Archive for the 'Research In Vietnam' Category

Ngôi nhà khoa học Quy Nhơn đã mở

OVSED: Cảm ơn anh Nguyễn Trung Thành (Úc) đã chia sẻ tin này.

Source: http://sgtt.vn/Khoa-giao/157168/Ngoi-nha-khoa-hoc-Quy-Nhon-da-mo.html

***

 

SGTT.VN – Từ ngày 15-22.12.2011, hai hội nghị quốc tế về vật lý hạt và vật lý thiên văn diễn ra tại Quy Nhơn, Bình Định (còn gọi là Gặp gỡ Việt Nam 7), với sự tham dự của hơn 200 nhà khoa học đến từ 29 quốc gia.

Sự kiện này gắn liền với lễ khởi công trung tâm quốc tế khoa học và giáo dục liên ngành (ICISE) do tổ chức Gặp gỡ Việt Nam mà giáo sư – tiến sĩ vật lý nguyên tử người Pháp gốc Việt Trần Thanh Vân làm chủ tịch xây dựng.

 

Mô hình ICISE do kiến trúc sư Pháp Milou thiết kế, hài hoà giữa kiến trúc và thiên nhiên.

 

Với diện tích 18,4 ha, vốn đầu tư 6 triệu USD, gồm hội trường, phòng làm việc, khách sạn 3 sao… dự kiến đưa vào hoạt động vào cuối năm 2012, hình hài “Ngôi nhà khoa học Quy Nhơn” đã thực sự làm ấm lòng tất cả những ai có mặt trong sự kiện này.

Niềm vui vì “nhà” đã có

Gặp giáo sư TS vật lý Đàm Thanh Sơn, đại học Washington, Hoa Kỳ trong buổi tiệc tối do UBND tỉnh Bình Định chiêu đãi, ông tỏ ra rất hào hứng: “Nhìn vào danh sách những nhà khoa học nổi tiếng có mặt trong sự kiện này, có rất nhiều người tôi nôn nóng muốn gặp. Chỉ có GS Trần Thanh Vân mới đủ uy tín mời được những người nổi tiếng như thế… Đây cũng là dịp để giới khoa học quốc tế biết đến Việt Nam và giúp Việt Nam. Nhìn những nỗ lực không mệt mỏi của hai vợ chồng GS Trần Thanh Vân cho các cuộc Gặp gỡ Việt Nam diễn ra từ 1993 tới bây giờ, tôi thực sự thấy… hơi phí. Đáng lẽ nên có sự hậu thuẫn trong nước cho những hoạt động này, vì rất nhiều người nước ngoài muốn giúp đỡ Việt Nam”.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận cũng đánh giá cao sự ra đời của ICISE: “Nhìn hai vợ chồng anh Thanh Vân tóc đã bạc phơ mà vẫn bền bỉ bỏ hết sức lực cho khoa học bành trướng ở Việt Nam, giúp các thế hệ sau có tinh thần nghiên cứu khoa học, có kiến thức về vật lý cơ bản, tôi rất cảm động. Anh luôn có những sáng kiến tuyệt vời, đưa giới khoa học đến gần với thiên nhiên, với vẻ đẹp của văn hoá tinh thần, để từ đó có cảm hứng sáng tạo. Ít nhà khoa học nào có tài tổ chức, tài quản trị như anh. Tôi biết đây là chuyện rất khó, phải vượt qua bao trở ngại để tìm ngân sách, lo thủ tục”.

Ông Jerome I Friedman, giáo sư nghiên cứu viện kỹ thuật Massachusetts (Mỹ) cho rằng dự án là cơ sở để thiết lập các hợp tác quốc tế và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục cũng như nghiên cứu liên ngành của Việt Nam như một đối tác đầy đủ của cộng đồng khoa học quốc tế. Giáo sư Martin Perl, giải Nobel vật lý năm 1995 dù không tới được cũng gửi thư chúc mừng, trong thư ông vạch rõ ba mục tiêu của ICISE: “Thứ nhất nó cung cấp không gian để trao đổi nghiên cứu khoa học và các ý tưởng mới cho các quốc gia khu vực Đông Thái Bình Dương. Thứ hai, cung cấp điểm nghiên cứu khoa học lý tưởng. Thứ ba, mở rộng cơ hội đào tạo khoa học ở Việt Nam và các nước láng giềng…”

Không thể không nhắc tới nỗ lực của UBND tỉnh Bình Định, nơi tạo mọi điều kiện cho chất xám chảy về. Ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cam kết: “Với mong muốn thu hút nhiều nhà bác học lớn trên thế giới đến Việt Nam, giúp đỡ các bạn trẻ phát triển tài năng… chúng tôi đã sang Pháp, Mỹ, mời gọi các giáo sư về Bình Định. Việc này đã được tiến hành từ các nhiệm kỳ trước, và tôi tiếp tục công việc còn dang dở ấy. Tôi tin là các nhiệm kỳ sau, lãnh đạo tỉnh vẫn duy trì chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật, coi đó là mũi nhọn để phát triển kinh tế, giúp thế giới biết đến Việt Nam”.

Và nỗi lo “người trông nhà”

Băn khoăn lớn nhất của các nhà khoa học là cần có một chiến lược quyết liệt của Nhà nước cho phát triển khoa học cơ bản. Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói: “Điều tôi buồn nhất là giáo dục khoa học cơ bản Việt Nam không được nhà lãnh đạo coi trọng một cách xứng đáng. Môn vật lý thiên văn không có ở Việt Nam, không có đài thiên văn, cũng không đầu tư cho khảo cứu khoa học cơ bản, chỉ tập trung vào khoa học thực dụng. Như vậy là sai. Phải có khoa học cơ bản mới có khoa học thực dụng. Đồng lương cho giáo viên, đầu tư cho giáo dục còn quá thấp. Sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học ngày một nhiều, nếu không muốn mất họ thì phải tạo điều kiện cho họ trở về. Tiếp xúc với sinh viên trong những ngày qua, tôi thấy các em rất đam mê khám phá khoa học, chịu học, thông minh… nhưng để vươn tới sự cạnh tranh trong khoa học, đó là vấn đề của các nhà chính trị”.

Đề cập đến tinh thần dấn thân, sự đam mê nghiên cứu khoa học của giới trẻ, giáo sư Đàm Thanh Sơn cho rằng: “Không thể kêu gọi các bạn trẻ quên hết mọi thứ để lao vào khoa học trong khi bản thân họ không nhìn thấy một tiền đồ tươi sáng cho sự nghiệp. Hãy quan tâm tới những bạn đang đi theo khoa học, làm thế nào để các bạn ấy có điều kiện tốt nhất nghiên cứu khoa học. Các bạn trẻ hơn sẽ nhìn vào tấm gương đó để tự nguyện dấn thân. Cải cách giáo dục đại học không thể làm đại trà. Để khoa học phát triển, ít nhất chúng ta phải tập trung xây dựng được một, hai trường đại học đạt chuẩn quốc tế. Để có một đại học như thế, phải đánh giá đúng tài năng giáo viên, và trả lương cho họ đúng với tài năng, đặt người giáo viên ở trung tâm của trường đại học. Nếu những người trẻ được tạo điều kiện phát triển trong nước thì những người như tôi sẵn sàng giúp đỡ. Ở Việt Nam, tôi đã nhìn thấy những người thầy rất tâm huyết với học sinh. Hệ thống giáo dục phải đánh giá đúng và trân trọng những người có tâm huyết với giáo dục, tạo điều kiện cho họ phát huy sức mạnh”.

BÀI VÀ ẢNH: HƯƠNG XUÂN

 

 

 

Vợ chồng GS Trần Thanh Vân (giữa) cùng hai cháu nội và GS viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu trong lễ khởi công ICISE.

 

Giáo sư Trần Thanh Vân: Muốn giàu mạnh phải đầu tư khoa học

Tận tụy đến không thể tận tụy hơn, giản dị đến không thể giản dị hơn, hai vợ chồng GS Trần Thanh Vân, hai nhà khoa học đã là hai điểm sáng đẹp nhất giữa lòng bạn bè quốc tế. Nhìn hai ông bà lo cho từng người từ chuyện ăn, chuyện ở, chuyện đi lại, đến những việc đại sự cho ICISE, mới hiểu vì sao các nhà khoa học thế giới đều quý trọng và ngưỡng mộ tấm lòng của hai vị giáo sư già cho khoa học, và cho Việt Nam suốt mấy chục năm qua

Kinh nghiệm nào đã giúp ông làm được những việc đầy ý nghĩa như thế cho Việt Nam?

Tôi luôn mong được trời thương mà thôi. Tất cả những việc tôi làm từ trước đến nay đều hoàn toàn độc lập, không có sự hỗ trợ của chính phủ, kể cả Việt Nam và Pháp. Nhưng khi thấy mình làm được, sau đó cả hai chính phủ đều giúp rất nhiều. Tôi hiểu hơn ai hết rằng nếu phụ thuộc vào chính quyền thì khi chính quyền thay đổi, sẽ rất khó cho mình. Tôi chỉ làm việc với cá nhân, những người có nhiệt huyết. Ở Việt Nam hỗ trợ tôi nhiều nhất là anh Nguyễn Văn Hiếu. Năm 1963, Nam Bắc còn chưa thống nhất, ở Paris tôi đã gặp anh, người luôn đặt khoa học lên trên tất cả mọi chuyện. Vào những năm 90, ở miền Bắc, chỉ có anh là người không sợ bị chỉ trích, sẵn sàng giúp tôi mọi thủ tục để làm cuộc Gặp gỡ Việt Nam đầu tiên. 50 năm qua rồi anh vẫn nhiệt tình như thế, tình nghĩa giữa chúng tôi rất sâu, rất đậm. Sau này tôi còn có nhiều người bạn khác, nhưng anh Hiếu vẫn là người che chở chúng tôi nhiều nhất

Tài trợ cho nhiều chương trình phát triển giáo dục Việt Nam, tìm kiếm học bổng cho sinh viên học sinh, hơn 10 năm qua ông còn rất tâm huyết với chương trình “Bàn tay nặn bột”?

Đó là chương trình dạy cho các giáo viên cấp tiểu học kiến thức để có thể nâng cao trí tò mò của học sinh, tập cho các em cách đặt câu hỏi, tự tìm ra những giải pháp, và viết lại về sự hiểu của mình…Những chuyện nho nhỏ như thế chính là tạo tiền đề cho một tư chất khoa học tương lai. Phải dạy ngay từ bậc tiểu học thì lên đại học các em mới có cơ sở tìm ra những cái mới, động lực quan trọng nhất trong khảo cứu khoa học. Chứ đợi lên đại học rồi thì không dạy được nữa. Năm vừa rồi tôi đã thuyết phục được Bộ Giáo dục đào tạo bằng lòng cho vào chương trình giáo khoa một phần nào đó của chương trình, để giáo viên có những nội dung giảng dạy mới hơn

Nhìn từ kinh nghiệm của các nước, ông thấy bài học nào là thiết thực nhất cho Việt Nam, để xây dựng một chiến lược phát triển khoa học?

Phải nhìn vào thực tế. Cách đây 30 năm, Mao Trạch Đông đã buộc tất cả các nhà khảo cứu, giáo sư đại học về thôn quê đi cày, Campuchia đã từng giết bao nhiêu nhà khoa học. Sau bao nhiêu năm, từ chỗ không có gì, họ đã có được một đội ngũ khoa học khiến các cường quốc phải nể sợ. Ngay như châu Âu bây giờ, để làm nhà máy điện năng lượng mặt trời, mọi vật liệu đều phải mua từ Trung Quốc. Cách đây 30 năm, chúng ta cũng có một nền khoa học khá tốt. Nhưng sau 30 năm khoa học mình chẳng phát triển gì, vì sao? Lo âu của chúng tôi ở nước ngoài là những vị lãnh đạo có nhìn thấy, để đầu tư cho khoa học không?Tôi ngạc nhiên là suốt chiều dài 3.000 km bờ biển, đi đến đâu cũng nói đặc kín hết rồi bởi các khách sạn năm sao, các khu du lịch. Làm sao du lịch có thể chiếm giữ tất cả bờ biển như thế? Chẳng lẽ chúng ta chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền ngay. Muốn tương lai đất nước giàu mạnh, chẳng còn con đường nào khác là đầu tư khoa học. Chúng ta đang có cái nhìn rất thiển cận về khoa học.

Hiện tôi đang chọn một số học sinh, sinh viên đưa sang học châu Âu trong các trường kỹ sư. Tôi mong trong tương lai có thể có một trường kỹ sư Việt Nam chất lượng tương đương châu Âu. Việc này không thể làm một mình, tôi chỉ tạo cơ hội để Bộ Giáo dục thực hiện. Không thể cái gì cũng kinh doanh, phải có đầu tư của chính phủ để có một trường công lập chất lượng cao

Với “ngôi nhà khoa học Quy Nhơn”, cách thức hoạt động của ICISE có gì đặc biệt?

Thủ tục làm mất ba năm, tôi tỏ ra sốt ruột thì anh em Việt Nam lại nói rằng như thế là quá nhanh rồi! Chỉ tiếc giá như được sớm hơn một năm thì chúng tôi sẽ không gặp phải khủng hoảng kinh tế, số tiển dành dụm được sẽ không bị mất đi đến 30%… Tôi muốn có chỗ để đón tiếp các giáo sư quốc tế trong mùa hè với gia đình của họ, gặp gỡ với các nhà khoa học VN, cùng chơi, cùng sống chung với nhau… Sáng tạo luôn nảy sinh từ những lúc thảnh thơi. Tôi chỉ mong nơi này trở thành một địa điểm giúp khoa học Việt Nam có sự liên lạc, để xây dựng tình cảm, từ đó có được những công trình khoa học và cùng tiến bộ với thế giới. ICISE chỉ là một chuyện nhỏ, giống như gieo những hạt giống, còn các nhà khoa học VN có đón nhận hay không là tùy họ.

Mối quan hệ với những nhà khoa học trong ngành vật lý hạt tôi đã xây dựng hơn 45 năm nay, từ khi chúng tôi còn rất trẻ, chưa có tên tuổi gì. Cái gì cũng phải có thời gian. Bạn bè khoa học lúc đầu chỉ có vài người, dần nhân lên, có lẽ các bạn thấy sự xông pha của mình nên thương. Giờ đã thành thông lệ mỗi lần Gặp gỡ Việt Nam ai cũng muốn có công trình mới để đến trình bày với bạn bè…

Sức mạnh nào khiến ông bà có thể theo đuổi bền bỉ như thế cho sự nghiệp trồng người?

Thấy cái gì làm được mà không làm thì tâm đâu có yên. Có rất nhiều người bạn hết sức tâm huyết với chúng tôi, nếu mình để mất cơ hội ấy cho Việt Nm thì rất uổng. Sống cho mình thì đơn giản lắm, nhưng tôi “bị bắt buộc” phải sống cho cộng đồng mình. Điều tôi buồn nhất là bạn bè nước ngoài thì rất nhiệt tình, làm việc chẳng quản ngại, nhưng tìm ra một người Việt Nam có tinh thần ấy sao khó quá, ai cũng đặt vấn đề tiền bạc cả. Những người như ông Hiếu, ông Nguyễn Văn Hiệu rất ít. Tôi mong những xông pha cực khổ của chúng tôi sẽ khiến mọi người có một cái nhìn khác, bớt đi tư tưởng phải kiềm tiền ngay. Các nhà khoa học VN phần lớn đều có công ty riêng, do lương bổng kém nên họ phải tập trung kiếm tiền để lo cho cuộc sống hàng ngày. Vậy thì làm sao có thời gian khảo cứu. Cũng không trách họ được…

(C) sgtt.vn

Đẩy lùi nguy cơ “tuyệt tự” của khoa học

OVSED: Cảm ơn anh Thân Hoài Anh (Việt Nam) đã chia sẻ tin này.

Source: http://www.facebook.com/groups/147037265383082/197970790289729/

***

(Dân trí) – Dù không còn gánh vác trách nhiệm lãnh đạo trực tiếp các cơ quan khoa học, GS. Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đến tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ. Vừa qua, GS. tiếp tục trả lời báo Dân trí về chủ đề này:
>>  Nền khoa học nước nhà không thể “tuyệt tự “
>>  Muốn khoa học không “tuyệt tự” cần gỡ ra từ đâu?
>>  Khoa học Việt Nam có đang đứng trước nguy cơ “tuyệt tự”
Thưa Giáo sư, trong lần trả lời cuộc phỏng vấn trước đây, GS  phải dùng đến chữ “tuyệt tự”, chắc rằng GS có nhiều nỗi lo lắng trước thực trạng của nền khoa học nước nhà?

 

Sau khi Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân ký Quyết định phê duyệt Đề án xây dựng hệ thống các Trường Trung học Phổ thông Chuyên, Hội Vật lý Việt Nam đã làm việc với lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo và cử một nhóm các Hội viên của Hội tham gia thực hiện một số công việc: tham gia soạn thảo chương trình giảng dạy vật lý, sưu tập các tài liệu giảng dạy học sinh năng khiếu vật lý một số nước có truyền thống đào tạo học sinh giỏi vật lý và soạn thảo các tài liệu giảng dạy, xây dựng Thư viện điện tử để đưa các tài liệu giảng dạy đó lên mạng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh các lớp chuyên vật lý trong cả nước truy cập và tham khảo, xây dựng phòng thực hành vậy lý cho học sinh trong một trường chuyên để làm mẫu cho các trường chuyên khác học tập, tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy các lớp chuyên vật lý.

 

 

Ý kiến của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail:thaolam@dantri.com.vn

Để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của các trường, tôi đi thăm một loạt trường chuyên ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, từ Sơn La đến Huế. Trong các buổi làm việc với lãnh đạo và giáo viên các trường chuyên tôi phát hiện một điều rất bất ngờ: trong một số năm gần đây hầu hết các học sinh giỏi vật lý và hóa học trong các trường chuyên sau khi đoạt được các giải thưởng cao trong các kỳ thi Olympic đều không thi vào các ngành khoa học tự nhiên trong các trường đại học.

 

Do từ lâu đã không có học sinh giỏi thi vào học các ngành khoa học tự nhiên trong các trường đại học cho nên một số phòng thí nghiệm với các thiết bị hiện đại mới được xây dựng với vốn đầu tư lớn, có nơi lên đến trên mười triệu USD, đã không tuyển dụng được các nghiên cứu viên trẻ tuổi tài năng vào làm việc. Chính vì thế cho nên tôi mới lo sợ trước nguy cơ “tuyệt tự” của khoa học Việt Nam. Từ lúc tôi bắt đầu cuộc đời nghiên cứu khoa học của mình cách đây 55 năm, chưa bao giờ ở nước ta xảy ra tình trạng rất đáng buồn này.

 

Vậy thì, muốn ngăn chặn nguy cơ “tuyệt tự” của khoa học cần có những “chính sách đòn bẩy” nào thưa Giáo sư?

 

Trong khoảng hơn mười năm gần đây Nhà nước đã có một số chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ đổi mới và đã chú trọng xây dựng nền khoa học của nước nhà. Trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 về phát triển khoa học và công nghệ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định “Nghiên cứu cơ bản có định hướng, có trọng điểm các lĩnh vực khoa học tự nhiên (toán học, tin học, cơ học, vật lý, hoá học, sinh học, các khoa học về trái đất và biển…) nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống, hạn chế hậu quả thiên tai và nhằm xây dựng năng lực khoa học cho việc làm chủ các công nghệ tiên tiến được chuyển giao từ nước ngoài và sáng tạo ra công nghệ mới. Chú trọng đúng mức những nghiên cứu lý thuyết hiện đại cần thiết để đón đầu sự phát triển của khoa học và công nghệ.”
Giáo sư – Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu

 

Thực hiện Nghị quyết đó, trong 5 năm thuộc nhiệm kỳ khóa VIII của Ban Chấp hành Trung ương ngân sách Nhà nước dành cho khoa học công nghệ đã tăng dần, đến cuối nhiệm kỳ đạt được đủ 2% tổng ngân sách Nhà nước.

 

Đồng thời với việc thực hiện các Nghị định của Chính phủ nhằm đổi mới cơ chế hoạt động và hệ thống tổ chức khoa học công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thực hiện một số chủ trương nhằm đẩy mạnh nghiên cứu khoa học: tổ chức Chương trình nghiên cứu cơ bản về Khoa học tự nhiên, thành lập Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED tài trợ khá cao theo cơ chế “khoán sản phẩm” cho các đề tài nghiên cứu cơ bản đạt tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo cho các nhà khoa học chủ chốt của các đề tài đó có thu nhập cao hơn mức lương chính nhiều lần, gần đây lại mở ra thêm cơ chế cấp kinh phí cao cho các đề tài “Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng” bổ sung cho cơ chế của NAFOSTED nhằm thúc đẩy việc phát triển công nghệ cao trên cơ sở trình độ quốc tế về khoa học cơ bản.

 

Tôi rất mừng nhận thấy rằng với hai cơ chế “khoán sản phẩm khoa học” nói trên, các cán bộ khoa học chủ chốt tham gia các đề tài theo hai cơ chế đó có thu nhập đủ để an tâm làm khoa học. Đó thực sự là hai bước đột phá hết sức quan trọng trong việc đổi mới cơ chế quản lý khoa học.

 

Thưa Giáo sư, đúng là hai cơ chế “khoán sản phẩm khoa học” là một “điểm tựa’ quan trọng nhưng không phải cán bộ khoa học nào, nhất là cán bộ trẻ, có thể len chân vào để tận dụng được lợi thế của “diểm tựa” đó, cho nên họ vẫn không có cuộc sống bảo đảm  thì khó  mà yên tâm theo đuổi cái “nghiệp” khoa học.

 

Các chủ trương, chính sách nói trên đã có hiệu quả rõ rệt và rất cần thiết, song vẫn còn thiếu một chính sách quan trọng nữa nhằm đảm bảo cho những nghiên cứu viên trẻ tuổi trong các viện và trung tâm nghiên cứu cũng như các giảng viên trẻ tuổi các ngành khoa học trong các trường đại học chưa đủ năng lực nhận “khoán” với Bộ Khoa học và Công nghệ nhưng có triển vọng trong khoa học và say sưa nghiên cứu cũng có thu nhập đủ sống để an tâm nghiên cứu, học tập, rèn luyện trở thành nhà khoa học tài năng. Học sinh trung học sẽ nhìn thấy tấm gương các anh chị trẻ tuổi say mê khoa học đó và đi theo.

 

Nếu hàng năm vẫn tiếp tục có các học sinh giỏi được tuyển vào học các ngành khoa học trong các trường đại học, một số trường đại học (dù là ít trường) vẫn tiếp tục đào tạo được các cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ về khoa học đạt chất lượng cao, thì không sợ rằng nền khoa học có nguy cơ “tuyệt tự” nữa. Nhưng chúng ta không thể chỉ giữ cho nền khoa học không bị “tuyệt tự”, mà còn phải làm cho khoa học Việt Nam phát triển nhanh, ít nhất là tiến tới sánh vai được với các nước tiên tiến trong khu vực trong một tương lai không xa. Mục đích cao cả đó không những đòi hỏi Nhà nước và các cơ quan quản lý phải cương quyết thực hiện một loạt các chủ trương, chính sách đòn bảy vừa được trình bày ở trên, mà còn đòi hỏi sự đồng lòng nhất trí và quyết tâm nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu của giới khoa học, nhất là của những nhà khoa học hàng đầu mỗi ngành.

 

Xin chân thành cảm ơn Giáo sư.

 

Thao Lâm (thực hiện)

(C) dantri.com.vn

Carbon capture, storage has great potential in VN

OVSED: Cảm ơn TS Trần Ngọc Tiến Dũng đã chia sẻ tin này.

Source: http://www.facebook.com/groups/147037265383082/202103559876452/

***

HA NOI — While carbon capture and storage (CCS) is a new concept in Viet Nam, the country offers good opportunities for the technology, especially in the energy sector.

Deputy Director of the Ministry of Industry and Trade’s General Directorate of Energy Le Tuan Phong said at a recent conference that as a clean technology, CCS could help Viet Nam reduce the emission of carbon dioxide in its efforts to respond to climate change.

CCS is known as a technology used to prevent large quantities of carbon dioxide from being released into the atmosphere, mitigating the contribution of fossil fuel emissions to global warming. Accordingly, carbon dioxide (CO2) from large point sources is captured and then stored in such a way that it does not enter the atmosphere.

Oil fields, gas fields, saline formations, unmineable coal seams, and saline-filled basalt formations have all been suggested as carbon dioxide storage sites. This method involves injecting carbon dioxide, generally in supercritical form, directly into underground geological formations.

In Viet Nam, energy generation is the second largest source of greenhouse gas emission, just behind agriculture.

The estimated total primary energy consumption in Viet Nam reached 44 million tonnes of oil equivalent last year. As much as 86 per cent of energy consumption was supplied by fossil fuels. More than half of its 21.3 GW total electricity installed capacity was thermal power, hydro power contributing about 34.8 per cent while natural gas power plants contributed 31.4 per cent.

The Ministry of Natural Resources and Environment has forecast that the energy sector would generate a total of 224 million tonnes of CO2 from now to 2020. Other industries will contribute 10 million tonnes of CO2 per year.

Meanwhile, so far, every KWh generated by coal releases 0.52gram of carbon dioxide.

Viet Nam and the Asia Development Bank (ADB) recently entered into talks about co-operation in CCS application at coal-fired power plants.

ADB Deputy Country Director Andrew Head said that last year, the bank had provided US$1,250 million Regional Technical Assistance to four Southeast Asian countries including Indonesia, the Philippines, Thailand and Viet Nam to evaluate the potential for CCS in the countries’ energy sector.

It focused on the oil and gas power sector, coal plants and other industry facilities.

Study findings show that since the country is largely dependent on the use of fossil fuels for power generation, it offers good opportunities for CCS.

Due to a high level of oil and gas production development, there are short-term opportunities for carbon dioxide storage in conjunction with enhanced oil recovery.

Le Dinh Hoe from Vietsopetrol’s Research and Engineering Institute said that carbon dioxide injected into declining oil fields can increase oil recovery by reducing the viscosity of crude oil as gas mixes with it.

Moreover, gases including CO2, natural gas or nitrogen are injected to repressurise reservoirs when oil is pumped up while air cannot be used because the oil could catch fire.

Costs associated with capturing, transporting and storing carbon dioxide were high, he said, adding that it was good to impose a tax on greenhouse gas emission to support enterprises involved in clean technology projects.

Findings also revealed challenges for Viet Nam to develop CCS including its CO2 storage being offshore, its natural gas processing industry not presently producing pure streams of CO2 and its plan for future coal-fired power plants appearing subcritical.

The two-day conference, titled “Carbon Capture and Storage in Viet Nam”, was organised by the ADB, the Asia-Pacific Economic Co-operation (APEC) and the Ministry of Industry and Trade. — VNS

(C) vietnamnews.vnagency.com.vn

What will keep Vietnamese researchers at home?

By Mike Ives - scidev.net

 

Vietnamese researcher

Scientists find US$200 a month is not enough to support a family

Flickr/ILRI

Will Vietnam’s science stipends be enough to keep scientists at home or will corruption, entrenched hierarchies and poor facilities prevail, asks Mike Ives?

[HANOI] When Pham Van Cuong returned to Vietnam in 2004 after earning a PhD in Japan, he was happy to get his job back at Hanoi University of Agriculture. The only problem? His monthly US$200 salary (the countrywide average for Vietnamese scientists) was not enough to support his family.

Like his colleagues, he began supplementing his basic salary with consultancy projects and additional teaching. But, while that extra work helped pay his bills, he says it also encroached upon valuable research time.

Seven years later, Cuong now earns an extra monthly US$300 research stipend from Vietnam’s National Foundation for Science and Technology Development (NAFOSTED), a two-year-old government agency that has spent US$33 million investing in research since 2009. Its stipulation is that researchers publish in international journals.

The young agency is trying to reward talented Vietnamese researchers and encourage them to conduct world-class research in Vietnam rather than in countries with more advanced research facilities. But corruption and a deeply embedded hierarchy within Vietnamese universities, as well as limited funding, could prevent this effort from significantly reforming Vietnam’s science sector.

A few hundred extra

Cuong is one of about 2,000 Vietnamese scientists who have received NAFOSTED stipends since 2009, says Phan Hong Son, the new foundation’s executive director. Together, they represent about six per cent of all full-time scientists in Vietnam. Average monthly stipends begin at US$150, says Son, and approximately 400 of the 2,000 scientists are ‘principal investigators’ whose monthly stipends can reach US$800.

Cuong told SciDev.Net that his NAFOSTED stipend, along with a separate grant, takes his monthly salary to US$700, and makes him more professionally productive and financially secure.

“Vietnamese scientists are very happy about what we’re doing,” says Son. They are grateful for the financial security and recognise the increased contribution to international science, he says.

Temple of Literature, HanoiUniversities have a long history in Vietnam, with the first created in 1070

Flickr/ILRI

Is increasing the funding enough?

But simply increasing funding will not fix endemic problems in Vietnam’s research environment, says Eren Zink, an American PhD candidate in the Department of Cultural Anthropology and Ethnology at Uppsala University in Sweden, who studies the politics of science in Vietnam.

Zink says that powerful hierarchies within university departments constrain younger scientists from pursuing ambitious research projects.

Younger Vietnamese scientists are often more qualified to win internationally oriented research grants, says Zink, who has interviewed about 40 Vietnamese scientists for his doctoral dissertation. But in Vietnam, ”it’s not acceptable for very junior people to earn more than their senior colleagues”, so older scientists discourage younger colleagues from building research teams based upon scientific competence.

Younger researchers submit to the pressure “because it is necessary if they wish to keep their job and support their family”, Zink told SciDev.Net, adding that most Vietnamese researchers work at universities not for money but for the ”stamp of legitimacy” that academic affiliation conveys to prospective international donors, as well as the possibility that their supervisors will send them abroad for training.

Phan Hong Son agrees in part, but says that Vietnam’s new science foundation, which was modelled on the Swiss National Science Foundation, aims to help young researchers break into such hierarchies and conduct research in Vietnam rather than seek higher salaries and better-quality research facilities abroad.

“Before, it was very hard for young scientists, even if they were smart, [to get research funding in Vietnam],” Son told SciDev.Net during an interview in his Hanoi office. ”But now it’s different because NAFOSTED is equal opportunity: we’re interested in the scientific quality of proposals and the ability of the applicants,” he says.

But Zink remains sceptical, telling SciDev.Net that funding awarded on the basis of merit is likely to  be redirected within the “social and kinship networks” of Vietnamese universities. Vietnam’s research environment is corrupt, he says, reporting that Vietnamese scientists say they are expected to return a large part of their research grants through unofficial payments within these networks — typically up to 30 per cent.

The civil servant culture

NAFOSTED comes at the end of a four-year lobbying process started by Hoang Van Phong, the minister at Vietnam’s Ministry of Science and Technology. Phong’s initial 2006 proposal, to raise domestic scientists’monthly salaries to US$1,000, was too controversial within government circles, Son recalled, because other agencies did not think scientists, as civil servants, deserved special treatment.

Vietnamese researcherWhy should scientists be paid more than other civil servants?

Flickr/Asian Development Bank

In 2008, Vietnam’s Ministry of Education and Training requested US$4 million from the Department of Science, Education, Culture and Social Affairs to kick-start a proposed US$80 million programme designed to lure expatriate Vietnamese scientists home. But this failed too. According to Son, the programme was just as controversial as the 2006 proposal because scientists, as government employees, would normally have their salaries set according to seniority and rank by Vietnam’s Ministry of Internal Affairs or Ministry of Finance.

Empowering scientists in South-East Asia

Neighbouring China has had more success in bringing researchers home. Government programmes brought more than 4,000 scientists back between 1994 and 2009. China last year announced a plan to give returning scientists five-year start-up packages, including US$146,000 annual salaries and access to modern research equipment.

Vietnam’s science reforms are part of a regional trend to empower scientists in South-East Asia, says Jürg Pfister, secretary general of the Swiss Academy of Sciences, who was a consultant to the Vietnamese government on science reform between 2000 and 2007.

Pfister says that while South-East Asian countries have typically pursued a”top down” approach to scientific funding, leaders across the region have begun to grant scientists and science foundations more autonomy to set national research priorities.

“Many [South-East Asian] countries used to be developing countries with a weak scientific base and a vulnerable science environment and infrastructure,” Pfister says. “That’s started gradually to change; several of these countries have a less vulnerable scientific infrastructure than they did ten years ago.”

Vietnamese authorities have been “slow” to reform their science sector, says Pfister. ”But they were working from scratch.”

Son says NAFOSTED follows examples set by Malaysia and Thailand. Malaysia’s Science Fund gives domestic scientists up to US$900 in monthly research stipends for up to two years of research focused on communications, biotechnology and other fields. And, between 2007 and 2011, Thailand’s 18-year-old national research fund will have given US$45 million to Thai PhD candidates.

Yet even Vietnamese scientists with NAFOSTED stipends are not guaranteed a living wage in the medium or long term. Cuong says that, when his NAFOSTED grant ends, he may need to search for short-term consulting or teaching work in order to make ends meet.

Lucky few

And clearly not everybody can benefit from the NAFOSTED scheme, even in the short term. This year’s NAFOSTED budget was US$20 million — just four per cent of Vietnam’s total US$500 million science budget.

Hanoi medical universityHanoi Medical University. It is hard even to make time for research.

Flickr/E8Club

The majority of scientists are still struggling even to find time for research, says Phuong Nguyen, Vietnam country director at the Vietnam Education Foundation, which promotes educational exchanges between Vietnam and the United States.

“Salary is the main issue that prohibits faculty from devoting themselves to research, because they have to moonlight a lot to earn a living,” she says. Some private institutions in Vietnam pay more viable salaries than the government does,”but the effort varies from institution to institution”.

Hoang Tung, a biotechnology professor at Vietnam National University, Ho Chi Minh City, claims that his university’s salary policy, which pays professors with master’s degrees US$500 and those with PhDs US$1,000 per month, is unique in Vietnam.

Bureaucracy and infrastructure

In addition to low salaries, bureaucracy and infrastructure also cause problems. ”[Vietnamese] scientists probably spend at least 50 per cent of their time dealing with paperwork, thus their productivity is low and very soon the scientists lose interest [in research] simply because they are too tired,” says Tung.

And Cuong points out that some of his friends at other Vietnamese universities are not even qualified to apply for NAFOSTED research stipends because their laboratories cannot support international-quality research.

But Son is looking ahead. NAFOSTED’s success will be judged on how many young scientists it helps and how many publications in international journals it has supported. International publications have doubled in number since the beginning of the scheme, he says.

And, while the foundation has only limited funds for equipment, it is planning to launch a funding stream to create centres of excellence. These will have more scope for investing in infrastructure.

(scidev.net)