Archive for the 'Translation Project' Category

Những trí thức theo Bác kháng chiến: GS Trần Đại Nghĩa

Chuyện những trí thức theo Bác Hồ kháng chiến:
Kỳ I: Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa , nhà khoa học dấn thân
Trở về quê sau 40 năm xa cách, người đàn ông đã ngoài sáu mươi tuổi, dáng người nhỏ nhắn và gầy gò, đứng lặng bên mộ mẹ cha mà nước mắt tuôn trào: “Con đã về đây, đã làm theo đúng lời nguyện ước của ba, má khi xưa, đã học hành thành đạt và đã cống hiến hết sức mình cho Tổ quốc!”. Đó là Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động, Bộ trưởng Trần Đại Nghĩa.

Cách đây 65 năm, để gỡ thế cờ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của chúng ta đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainbleau thương lượng với Chính phủ Pháp về nền độc lập, hòa bình ở Việt Nam, nhằm tranh thủ cơ hội hòa bình để chuẩn bị cho toàn dân bước vào cuộc kháng chiến thần thánh.

Trong thời gian ở Pháp, với sự hấp dẫn diệu kỳ và sức hút cảm hóa đặc biệt của mình, Bác Hồ đã thu hút được đông đảo kiều bào ta nói chung và trí thức Việt kiều nói riêng tình nguyện xin được về nước phục vụ kháng chiến.

Nhân kỷ niệm 65 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2011), Báo CAND khởi đăng loạt bài về những trí thức theo Bác Hồ về nước để góp phần làm sáng tỏ bài học lịch sử này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Năm 1975 khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, có một người đàn ông đã ngoài sáu mươi tuổi theo dòng sông Măng Thít trở về quê sau 40 năm xa cách nơi chôn nhau cắt rốn. Người nhỏ nhắn và gầy gò, ông đứng lặng bên mộ mẹ và cha mà nước mắt tuôn trào: “Con đã về đây, đã làm theo đúng lời nguyện ước của ba, má khi xưa, đã học hành thành đạt và đã cống hiến hết sức mình cho Tổ quốc!”.

Đó là Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động, Bộ trưởng Trần Đại Nghĩa.

Hoài bão tuổi trẻ

Quê nội của ông ở Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhưng ông sinh ra tại quê ngoại, ấp 6, xã Xuân Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, tuổi thơ Phạm Quang Lễ (tên khai sinh của Giáo sư Trần Đại Nghĩa) gắn chặt với dòng sông Măng Thít hiền hòa thơ mộng, hai bờ bát ngát dừa và cây trái.

Mẹ ông, cụ Lý Thị Diệu (1881-1941), một người phụ nữ sắc sảo, độ lượng, sùng đạo Phật và luôn làm việc phúc đức, giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, trẻ mồ côi, người tàn tật. Cha ông, cụ Phạm Quang Mùi (1882-1920), vốn là một người uyên bác chữ Hán vì thời thế thay đổi nên chuyển sang học tiếng Pháp, đỗ Thành chung rồi tốt nghiệp trường Sư phạm, về dạy lớp nhất, lớp cuối cấp của Tiểu học Pháp - Việt, tại thị xã Vĩnh Long.

Nhớ đến cha là trái tim ông thắt lại bởi khi còn là cậu bé lên tám tuổi, ông đã phải chứng kiến giờ phút lâm chung của người cha thân yêu. Cha ông đã trăng trối với ông: “Con phải gắng học để trở thành người hữu ích, sau này giúp đỡ người nghèo khổ!”.

Sau này, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã viết: “Tuổi trẻ thật là quý giá. Khi đã định hướng là khi ta không đánh mất mình trong dòng đời trôi nổi. Tuổi trẻ đủ sức mạnh giúp ta đứng dậy mỗi khi bị sức mạnh phũ phàng đánh ngã. Tuổi trẻ đủ dũng khí vượt lên trên con đường lẻ loi, âm thầm để đi tới tương lai. Tuổi trẻ khát khao tình yêu và cuộc sống, song khi đã có chí hướng, tuổi trẻ lại có thể dồn toàn bộ khát vọng cho tình yêu lớn. Bây giờ tôi muốn nói lại với các con tôi và tất cả các bạn trẻ như vậy. Đó là kinh nghiệm sống của đời tôi”.

Nhờ nhà báo Vương Quang Ngươu (1897 – 1938) một Việt kiều từ Pháp về, làm việc tại Tòa bố chính Mĩ Tho, là một trí thức yêu nước vận động Hội Ái hữu trường Chasseloup Laubat (nay là Trường THPT Lê Quý Đôn – TP HCM), ông đã được cấp một năm học bổng để lên tàu sang Pháp, theo học một lớp dự bị, sửa soạn thi vào đại học. Ông tự hứa sẽ làm tròn tâm nguyện của cha và đền đáp công lao của mẹ.

Mong muốn của Phạm Quang Lễ là ngoài việc học về kĩ thuật dân dụng còn tìm cách học cho kì được kĩ thuật chế tạo vũ khí để giúp nước đánh đuổi giặc Pháp. Ông tự nhủ đó là nghĩa vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc.

“Từ khi mới ra đi, tôi vẫn có ý định học vũ khí. Ý định đó được củng cố ngay trên đường viễn dương, khi con tàu đi qua kênh Sue, tôi được tin cuộc chiến tranh Italia và Êtiopi bùng nổ. Những năm tôi du học bên Pháp là thời kì thế giới rung chuyển bởi chiến tranh. Tôi không được phép thi vào các trường đại học quân sự, nhưng tôi biết các môn học có liên quan đến thiết kế – chế tạo vũ khí được dạy trong sáu trường đại học lớn”.

Trong hàng nghìn người Việt Nam sang Pháp du học, có lẽ chỉ duy nhất Phạm Quang Lễ có quyết tâm nghiên cứu về vũ khí. Song đây là lĩnh vực bí mật và cấm tuyệt đối người dân thuộc địa. Chỉ cần để lộ ra ý định này, ông sẽ bị trục xuất ngay khỏi nước Pháp. Vì vậy trong 11 năm ở Pháp, ông chỉ có thể tự mò mẫm và bí mật học hỏi, sưu tầm tài liệu về các loại vũ khí.

Muốn đi vào lĩnh vực này cần phải giỏi về khoa học cơ bản, toán học, cơ học, hóa học và kĩ thuật. Vì vậy, Phạm Quang Lễ đã thi lấy bằng cử nhân khoa học ở Trường Đại học Sorbonne, bằng kĩ sư cầu đường ở Trường Cầu cống quốc gia, bằng kĩ sư điện tại Trường Đại học Điện và bằng kĩ sư hàng không tại Học viện Kỹ thuật hàng không, đồng thời thi lấy chứng chỉ ở Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Mỏ. Ngoài ra, ông còn tự học tiếng Đức để đọc các tài liệu của Đức từ nguyên bản.

Người trí thức dấn thân

Ngày 22/6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Paris. Đứng trong đoàn đại biểu Việt kiều ra đón thượng khách của Chính phủ Pháp tại sân bay, Phạm Quang Lễ ngạc nhiên thấy vị Chủ tịch nước ăn mặc rất giản dị với nét mặt hiền từ, vui vẻ, khiêm tốn và đôi mắt rất sáng. Qua bác sĩ Hoàng Xuân Mãn (em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn), Chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp, chỉ ba ngày sau khi Hồ Chủ tịch đến Paris, kĩ sư Phạm Quang Lễ được tiếp kiến Người.

Những ngày Bác ở trên đất Pháp và trên đường về nước, ông được thường xuyên đi theo Bác. Chính điều này đã có ảnh hưởng quyết định đối với cuộc đời cách mạng của ông. Một lần, Bác hỏi Phạm Quang Lễ: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”. Ông trả lời ngay điều đã ôm ấp từ buổi đầu xuất ngoại: “Dạ thưa, nguyện vọng cao nhất là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”.

Ngày 8/9/1946, Hồ Chủ tịch cho kĩ sư Phạm Quang Lễ biết là Hội nghị Fontainbleau không thành công. Người nói: “Bác về nước, chú chuẩn bị về cùng Bác, hai ngày nữa ta lên đường”. Bảy giờ sáng một ngày trung tuần tháng 9/1946, xe lửa đến ga Lyon rồi tạm nghỉ. Hồ Chủ tịch hỏi kĩ sư Phạm Quang Lễ: – Đời sống ở trong nước còn đang rất khó khăn, chú về nước có chịu nổi không?

Phạm Quang Lễ trả lời: – Thưa, tôi chịu nổi.

- Ở trong nước không có kĩ sư, công nhân về vũ khí, máy móc thiếu, liệu chú có làm việc được không?

- Thưa, tôi tin là làm được vì tôi đã chuẩn bị mười một năm ở bên Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện GS.VS Trần Đại Nghĩa.

 

Xa Tổ quốc mười một năm, về đến Hà Nội chỉ được nghỉ có bảy ngày, kĩ sư Phạm Quang Lễ phải lên ngay xưởng quân giới Giang Tiên ở Thái Nguyên nghiên cứu chế tạo súng chống xe tăng, dựa theo mẫu súng Bazoka của Mĩ với hai viên đạn dự trữ do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu cung cấp. Công việc mới bắt đầu được ít ngày thì ông nhận được điện của Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu gọi về Hà Nội gấp để gặp Hồ Chủ tịch.

Ngày 5/12/1946, Hồ Chủ tịch cho mời kĩ sư Phạm Quang Lễ đến Bắc Bộ Phủ (nay là Nhà khách Chính phủ, 12 Ngô Quyền). Bác thân mật nói: “Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú đến để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc”.

Bác nói tiếp: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ cho gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”. Bác giải thích rất dí dỏm: “Một là họ Trần, không có họ với Bác, đấy là họ của Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi địch cường bạo”. Chú có ưng bí danh đó không?”.

Cống hiến hết mình cho Tổ quốc

Bà Nguyễn Thị Quang, cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh, con dâu trưởng của Viện sĩ Trần Đại Nghĩa kể cho tôi nghe những kỉ niệm về cha mình: “Bác Hồ biết tất cả những sở thích của ba tôi, kể cả chuyện ông nghiện thuốc lá từ khi còn học tập và làm việc ở Pháp. Vì vậy, Bác đã nhắc: Các chú phải chú ý là có thuốc lá đều đều cho chú Nghĩa để chú hút, chú còn làm việc.

Còn về nghiên cứu khoa học thì ba tôi vẫn thường hay kể với các con cháu: Bác Hồ không chỉ tin cậy trao nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới mà còn tạo điều kiện tối đa để ba tôi say sưa làm việc. Bác cho phép ba tôi được gặp bất cứ lúc nào và có toàn quyền hành động trong việc chế tạo vũ khí, không phải thông qua bất kì cấp lãnh đạo nào. Đấy là một sự ưu ái rất nhiều ý nghĩa.

Sau này, ba tôi trải qua nhiều chức vụ quản lý và lãnh đạo: Cục trưởng Cục pháo binh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kĩ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam, Hiệu trưởng đầu tiên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội khoá II, III… đấy là những điều giúp ông làm việc rất thuận lợi. Có gặp điều gì khó khăn hay có vấn đề gì cần đề xuất là ba tôi được gặp trực tiếp Bác Hồ để xin ý kiến chỉ đạo nên giải quyết công việc rất kịp thời”.

Ngay những ngày trước lúc qua đời, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa vẫn nhắc lại: “Tôi nhớ mãi mãi Bác Hồ kính yêu, vô cùng biết ơn Bác cho theo về nước, Bác luôn luôn chăm sóc và hướng dẫn tôi và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã cho tôi các cương vị để có thể hoàn thành nhiệm vụ của đời tôi một cách có hiệu quả nhất và cái tên mà Bác đã đặt cho tôi cũng luôn luôn nhắc nhở tôi.

Hàng năm cứ đến các ngày 10/9 (1946, rời Pa-ri về nước), 20/10 (1946, về đến Tổ quốc) và 5/12 (1946, Bác trao nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới và đặt bí danh Trần Đại Nghĩa) lại làm cho tôi nhớ lại quá khứ một cách rất cảm động. Đó là những kỉ niệm lịch sử trong cuộc đời của tôi, càng nghĩ tôi càng cảm động, càng thấm thía công ơn của Bác, lòng thương yêu của Bác đã dành cho tôi. Bác luôn luôn là hình ảnh thiêng liêng nhưng rất gần gũi với tôi. Trong tâm khảm tôi, một bên là ba má và chị tôi, còn một bên là Bác Hồ”.

Sau khi ông mất (9/8/1997), tên của GS, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã được đặt cho ba con đường ở ba thành phố lớn nhất cả nước là Thủ đô Hà Nội, TP HCM và TP Đà Nẵng… Nhớ ông, người ta nhớ đến một hoài bão lớn, một tình yêu lớn và một niềm tin vô hạn đối với Đảng, đối với Bác Hồ và nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Khánh (85 tuổi), phu nhân Anh hùng, GS.VS Trần Đại Nghĩa: 

Anh Trần Đại Nghĩa là một nhà khoa học, giản dị đã được Bác Hồ giác ngộ, anh đã ý thức được tinh thần yêu Tổ quốc Việt Nam của mình, anh tha thiết đóng góp sức mình cho hoài bão lớn lao là làm sao cho dân giàu nước mạnh, sống hòa bình hạnh phúc và tiến lên ngang tầm thế giới văn minh.

Bà Nguyễn Thị Khánh dặn các con: Mẹ nghĩ Bác Hồ đã đặt cho ba các con là họ Trần thì các con cũng lấy họ Trần, các cháu cũng lấy họ Trần để giữ đạo đức và truyền thống (theo lời Đại tá Trần Dũng Trí, người con trai cả của GS, VS Trần Đại Nghĩa với PV Báo CAND ngày 12/10/2011).

Hồng Thái – Kiều Khải

(C) cand.com.vn

Cuộc thi dịch sách ngoại văn

Nhằm khích lệ phong trào đọc sách ngoại văn của các bạn trẻ, câu lạc bộ sách Newpage Club phát động cuộc thi DỊCH SÁCH NGOẠI VĂN.

Cuộc thi do Newpage Club tổ chức. Các đơn vị tài trợ là Công ty sách Alpha (Alpha Books), Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, Nhà sách ngoại văn Bookworm, Trung tâm Anh ngữ EnCi và Lollybooks Café.

THỂ LỆ CUỘC THI:

1.Nôi dung:
Nội dung đề thi dịch sách kinh tế (1) do Công ty sách Alpha (Alpha Books) ra đề và chấm giải; sách văn học (2) do Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam ra đề và chấm giải;  Trung tâm Anh ngữ EnCi hỗ trợ chấm vòng sơ khảo cho đề thi dịch sách văn học.

Download đề thi tại website của Lollybooks
2.Thời gian:
Từ ngày 7/2/2010 đến hết 15/3/2010
Tổng kết và trao giải trong tuần cuối cùng của tháng 3
Lễ trao giải sẽ được tiến hành tại Lollybooks Café (29 Tô Hiến Thành, Hà Nội)

3. Địa chỉ nhận bài dự thi:
Email của Newpage Club: newpage.club@gmail.com
Các bạn dự thi lưu ý, vì đây là cuộc thi dịch thuật, chỉ có 1 đề thi và nhiều bài tham dự cuộc thi nên các bạn không post bài lên facebook.

4. Bài dự thi hợp lệ:
-Gửi đúng thời gian.
-Gửi bài dự thi email của Newpage Club: newpage.club@gmail.com
-Tiêu đề của bài dự thi ghi rõ: “Bài dự thi dịch sách kinh tế” hoặc “Bài dự thi dịch sách văn học”
-Thông tin cá nhân: Tên đầy đủ, số chứng minh thư nhân dân và điện thoại liên lạc
(Ban tổ chức sẽ giữ bí mật thông tin cá nhân của bạn. Thông tin đầy đủ để tiện cho việc trao giải thưởng về sau này)
-Người tham dự cuộc thi không thuộc nhóm admin của Newpage Club, nhân viên của Alpha Books, Nhã Nam, nhà sách Bookworn, trung tâm Anh ngữ EnCi và Lollybooks Café.

5. Giải thưởng:

GIẢI DỊCH SÁCH KINH TẾ: (Do Công ty sách Alpha – Alpha Books tài trợ)
01 Giải nhất: thẻ mua sách của Alphabooks trị giá 1,000,000 đồng
01 Giải nhì: thẻ mua sách của Alphabooks trị giá 500,000 đồng
01 Giải ba; thẻ mua sách của Alphabooks trị giá 300,000 đồng

GIẢI DỊCH SÁCH VĂN HỌC: (Do Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam và Nhà sách Ngoại văn Bookworn tài trợ)
01 Giải nhất: thẻ mua sách của Công ty Nhã Nam trị giá 1,000,000 đồng
01 Giải nhì: thẻ mua sách của Nhà sách Bookworn trị giá 500,000 đồng
01 Giải ba: thẻ mua sách của Nhà sách Bookworn trị giá 300,000 đồng

CÁC GIẢI KHUYẾN KHÍCH:
04 Giải khuyến khích được tài trợ bởi Trung tâm Anh ngữ EnCi: (02 giải cho giải dịch sách văn học, 02 giải cho giải dịch sách kinh tế, mỗi giải là một thẻ học ngoại ngữ tại trung tâm trị giá 500,000 đồng)

04 Giải Khuyến khích được tài trợ bởi Lollybooks Café: (02 giải cho giải dịch sách văn học, 02 giải cho giải dịch sách kinh tế, mỗi giải là một coupon đồ uống trị giá 100,000 đồng)

 

Độc giả tại HN nhận giải thưởng được tài trợ bởi Công ty Alpha Books, Công ty Văn hóa và Truyền Thông Nhã Nam, Nhà sách ngoại văn Bookworn, phần thưởng sẽ đến nhận giải tại showroom của các công ty tại HN.

 

Độc giả tại TP HCM có cơ hội nhận các giải thưởng này qua kênh phân phối sách miền nam của các công ty tại TPHCM. Các bạn ở nước ngoài có thể nhờ người thân đến lĩnh giải. Đối với sách của nhà sách ngoại văn Bookworn, Ban tổ chức sẽ chuyển sách cho các bạn đoạt giải trong miền nam.

Các giải thưởng được tài trợ bởi Trung tâm Anh ngữ ENCI và Lollybooks Café chỉ áp dụng cho các bạn đoạt giải tại Hà Nội.

6. Liên hệ
Đoàn Minh Hằng – Đại diện ban tổ chức cuộc thi
Mobile: 0977.910.727
Email: newpage.club@gmail.com
http://www.facebook.com/Newpage.club
http://www.lollybooks.com
YM: doan_minhhang

(C) alphabooks.vn

Dịch sách thời Công ước Berne

VnExpress (17/7/2006) – Sau gần 2 năm Công ước Berne có hiệu lực tại VN, thị trường sách dịch không vì thế mà nghèo nàn đi. Giao dịch tác quyền trong giới làm sách vẫn diễn ra nhộn nhịp và sôi động. Tình hình đó đã góp phần “nâng cấp” một bộ phận những người có lưng vốn ngoại ngữ tàm tạm thành… “dịch giả”.

Nhưng liệu đó đã phải là những điều kiện cần và đủ để người đọc ngày nay được thưởng thức những tác phẩm dịch thực sự có giá trị?

So với trước đây, dịch giả thời Công ước Berne có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều. Cùng với sự mở rộng giao lưu văn hóa, văn học giữa các quốc gia trên thế giới, độc giả ngày nay được tiếp xúc với nguồn sách ngoại phong phú và đa dạng. Không phải đọc nhiều mới lựa được sách hay, sách ăn khách, giới làm sách bây giờ đã có sự hỗ trợ không nhỏ từ các bảng xếp hạng best-seller nhan nhản trên Internet. Những dịch giả thời toàn cầu hóa còn có lợi thế “ăn đứt” dịch giả lớp trước về mặt thông tin tham khảo và công cụ tra cứu. Nếu như các cụ ngày xưa từng phải mỏi gối chồn chân trong các thư viện vì một từ, một câu thì những người dịch sách ngày nay chỉ việc online và gõ cụm từ mình cần vào Google, cả một thế giới thông tin sẽ rộng mở trước mắt…

Nhưng so với ngày xưa, để rồi lại phải ngậm ngùi: bao giờ cho đến ngày xưa. Tình trạng vàng thau lẫn lộn về chất lượng dịch trên thị trường sách hiện nay đã khiến cho người đọc không khỏi ngần ngại trước ý định bồi bổ vốn tri thức của mình bằng nguồn sách ngoại. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này, trong đó không thể không tính đến trách nhiệm của người dịch sách và sự lỏng lẻo, dễ dãi của chính sách quản lý quá trình xuất bản sách dịch.

Dịch giả nào, giá đó

Trong nhịp sống gấp gáp hiện nay, sách không chỉ là một phương thức giải trí mà còn là một thứ fastfood tri thức có khả năng cung cấp kiến thức nhanh chóng về nhiều lĩnh vực cho độc giả. Người đọc cần đến vô thiên lủng các loại sách, từ sách dạy làm giàu, dạy làm đẹp, dạy bí quyết giữ chồng, nuôi con cho đến những tác phẩm bàn về văn hóa, tôn giáo, khoa học và nghệ thuật. Nhu cầu của độc giả ngày càng cao cộng với sự cởi mở của luật xuất bản mới khiến lượng sách dịch trên thị trường tăng đáng kể. Điều đó đã góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho những người dịch sách. Thanh Hoa – nhân viên một nhà sách chuyên về tác phẩm dịch tại Hà Nội – cho biết: “Đội ngũ dịch giả của chúng tôi phần lớn là sinh viên năm cuối hoặc cựu sinh viên các trường “ngoại”: Ngoại ngữ, Ngoại thương, Ngoại giao. Nhưng cũng có những tác phẩm “khó nhằn”, chúng tôi phải mời đến các dịch giả có nghề hơn”.

Độc giả không thiếu sách dịch, chỉ băn khoăn về chất lượng.
Độc giả không thiếu sách dịch, chỉ băn khoăn về chất lượng. Ảnh: Hoàng Hà

Người dịch nhiều, song không phải tất cả đều được trả công như nhau. Thông thường, các nhà sách, nhà xuất bản căn cứ vào trình độ, tài năng của người dịch để trả công, theo kiểu dịch giả nào, giá đó. Mức giá phổ biến nhất được áp dụng trên thị trường hiện nay là 50.000-60.000 đồng cho 1.000 chữ tiếng Việt. Tuy nhiên, cũng có những người chỉ nhận được 30.000-35.000 đồng cho 1.000 chữ do đã bị ăn chênh lệnh từ những người chuyên bỏ mối, thầu dịch thuật. Bích Phương – cựu sinh viên báo chí, tốt nghiệp văn bằng 2 Đại học Ngoại ngữ – vốn là nhân viên một nhà xuất bản, nhưng do lương bổng quá thấp, cô thường nhận sách dịch thêm. 5 năm trong nghề, Phương trở thành người có “thâm niên”, cô tiếp tục nhận thầu hợp đồng dịch nhưng không dại gì cắm mặt vào chữ nghĩa mà xé lẻ, bỏ mối cho người khác rồi “ngồi nhàn ăn chênh lệch”. Ký 50.000 đồng/ 1.000 chữ tiếng Việt nhưng Phương chỉ thuê sinh viên với mức giá 35.000-40.000 đồng. Khi được hỏi, tại sao lại có mức giá bèo như thế, Phương gật đầu xác nhận: “Sinh viên mà, so với những việc làm thêm khác thì dịch vẫn là một công việc nhàn hạ và sang trọng hơn chứ”. Và để lời nói của mình thêm trọng lượng, cô bổ sung: “Mà đắt hay rẻ là do mánh khóe của người dịch thôi. Tiền công được tính theo chữ tiếng Việt, ai giỏi co kéo ra, người đó được hưởng nhiều hơn. Có những cuốn sách chỉ tầm hai trăm trang tiếng Anh nhưng người ta “bôi” ra được đến tận 4-5 triệu tiền nhuận bút cơ đấy”. “Mách khóe co kéo” đó có thể được coi là một nguyên nhân làm biến dạng các nguyên bản.

Còn với các dịch giả có tay nghề, con số này có thể dao động trong khoảng 80.000-100.000 đồng cho 1.000 chữ tiếng Việt hoặc 70.000- 80.000 đồng mỗi trang A4. Thanh Hoa cho biết: “Thực ra nếu thuê được các dịch giả đã quen nghề, chúng tôi sẽ yên tâm hơn về bản dịch, công việc biên tập bớt vất vả đi, nhưng trong những trường hợp có thể, sử dụng nguồn “nhân lực không chuyên” vẫn hay hơn”. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự lựa chọn này, trong đó, giá cả chỉ là một lý do nhỏ. Thuê mướn các dịch giả không chuyên, các nhà sách ít phải chịu nghe những đòi hỏi, kỳ kèo về giá cả, chế độ. Hơn nữa, nếu bản dịch có vấn đề gì cũng dễ dàng kêu ca, chê trách hơn mà không sợ bị cự nự, giận dỗi. Một nguyên nhân tế nhị khác, được Hoa tiết lộ: “Cũng chẳng ai dám cam đoan là các dịch giả có tiếng lại không thuê mướn người khác dịch rồi đứng tên mình vào đó. Chi bằng cứ thuê những cộng tác viên bình thường rồi đầu tư thêm vào “phần hậu kỳ” cho cuốn sách”.

Bảng giá thù lao dành cho người dịch còn được căn cứ theo từng loại sách. Phương cho biết: “Những loại sách thông thường, đặc biệt là nhóm sách bí quyết: làm đẹp, giao tiếp, làm giàu thường có giá công rẻ. Sách mang hơi hướng triết học, tôn giáo, tác phẩm văn học… tất nhiên được trả thù lao cao hơn. Tuy nhiên, nhiều khi tiền công dành cho người dịch còn phụ thuộc vào việc bản dịch sẽ đứng tên mình hay tên người khác. Nếu để đứng tên người khác, mức giá có thể lên rất cao”. Khi được hỏi, cụ thể là cao như thế nào, cô chỉ tiết lộ: “Cũng tuỳ, theo thoả thuận”.

Bộ sách ngoại văn sắp được dịch ra tiếng Việt.
Bộ sách ngoại văn sắp được dịch ra tiếng Việt. Ảnh: A.V.

Dịch – hiệu đính và biên tập

Sau khi bản dịch được hoàn thành, nhà sách sẽ tiếp tục triển khai hiệu đính và biên tập. Đây có thể được coi là công việc “hậu kỳ” trong quá trình chuyển ngữ một cuốn sách. Hiện nay, nhiều nhà sách tỏ ra khá năng động, nhạy bén và chuyên nghiệp. Họ bao thầu tất cả các khâu, từ mua bản quyền đến tổ chức dịch và biên tập. Nhà xuất bản chỉ còn là đơn vị ký giấy ăn tiền. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu tất cả các khâu trong quá trình trên được thực hiện một cách nghiêm ngặt và có tính khoa học. Tuy nhiên, để khai thác tối đa lợi nhuận bằng cách giảm giá thành “sản xuất”, các nhà sách đã thuê nhân lực rẻ, sản sinh ra những bản dịch ẩu rồi “tút tát” lại nhằm qua mắt khâu kiểm duyệt. Thực tế, các dịch giả uy tín thường không thích thú gì với vai trò hiệu đính. Vì công việc hiệu đính bắt buộc phải đọc lại bản gốc và chỉnh sửa những lỗi nhiều khi rất ngô nghê, bực mình với tiền công chẳng nhiều nhặn gì (thường chỉ khoảng 10.000-15.000 đồng mỗi 1.000 chữ tiếng Việt). Thế nên khâu hiệu đính thường do bản thân các nhân viên nhà sách – những người không biết hoặc rất bập bõm về chính ngôn ngữ gốc của tác phẩm – kiêm nhiệm. Mà hiệu đính cũng chỉ được thực hiện với những chương, đoạn mà các nhà xuất bản chưa thông qua vì “có vấn đề” gì đó. Công việc của người hiệu đính là làm sao để biên tập viên nhà xuất bản không còn thắc mắc gì về những “vấn đề” đó nữa, mà như thế thì có nhiều cách, không cứ phải đối chiếu và chỉnh sửa theo nguyên bản.

Kiều Anh, một sinh viên văn vừa ra trường, kể: “Tôi có chị bạn làm cho một nhà sách. Khi tôi chưa có việc làm, chị thường mang về những tập bản thảo, nhờ tôi đọc và tuốt chỉnh lại cho câu văn mềm mại và dễ hiểu hơn. Có những câu tôi cũng không hiểu lắm nên đành đoan đoán, sửa lại theo ý mình vậy”. Đến đây, người dịch và người biên tập quả thật đã có công “đồng sáng tạo” với tác giả nhưng không ai đảm bảo được sự đồng sáng tạo cùng chung một ý tưởng.

Long đong công sá, hợp đồng

Không ít dịch giả chuyên nghiệp than thở, họ không sống được bằng nghề do thù lao dịch thuật quá thấp. Dịch giả Nguyễn Liên từng tâm sự, khi bỏ công dịch một truyện ngắn dày chừng 200-300 trang trong vòng 1-2 tháng, có khi ông chỉ được bỏ túi khoảng 3 triệu đồng (tính theo 10% giá bìa và lượng sách phát hành) – một con số quá khiêm tốn so với tiền công dịch tài liệu, dự án cho các công ty. Thù lao thấp cho dịch giả xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không kể đến sự dễ dãi trong việc kiểm duyệt chất lượng bản dịch, tạo điều kiện cho đội ngũ dịch giả không chuyên bùng phát. Ỷ thế vào lượng cộng tác viên dồi dào, sẵn sàng nhận dịch với những mức giá mềm, không ít nhà sách mặc cả, kỳ kèo với khối lượng tri thức, vốn ngoại ngữ, văn hoá và lòng yêu nghề của các dịch giả chuyên nghiệp.

Bản thân những người coi dịch sách là nghề tay trái nhưng tận tuỵ và tâm huyết với nghề cũng không được trả công xứng đáng. Đấy là chưa kể lượng nhuận bút mà họ nhận được thường bị thanh toán nhỏ giọt, xé lẻ thành nhiều đợt. Tình trạng trả chậm, trả không đầy đủ là chuyện thường tình. Nhuận bút đã thấp lại càng dễ bay hơi theo cách đó.

Còn với những dịch giả – sinh viên, họ thường nhận sách từ bạn bè, người quen nên chẳng mấy khi ký kết hợp đồng. Tất cả đều được cam kết bằng miệng. Thực tế cũng chỉ có một vài nhà sách hiện nay thực hiện việc ký hợp đồng đàng hoàng với dịch giả. Mai Anh – biên tập viên một nhà sách ngoại văn – cho biết: “Thực ra, tình trạng vỡ hợp đồng cũng rất ít khi xảy ra, vì một khi đã bỏ từ 500 đến 1.000 USD mua bản quyền, bằng cách gì các nhà sách cũng lo cho được giấy phép xuất bản”. Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp dở khóc dở cười. Hoàng Anh (quận Cầu Giấy) kể: “Trong những ngày còn ngồi chờ việc, mình nhận dịch một số tài liệu tiếng Trung cho một người bạn với giá chỉ 25.000 đồng cho 1.000 chữ tiếng Việt. Dịch xong, không hiểu vì lý do gì sách không ra được. Lúc đó, bạn bè với nhau, chẳng lẽ lại bắt đền. Đành tặc lưỡi, coi như là một dịp văn ôn chữ luyện vậy”.

Công ước Berne có hiệu lực tại Việt Nam mới gần 2 năm và độc giả chưa bao giờ thôi khát khao được thưởng thức những tác phẩm dịch có chất lượng. Đó chính là những điều kiện cần để có một thị trường văn học dịch bổ ích với công chúng, những yếu tố còn lại phụ thuộc vào đội ngũ dịch giả và giới làm sách Việt Nam.

Lưu Hà

(vnexpress.net)