm là chuyên gia giáo dục tại Mađagatca (1981 – 1982), 3 năm là chuyên gia giáo dục tại Angiêri (1987 – 1990). Sau những chuyến đi như vậy, điều mà ông tích lũy được nhiều nhất không chỉ là những tri thức về khoa học của nhân loại mà còn là vốn sống, là phong cách làm việc trong những hoàn cảnh và môi trường khác nhau. GS.TSKH Nguyễn Thừa Hợp thuộc thế hệ những người thầy gắn bó và cống hiến tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ những ngày đầu thành lập. Tính đến khi nghỉ hưu (năm 2000), ông đã có hơn 40 năm gắn bó với giảng đường đại học, với Khoa Toán – Cơ – Tin học trong cương vị người thầy. Ông đã góp công sức đào tạo hàng ngàn cử nhân Toán học, trong đó có những người giờ đây đã trở thành những nhà khoa học, nhà quản lý nổi tiếng đứng đầu các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương. Ông đã công bố 19 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành trong nước và quốc tế, là tác giả của bộ sách “Phương trình đạo hàm riêng” (2 tập), bộ giáo trình “Giải tích” (3 tập) được sử dụng rộng rãi trong nhiều trường cao đẳng, đại học. Tuy tuổi đã cao nhưng bằng vốn kiến thức uyên bác ông vẫn đóng góp cho sự nghiệp giáo dục bằng việc viết những cuốn sách đầy tâm huyết. Và điều đặc biệt so với những đồng nghiệp cùng tuổi là ông rất am tường về Công nghệ thông tin, ông có thể sử dụng thành thạo các phần mềm để viết sách và chế bản sách. Ông xuất phát không phải là một người chuyên về Tin học, nhưng ông có thể sử dụng rất thành thạo các phần mềm Latex, Mapple, Corel Draw… để viết sách. Chính ông là người tự chế bản bộ Giáo trình “Giải tích” 3 tập nêu trên. Một nhà giáo 74 tuổi, theo kịp những tiến bộ của thời đại công nghệ thông tin (mặc dù chỉ trong chuyên môn) là một gương sáng cho nhiều bạn trẻ chúng ta suy nghĩ về tính bèn bỉ trong lao động…

Thời gian cứ thế trôi đi và thầy giáo Nguyễn Thừa Hợp vẫn âm thầm lao động cùng những công việc trầm lặng, gửi trọn tài năng và niềm tin cho các thế hệ học trò. Phần thưởng dành cho ông là những bằng khen, là danh hiệu Nhà giáo ưu tú và hơn hết là sự trân trọng, yêu kính của các thế hệ học trò, bạn bè, đồng nghiệp và người thân…

 

Trương Minh [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7800/

Nặng lòng với quê hương

(QT) – Giáo sư – Tiến sĩ – Viện trưởng Viện Toán Trần Đức Vân đã đột ngột ra đi vào sáng ngày 16/7/2011. Nhân lễ chung thất- 49 ngày của anh, tôi có đôi dòng về cuộc đời anh để giới thiệu với bạn đọc gần xa, coi đó như một nén hương thắp lên để tưởng nhớ về anh.

Giáo sư Trần Đức Vân sinh ngày 27/4/1951 tại làng Huỳnh Thượng, xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị). Cũng như các bạn bè cùng thời, cuộc sống lam lũ nơi đồng đất nghèo khó, vừa đi học vừa chăn trâu, cắt cỏ. Sau tết Ất Tỵ (1965), giặc Mỹ ném bom ác liệt vào thị trấn Hố Xá và Trường cấp 3 Vĩnh Linh. Vì vậy khoá học cấp 3 đầu tiên của anh phải học trong hầm đất, nửa chìm nửa nổi ở phân hiệu 2, Vĩnh Lâm, Vĩnh Linh.

Tháng 8/1967, trường phải sơ tán ra Tân Kỳ, Nghệ An (theo chiến dịch K8). Năm 1968 anh được cử đi học tại Trường Đại học tổng hợp Minsk của Belarus. Đằng đẵng hơn 10 năm sau, khi về chịu tang mẹ, anh mới có dịp về lại quê hương yêu dấu. Dẫu vậy, tấm lòng nhà khoa học trẻ Trần Đức Vân luôn đau đáu về quê hương Quảng Trị.

Sự nghiệp học tập và nghiên cứu Toán học đã lôi cuốn anh, với một ý chí phải học thật giỏi để sau này trở về xây dựng quê hương đất nước. Ở trường đại học danh tiếng Minsk, anh là sinh viên xuất sắc nhất. Luận văn tốt nghiệp đại học của anh đã được Bộ Đại học Liên Xô (lúc bấy giờ) tặng huy chương vàng vì “Công trình khoa học sinh viên tốt nhất”. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh.

Sau một năm rưỡi, anh đã hoàn thành luận án Phó Tiến sĩ, sau đó anh lại được đề nghị tiếp tục ở lại Liên Xô làm luận án Tiến sĩ khoa học. Anh chuyển từ Đại học Tổng hợp Minsk lên Matxcơva. Tại đây, anh được gặp gỡ và làm việc trực tiếp với nhiều nhà Toán học hàng đầu của Liên Xô. Chỉ sau 4 năm anh lại lập kỷ lục mới.

Năm 1980 bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học tại Viện Toán học Nôvôsibirsk nổi tiếng thế giới thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Anh trở thành một trong những người trẻ nhất bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học ở tuổi 29. Luận án của anh được in thành sách, mở ra một trường phái Toán học mới: Hệ phương trình vi phân cấp vô hạn.

Năm 1981, Trần Đức Vân về nhận công tác ở Viện Toán học, giáo sư Hoàng Tuỵ giao cho anh xây dựng phòng nghiên cứu mới – Phòng Phương trình đạo hàm riêng. Từ đó, phương trình đạo hàm riêng đã trở thành một hướng nghiên cứu mạnh trong Viện Toán học và trong cả nước.

Nhờ thành công trong việc xây dựng Phòng Phương trình đạo hàm riêng và với uy tín khoa học, từ năm 1990 đến năm 1995 anh được cử làm Phó Viện trưởng Viện Toán. Trong giai đoạn này anh đã cùng Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Trọng Thi tham dự hội nghị quốc tế các nhà Toán học trẻ tổ chức ở Mỹ. Cuối tháng 8/1993 anh đã cùng lãnh đạo viện tổ chức thành công Hội nghị Toán học quốc tế về “Toán học – giải tích ứng dụng” tại Hà Nội.

Từ năm 1996 đến năm 2000 anh giữ cương vị Viện trưởng Viện Toán học. “Nhờ công lao của anh, Viện Toán học vượt qua được khó khăn của thời kỳ đầu của nền kinh tế thị trường trở thành một trong những cơ quan nghiên cứu hàng đầu của cả nước” (Điếu văn của Viện toán học trong lễ truy điệu ngày 17/7/2011) Viện Hàn lâm thế giới thứ 3 (có trụ sở tại Trieste, Italia) cũng đánh giá Viện Toán học Việt Nam là một trong mười trung tâm khoa học xuất sắc của các nước đang phát triển.

Giữa lúc tài năng đang nở rộ, vào cuối những năm 90 anh gặp phải một cơn bệnh quái ác – nhược cơ. Vậy là vừa làm việc quản lý, vừa nghiên cứu khoa học, anh lại phải chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo. Đầu năm 2001, do điều kiện sức khoẻ anh không tiếp tục làm Viện trưởng mà chỉ tập trung cho việc nghiên cứu, viết sách và hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Mặc dù phải chiến đấu dai dẳng với bệnh tật, thành quả khoa học mà anh để lại thật đồ sộ. Anh đã hướng dẫn thành công 10 tiến sĩ, công bố hơn 80 bài báo quốc tế, viết và in 6 quyển sách chuyên khảo (trong đó có 3 quyển bằng tiếng nước ngoài). Anh được phong hàm Giáo sư năm 1991 khi mới 40 tuổi, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 2 năm 2003.

Trần Đức Vân không chỉ nêu tấm gương lao động nghiêm túc và sáng tạo trong khoa học, dũng cảm chống chọi với bệnh tật, mà anh còn là người con luôn nặng lòng với quê hương Quảng Trị yêu dấu. Ngay việc đặt tên cho các con cũng nói lên điều đó. Con gái đầu: Hiền Lương, con trai: Vĩnh Linh, hai địa danh của quê anh. Vợ anh, chị Nguyễn Thị Bích Lài chắc cũng vì chiều anh hay bị “lây” tội “yêu quê chồng” mà bằng lòng với tên gọi của hai con?

Sẽ thật là khiếm khuyết nếu khi nhắc đến những cống hiến, những thành công trong sự nghiệp của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đức Vân mà không nhắc đến chị Nguyễn Thị Bích Lài. Câu nói “Đằng sau sự thành đạt của người đàn ông luôn có bóng dáng người phụ nữ” chắc không thể đủ khi nói về chị. Nguyễn Thị Bích Lài quê ở Diễn Châu, Nghệ An, anh chị gặp nhau vào những năm cuối khi học đại học ở Liên Xô (cũ).

Về nước, anh chị làm lễ cưới, chị ở lại nhận công tác ở Viện Hoá, còn anh trở sang nước bạn làm luận án Tiến sĩ. Những ngày anh làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài, một mình chị xoay xở nuôi con. Với bản tính cần cù, tảo tần của người con gái xứ Nghệ, chị đảm đang mọi việc cho anh yên tâm làm khoa học và hoàn thành trọng trách nhà quản lý một viện khoa học lớn của đất nước.

Nhưng điều đáng trân trọng và kính nể hơn cả là sự tận tuỵ và hi sinh đến mức khó tin, đến mức quá sức chịu đựng ở một người vợ. Đằng đẵng 15 năm chăm sóc chồng, khi anh lâm bạo bệnh không thể tự chăm sóc cho mình. Từ việc đi lại, ăn uống, bài tiết… tất cả một mình chị lo toan.

Khoảng 5 năm trở lại đây, anh Vân luôn trong tình trạng hôn mê, chị phải học làm hộ lý, làm y tá để tự điều trị tại nhà. Mười lăm năm, không có một đêm đầy giấc, không có một ngày rời anh bên giường bệnh. Chị đã chăm sóc tận tuỵ, chu đáo, lắng nghe từng nhịp tim, từng hơi thở của anh, bón cho anh từng giọt sữa, theo dõi các thiết bị trợ tim, bình truyền, không bao giờ để ngắt nhịp, cho đến khi anh “trốn” chị và đột ngột ra đi.

Cũng vì nặng lòng với quê hương nên anh đã truyền lại cho chị tất cả, chị Nguyễn Thị Bích Lài đã thay anh dành tình cảm yêu thương đầy đặn, trọn vẹn ấy với quê hương Quảng Trị.

Tháng 9/2009, Trường THPT Vĩnh Linh tổ chức kỷ niệm 50 năm truyền thống nhà trường 15/9 (1959 – 2009). Khi biết tin này, mặc dù đang chăm sóc chồng ở Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, chị Lài vẫn viết thư gửi về trường với những tình cảm hết sức chân tình và xúc động: “Khi đã trở thành nhà Toán học của đất nước, nhà tôi (tức Vân) vẫn luôn nhắc đến ngôi trường cấp 3 Vĩnh Linh và thời kỳ sơ tán ở Tân Kỳ (Nghệ An), vẫn nhớ đến tấm áo mà thầy Lai nhường cho nhà tôi mặc trong những đêm đông giá rét.

Ngày còn ở Liên Xô và cả khi về làm việc ở Hà Nội, lúc nào nhà tôi vẫn mang trong mình nỗi nhớ quê hương, vẫn nặng nợ và chịu ơn với ngôi trường của mình đã theo học. Những năm 1990, khi nhà tôi còn khoẻ, năm nào anh cũng vào thăm lại trường cũ, tổ chức trao quỹ học bổng cho Trường cấp 3 Vĩnh Linh và Trường cấp 2 Vĩnh Sơn quê anh.

Năm nay, anh lo sẽ còn rất ít cơ hội để gặp lại thầy cô, bạn bè vì vậy anh nhắc tôi viết thư này gửi về trường.

Tôi viết thư này thay anh, xin được tri ân tới các thầy, các cô đã dạy dỗ anh khi còn ở trường, tri ân các bạn đồng môn, các anh chị quen biết đã luôn sẻ chia, động viên vợ chồng tôi và hai cháu khi anh lâm bệnh…”.

Chị Lài đã có những ngày hạnh phúc bên người chồng – người bạn đời Trần Đức Vân. Anh chị đã có các con học giỏi và thành đạt, có đủ cháu nội, cháu ngoại. Nhưng sự ra đi của anh là một mất mát vô cùng to lớn không gì bù đắp được.

Những tình cảm mà Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đức Vân và cả người vợ thuỷ chung, tận tuỵ của anh – chị Nguyễn Thị Bích Lài dành cho quê hương sẽ còn lại mãi mãi, là nguồn động viên rất lớn cho những thế hệ học sinh, sinh viên, các thế hệ đi sau noi theo và tiếp bước.

THÁI VĨNH KHÁNG

http://baoquangtri.vn/default.aspx?TabID=88&modid=391&ItemID=46479

“Hạnh phúc lớn nhất là được chết trên bục giảng”

Pháp luật (31/08) Ở vào cái tuổi mà mọi người cho là “vui thú tuổi già”, giáo sư Lê Minh Ngọc khiến mọi người vô cùng ngưỡng mộ khi hàng ngày thấy ông cắp sách tới trường để giảng dạy và trao đổi kiến thức cho các thế hệ học trò.
Giáo sư đang ngồi nghiên cứu tại thư phòng.
Giáo sư đang ngồi nghiên cứu tại thư phòng.
Cội nguồn thành công của nhà “tỷ phú đỏ” trong ngành giáo dục 

Sinh năm 1937 tại Huế trong một gia đình cách mạng, giáo sư Lê Minh Ngọc sớm thừa hưởng những giá trị truyền thống gia đình, 13 tuổi ông đã tham gia Vệ quốc quân với nhiệm vụ là móc nối và đưa tin tức cho các chiến sĩ hoạt động bí mật. Năm 1949 ông được tổ chức sắp xếp đi theo nhà tình báo Đặng Thanh vào nội thành  Huế làm “gián điệp” cho Việt Minh.

Giáo sư Ngọc tâm sự rằng, trong hai năm hoạt động đó ông đã trải qua nhiều gian nan thử thách, từng lội suối đi trong đêm liên lạc cho bằng được với các đồng chí trong cơ sở của mình. Năm 1951,  ông được tổ chức điều về chiến khu xưa và gia nhập đơn vị Thiếu Sinh Quân Liên khu 4. Sau đó được bố trí đi du học tại trường Lư Sơn – Quế Lâm – Trung Quốc. Trước năm 1975, ông là giáo viên dạy tiếng Nga của trường Bổ túc Ngoại ngữ Gia Lâm (Hà Nội) và làm phiên dịch cho Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, sau đó chuyển sang làm cán bộ nghiên cứu ở Viện Triết học, rồi Viện Lịch sử. Khi đất nước thống nhất, ông công tác tại Viện khoa học xã hội TP.HCM. 

Giáo sư Lê Minh Ngọc thường nói, cội nguồn đưa ông tới thành công của ngày hôm nay bắt nguồn từ chính những năm tháng được thử thách trong môi trường thiếu sinh quân ngày đó. Nơi ông học những bài học đầu tiên về cuộc đời, về làm người trung thực, nhân hậu, dũng cảm, trung thành với lý tưởng cách mạng, xây dựng cho con người cốt cách trong sáng, vững chãi.

Trong thương trường, ông được biết đến với cương vị một doanh nhân thành đạt, tiên phong đi đầu trong những lính vực khó và mới mẻ ở Việt Nam như : sản xuất men bánh mì, sản xuất hoá thực phẩm làm thạch dừa và sôcôla, sản xuất hoá mỹ… Công nhân trong các xưởng sản xuất của ông Ngọc ngưỡng mộ ông như một người cha, người thầy gần gũi, thân thiện và chỉ dạy họ tận tình như con cháu trong nhà.

Ông cũng là người “xanh hóa” những vùng đất Tây Nguyên hoang hoá. Ông lập trang trại rồi cải tạo biến chúng thành những mảnh đất bốn màu xanh tươi với những đồi chè, cà phê xanh ngát một vùng. 

Thành công trên thương trường nhưng “sự nghiệp trồng người” mới là ‘duyên nghiệp” của đời ông. Tư duy triết học và trái tim yêu thương, chất men say giáo dục đã trở thành động lực và bí quyết thành công của “nhà tỷ phú đỏ”- giáo sư Lê Minh Ngọc.

Hạnh phúc với duyên nghiệp trồng người

Giáo sư Lê Minh Ngọc hiện là Chủ tịch hội đồng quản trị trường Đại Học Văn Hiến – nơi chắp cánh vào đời cho hàng ngàn học sinh mỗi năm- và cũng là nơi ông thực hiện ước mơ đeo đuổi suốt cuộc đời :“khi nào còn sống là còn cống hiến cho sự nghiệp giáo dục”.

Với giáo sư Lê Minh Ngọc, giáo dục là một cái duyên lớn của cuộc đời, niềm tự hào mà cả cuộc đời thầy có.

Nhớ lại cơ duyên lập trường ĐH Văn Hiến, giáo sư Ngọc bồi hồi kể lại: “Năm 1995 tôi đang giữ chức vụ Trưởng ban Kinh tế – Xã hội Viện Khoa học xã hội thì PGS Nguyễn Lộc và GS Hoàng Như Mai đã bàn với tôi về ý tưởng thành lập một trường ĐH dân lập tại TP.HCM.

“Tôi đã không chần chừ khi quyết định nhận lời mời thành lập và cùng phát triển một trường đại học khoa học xã hội trên địa bàn thành phố. Ngay từ ngày đó, tôi đã luôn trăn trở tìm cách đưa ngành học Khoa học xã hội trở thành một ngành có giá trị. Xã hội học là một ngành tương đối mới mẻ ở nước ta, đã và đang có sức hút tuyển sinh.
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều sinh viên đang và có dự định học ngành này cứ băn khoăn học xong không biết sẽ làm gì. Trong khi thực tế xã hội đang rất “khan hiếm” các cử nhân xã hội học. Tâm huyết của tôi là tập trung đào tạo những gì xã hội đang cần, để các tân cử nhân nhanh chóng tìm được việc làm, đóng góp trí lực, tài lực và những khoa học đã được tiếp nhận trong quá trình học tập rèn luyện để phục vụ đất nước”, giáo sư Lê Minh Ngọc chia sẻ. 

Có tới trường ĐH Văn Hiến, tiếp xúc với thầy trò của trường mới thấy khoa Xã hội học của trường có một nét rất riêng, chú trọng nhiều đến thực hành hơn là lý thuyết bởi trong thời điểm hiện tại và xu hướng giáo dục hiện đại thì tự học và thực hành vẫn được coi trọng hơn.

Ở khoa Xã hội học tình cảm thầy trò, bè bạn rất gắn kết, cùng nhau học tập, sẵn sàng chia sẻ những khó khăn, công việc. “Tôi chủ trương tạo ra một tinh thần mới về vấn đề chú trọng tinh thần tập thể”, giáo sư Ngọc tâm sự.
Theo giáo sư Ngọc thì chỉ khi nào người học mà cụ thể là các bạn sinh viên ý thức cao được mối tương quan xã hội xung quanh thì các bạn mới làm tốt được công việc của một nhà Xã hội học. Liên tục trong nhiều năm sinh viên tốt nghiệp khoa Xã hội học đều tìm được những công việc phù hợp và tỷ lệ có việc làm ở mức khá cao. Đây là tín hiệu đáng mừng, khích lệ tập thể cán bộ công nhân viên khoa Xã hội học nói riêng và toàn trường Văn Hiến nói chung. Điều đó khẳng định rằng định hướng, con đường mà  giáo sư Ngọc cùng cộng sự đang đi là hoàn toàn đúng và hiệu quả.
Giáo sư Ngọc cùng ông Đường Gia Truyền - Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc là bạn học thời Thiếu Sinh quân tại Quế Lâm - Trung Quốc, sang thăm và làm việc tại Việt Nam.
Giáo sư Ngọc cùng ông Đường Gia Truyền – Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc là bạn học thời Thiếu Sinh quân tại Quế Lâm – Trung Quốc, gặp gỡ trong chuyến sang thăm và làm việc tại Việt Nam.
Và triết lý: kinh doanh không lợi nhuận 

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đẩy mạnh giáo dục theo hướng phát triển hiện đại, giáo sư Lê Minh Ngọc luôn đau đáu, suy tư về những bước đi tiếp theo nhằm bắt kịp nhu cầu xã hội.

Ông tâm sự: “ Giáo dục là việc làm lâu dài, đòi hỏi người thầy phải có tâm và có đủ lực. Với tôi, khát vọng của một người làm thầy là được góp một phần nhỏ đầu tư vào giáo dục đào tạo những công dân có đủ tài, đức phục vụ làm giàu, làm rạng danh cho quê hương đất nước. Điều này cũng giống như lí do tại sao cách đây vài chục năm, tôi bất chấp những phản đối từ bạn bè, người thân thậm chí là những lời mắng cho rằng tôi liều và ngông. Nhưng tôi ý thức được việc đầu tư vào vùng đất trống, đồi trọc là phù hợp với quy định của Chính phủ và với yêu cầu kinh tế, tôi dùng số tiền mình có góp một phần nhỏ vào việc làm giàu cho đất nước là điều vinh hạnh và niềm vui to lớn”. 

Giáo sư chia sẻ thêm: “Tôi giàu như một điều ngẫu nhiên, là doanh nhân thành đạt nhưng bản chất của tôi là vẫn người của ngành cho giáo dục và khoa học”.

Tuy khá bận rộn với công việc kinh doanh nhưng Giáo sư vẫn dành nhiều thời gian cho sự nghiệp giáo dục, cho sự phát triển của trường Đại học Văn Hiến với quan điểm đào tạo đội ngũ lao động chuyên môn cho sự nghiệp phát triển đất nước. Hơn thế là sự thỏa mãn tâm nguyện của mình trong niềm say mê giáo dục chứ hoàn toàn không xem giáo dục là môi trường kinh doanh khi thành lập trường ngoài công lập hay tư nhân.
“Tôi và những người đồng sáng lập đều thống nhất quan điểm, việc lập ra ĐH Văn Hiến là để thoả nguyện tâm huyết của mỗi người đối với ngành giáo dục nước nhà nên không xem trọng vấn đề kinh doanh trong nhà trường. Đúng là ngoài công việc ở trường, tôi có rất nhiều việc riêng cần phải làm và rất thiếu thời gian. Thế nhưng một khi ai đó đã thực sự tâm huyết thì bỏ ra bao nhiêu thời gian họ cũng không thấy tiếc. Có thể không ít người nghĩ, “kinh doanh giáo dục” là một ngành kinh doanh có lời đều đều mà không sợ “mất mùa”. Nhưng thực chất, chúng tôi chỉ cố gắng thu đủ để chi và để khung học phí ở mức thấp nhất có thể. Trường vẫn đang trong giai đoạn trưởng thành nên chúng tôi chỉ tập trung đầu tư để phát triển nhanh và ổn định, còn việc lợi nhuận chưa là vấn đề bức thiết”, giáo sư Ngọc tâm sự. 

Liên tục trong nhiều năm qua, Giáo sư Ngọc cùng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, giảng viên nhà trường mở ra nhiều ngành học mới như du lịch, kinh tế phát triển cộng đồng, kỹ sư công tác xã hội, Đông phương học, Việt Nam học,…với chiến lược đào tạo ra đội ngũ lao động có kiến thức chuyên môn vững vàng, ứng dụng tốt các kiến thức, có đạo đức, phẩm chất tốt.

Giáo sư nói: “Điều mà làm cho tôi mãn nguyện nhất là năm nay khoa Xã hội học đã mở thêm ngành công tác xã hội, phát triển cộng đồng. đặc biệt tổng công ty VTC (Tổng công ty truyền thông đa chức năng) đã sát nhập trường ta làm thành viên của Tổng công ty, qua đó sẽ mở thêm các lớp báo chí, truyền hình, điều mà tôi đã trăn trở bao lâu nay cho sinh viên thuộc lĩnh vực khoa học xã hội”. 

Năm 2010 VTC và nhà trường đã khởi công xây dựng cơ sở mới trên đại lộ Nguyễn Văn Linh, giáp quận 7, gồm phòng học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, thư viện, ký túc xá, khu thể thao… Xác định việc thực hành, thực tế là vấn đề quan trong nên trong quá trình đào tạo nhà trường luôn tạo điều kiện cho sinh viên đi sâu xát thực tế, học hỏi kinh nghiệm, những chuyến giã ngoại kết hợp học tập là cách mà giáo sư Ngọc và đội ngũ giảng viên của trường đưa kiến thức đến sinh viên một cách hiệu quả và được ủng hộ nhiệt tình.

Giáo sư Ngọc xác định mục tiêu lớn nhất mà nhà trường đang tập trung là nâng cao chất lượng giảng dạy, cố gắng thiết kế chương trình giảng dạy sát với yêu cầu thực tế, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa việc học và việc làm. 

Gần đây có dịp thăm giáo sư, ông vẫn mạnh khỏe và vui vẻ, tràn đầy nhiệt huyết. Giáo sư bảo ông sẽ tiếp tục gắn bó với sự nghiệp giáo dục đến khi nào máu hết chảy trong mạch và tim ngừng đập, trí não ngừng hoạt động thì giáo sư mới thuận theo quy luật mà dừng cống hiến.

Và với mối duyên “nặng nợ giáo dục” đó, giáo sư Ngọc sẽ tiếp tục bước đi vững chắc trong những chuyến “đưa đò trí thức” cho đất nước,cho thế hệ ngày mai.

Ngọc Thanh

http://www.phapluatvn.vn/thoi-su/201108/Hanh-phuc-lon-nhat-cua-doi-toi-la-duoc-chet-tren-buc-giang-2057783/

GS Ngô Bảo Châu giao lưu với GV và HSSV Quảng Ninh

Sáng nay, 31-8, Tại Trung tâm tổ chức hội nghị tỉnh, Giáo sư Ngô Bảo Châu, Giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về toán- người được nhận giải thưởng Fields năm 2010 đã có chuyến thăm và giao lưu với giảng viên, học sinh, sinh viên tỉnh Quảng Ninh. Cùng đi với Giáo sư có đoàn đại biểu Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, Viện nghiên cứu cao cấp về toán.

Quang cảnh buổi giao lưu

Dự buổi giao lưu có đồng chí Vũ Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện các Ban xây dựng Đảng Tỉnh ủy; lãnh đạo Sở giáo dục-và đào tạo; cùng trên 300 đại biểu đại diện giáo viên, học sinh, sinh viên của một số trường trên địa bàn tỉnh.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Giáo sư đã đến chào xã giao đồng chí Phạm Minh Chính, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh. Trong không khí thân mật, đầm ấm, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phạm Minh Chính đã báo cáo sơ lược những nét chính về tình hình kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh, những tiềm năng thế mạnh của tỉnh về phát triển kinh tế biển đảo, du lịch và dịch vụ. Đồng chí cũng nêu lên những chủ trương định hướng của Tỉnh ủy đối với lĩnh vực giáo dục- đào tạo.

Buổi sáng cùng ngày, Giáo sư đã đến thăm trường THPT Chuyên Hạ Long. Tại đây, đồng chí Phạm Thị Hồng Hà, Hiệu trưởng nhà trường đã báo cáo tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Trường trong mấy chục năm qua. Giáo sư Ngô Bảo Châu đã cảm ơn sâu sắc sự đón tiếp của nhà trường, Giáo sư đã bày tỏ tình cảm muốn được giúp đỡ Trường phát triển mạnh hơn nữa nhất là về lĩnh vực tóan học nhằm phát hiện, đào tạo nhân tài cho tỉnh, cho đất nước. Giáo sư đã tham quan phòng truyền thống của Trường, viết cảm tưởng vào sổ vàng của Trường, trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Trường.

Cũng trong buổi sáng, Giáo sư đã có buổi nói chuyện, giao lưu với học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh.

Tại buổi gặp gỡ, Giáo sư đã kể câu chuyện về toán học, về mật mã trong toán học nhằm khơi dậy lòng say mê toán học đối với thế hệ trẻ Quảng Ninh. Trong không khí phấn khởi, từng bừng các em học sinh trường Tiểu học Hữu nghị, trường THPT chuyên Hạ Long, trường Cao đẳng công nghiệp Quảng Ninh; giáo viên trường Cao đảng Sư phạm Quảng Ninh…đã có những câu hỏi liên quan đến việc học tập, rèn luyện, nghiên cứu, đặc biệt là về toán học để mong muốn có kết quả cao trong học tập, công tác nhằm đóng góp vào sự nghiệp phát triển của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, của cả nước nói chung.

Phát biểu cảm tưởng tại buổi giao lưu, học sinh Lê Thị Tường Vi, học sinh trường THPT chuyên Hạ Long, đại diện cho các thế hệ học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh bày tỏ sự cảm phục, kính trọng, niềm vinh dự và tự hào khi được gặp gỡ, giao lưu với Giáo sư. Qua buổi giao lưu đã tiếp thêm động lực, truyền thêm ngọn lửa tinh thần vươn lên trong học tập cho các thế hệ học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh.

Nhân dịp này, đồng chí Đỗ Văn Thuấn, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo đã trao quà lưu niệm cho giáo sư và phát biểu cảm ơn Giáo sư đã dành tình cảm cho Quảng Ninh, có dịp giao lưu, trò chuyện thân mật với giáo viên, học sinh trên địa bàn khơi dậy động lực và tinh thần ý chí vươn lên trong học tập cho thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh.

Một số hình ảnh hoạt động của Giáo sư Ngô Bảo Châu tại Quảng Ninh:

Giáo sự Ngô Bảo Châu trò chuyện với đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên BCH
Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh


Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trao quà lưu niệm cho Giáo sư Ngô Bảo Châu

 


Thăm Trường THPT chuyên Hạ Long

Thăm quan mô hình của Trường chuyên  Hạ Long
và viết lưu niệm tại Phòng truyền thống nhà trường

 

 

Giáo sư Ngô Bảo Châu cùng lãnh đạo UBND tỉnh và lãnh  đạo
Sở Giáo dục và Đào tạo trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Trường THPT Chuyên Hạ Long


 

Giao lưu với các em học sinh tại Trung tâm tổ chức hội nghị tỉnh

Nguồn: QNP

http://qtv.vn/channel/5154/201108/Giao-su-Ngo-Bao-Chau-tham-giao-luu-voi-giao-vien-va-hoc-sinh-sinh-vien-tinh-Quang-Ninh-2123035/

Next