Archive for the 'Vietnamese People' Category

Tiến sĩ 1 USD

Dr. Nguyen Ba Hai, Biorobotics

Hochiminh University of Technical Education

http://bahai.hocdelam.org/en/

***

 

Tiền Phong – Từ chối làm việc tại các tập đoàn lớn của Hàn Quốc với mức lương khủng, Tiến sĩ (TS) Nguyễn Bá Hải (SN 1983) trở về nước truyền thụ kiến thức cho giới trẻ với mức học phí… 1 đô la/khóa học.

 

Nguyễn Bá Hải (giữa)

Nguyễn Bá Hải nhận bằng TS trước thời hạn ở tuổi 28 chuyên ngành biorobotics (robot sinh học) tại Hàn Quốc với bằng khen và giải thưởng Đề tài TS tốt nhất của trường trong khóa tốt nghiệp.

Trước đó, Bá Hải được cấp 4 bằng phát minh, sáng chế quốc tế, trong đó 3 bằng được ứng dụng thực tế từ luận văn thạc sỹ xuất sắc 100/100 điểm, được tập đoàn ô tô Hyundai cấp học bổng 50.000 USD, công bố nhiều công trình nghiên cứu tại hiệp hội kỹ sư điện – điện tử Hoa Kỳ và các hội thảo quốc tế uy tín khác. Lý lịch khoa học trích ngang của Hải khiến không ít người choáng.

Càng bất ngờ hơn, chàng TS trẻ từ chối lời mời làm việc tại một Cty sản xuất ô tô lớn của Hàn Quốc với mức lương khủng để về quê nhà, truyền kiến thức và ngọn lửa đam mê cho thế hệ trẻ.

“Khi đậu vào khoa cơ khí động lực trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM, vì gia đình khó khăn nên mình phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Từ bán sách báo cũ, dạy kèm, dịch thuật cho đến hàn điện, phụ bàn, bán đồng hồ, mắt kính dạo”, Bá Hải tâm sự.

Về lại chính ngôi trường từng học Đại học, TS Hải cùng các giáo viên tâm huyết xây dựng ngành học nghiên cứu chuyên sâu về ô tô, là ngành mà sinh viên Việt Nam ít có cơ hội tiếp cận.

Để kêu gọi các bạn trẻ đam mê cơ khí, kỹ thuật theo học, cập nhật kiến thức mới, Bá Hải sáng lập Khóa học 1 đô la, dạy về LabView (ngôn ngữ lập trình đồ họa trực quan).

Theo Bá Hải, nếu tổ chức dạy miễn phí, các bạn sẽ thờ ơ mà không nhiệt tình tham gia nghiêm túc. “Con số 1 đô la chỉ là tượng trưng. Giới trẻ Việt Nam ham học, nhưng điều kiện khó khăn khiến các bạn không có cơ hội tiếp cận với kiến thức mới”, Bá Hải cho biết.

Với LabView, Bá Hải (hiện là Trưởng phòng thí nghiệm Cơ điện tử ô tô – Đại học Sư phạm kỹ thuật TPHCM) đã sáng chế ra nhiều sản phẩm như xe quân sự điều khiển từ xa, robot chó Rudo biết giữ nhà, Steer by wire (lái không trục lái) cho ô tô…

Bá Hải còn nổi tiếng với bộ thí nghiệm đa năng HDL-9000 trong ô tô, cơ điện tử và điều khiển học với giá chỉ 1.000 USD, trong khi giá sản phẩm tương tự nước ngoài bán 10.000 USD. Vừa rồi, sản phẩm Chiếc nón kỳ diệu giành cho người khiếm thị được Nguyễn Bá Hải sáng chế ra mắt thành công.

Bá Hải cho biết, Khóa học 1 đô la giới thiệu cho bạn trẻ các ứng dụng trong ngành kỹ thuật thông qua video về các thiết bị, hệ thống trong kỹ thuật và tương tác tại phòng thí nghiệm, nhà máy thực tế.

“Nắm được kiến thức tổng quan về một hệ thống cơ điện tử, biết lập trình LabView căn bản và thu thập tín hiệu từ cảm biến vào máy tính là nền móng vững chắc mà khóa học mong muốn đưa đến cho các bạn trẻ yêu kỹ thuật”, TS Hải chia sẻ.

Hiện có hơn 500 bạn trẻ được đào tạo trong Khóa học 1 đô la. Tiến sỹ 1 đô la không chỉ mang khóa học đến với sinh viên các trường ở TPHCM mà còn ở nhiều tỉnh thành khác…

 

  • Lê Quang Minh (Tiền Phong)

(C) tienphong.vn

GS Lê Kim Truyền: Một đời, một nghề với cả tấm lòng

Hội Thủy Lợi VN – Quả thực, tôi có ý định viết về Giáo sư, Tiến sỹ, Nhà giáo Nhân dân Lê Kim Truyền từ lâu nhưng không thể gặp được ông để khai thác tư liệu. Gặp thầy Truyền để bàn công việc, trao đổi về khoa học hay chuyện vui thì dễ, nhưng để viết về ông thì khó. Ông thường bảo:” Nói về mình rất ngại, mà thật ra cả cuộc đời dạy học của mình chỉ là làm theo lương tâm và trách nhiệm, ai cũng có thể làm được.” Tôi không nghĩ ai cũng có thể làm được như ông. Bởi vậỵ, ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một con người khiêm nhường, đôn hậu. Và, tôi đã gặp được con người âý vào một chiều đầu mùa hạ, sau nhiều lần lỡ hẹn.


Căn phòng làm việc của ông ở trong khu cao học, Trường Đại học Thuỷ lợi. Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi, đã nghỉ công tác quản lý từ mấy năm nay nhưng nhà trường vẫn dành cho ông một phòng làm việc tiện lợi. Mặc dù đã hẹn trước nhưng lúc tôi đến ông vẫn đang say sưa hướng dẫn mấy học viên cao học, có vẻ như quên cuộc hẹn với tôi. Ông bảo tôi chờ ông độ dăm phút, nhưng rồi hai mươi phút, nửa tiếng sau tôi mới gặp được ông. Ông cười xoà, nói tôi thông cảm cho thày trò ông. Dẫu vậy, tôi không hề tự  ái mà vẫn vui, chợt hiểu thêm một góc nhỏ trong con người Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền…

Quê ông ở làng Hổ Đàm, xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hoá (Thanh Hoá). Đó là một làng nhỏ bên dòng sông Chu thơ mộng, man mác điệu hò xứ Thanh. Thiệu Hoá quê ông tôi đã từng qua lại công tác gần hai mươi năm nay nên rất hiểu và nặng lòng với vùng đất thân thương ấy. Đó là một vùng quê nghèo nhưng có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá và cách mạng. Nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều bậc khai quốc công thần, nhà yêu nước, nhà sử  học như: Dương Đình Nghệ, Đinh Lễ, Nguyễn Quán Nho, Lê Văn Hưu, Lê Công Thanh .v.v. đều từ quê hương của người Việt cổ này sinh ra. Và cũng từ vùng quê núi Đọ, ông sinh ra và lớn lên theo dòng họ Lê Kim. Theo gia phả dòng họ Lê Kim để lại, cụ tổ là Lê Kim Thắng, tự là Phúc Bản phủ quân, theo nghiệp nhà binh dưới triều Lê, được bổ nhiệm đến chức Thiên Tổng tri, là một người yêu nước, có chí lớn.

 

Vác gạo đi học (GS Lê Kim Truyền thứ hai từ phải sang)

Xuất thân từ một gia đình nông dân, Lê Kim Truyền may mắn có được một người mẹ hiền lành, tảo tần, hết mực thương chồng con và một người cha mẫu mực, có tư tưởng tiến bộ và chí tiến thủ từ rất sớm. Cả hai cụ đều được kết nạp vào Đảng CSVN từ trước năm 1950. Sống trong một gia đình nề nếp, có truyền thống hiếu học nên ngay từ nhỏ, chàng thiếu niên Lê Kim Truyền đã có ý thức vượt khó vươn lên. Ngay từ hồi học cấp 2, Lê Kim Truyền đã phải đi bộ hàng chục cây số mỗi ngày để đi học. Buổi sáng thường phải dậy từ 4 giờ. Đường đến  trường gập ghềnh, qua đò sông Chu, biết bao khó khăn, vất vả nhưng cậu trò nhỏ Lê Kim Truyền vẫn không hề nản. Như bao đứa trẻ nông thôn khác, tuổi thơ của Lê Kim Truyền thật nhọc nhằn bên mái tranh nghèo nhưng đầy ắp những kỷ niệm mộng mơ dưới mái đình làng, bên hồ sen ngát hương, quấn quýt suốt một thời chăn trâu cắt cỏ. Buổi sáng đi học, chiều về ra hồ lấy rong bèo nuôi lợn, mò cua bắt ốc, đêm lại đi thả câu bắt cá giúp đỡ bố mẹ, nhưng Lê Kim Truyền vẫn học rất giỏi. Thời còn học phổ thông, mặc dù khó khăn, thiếu thốn nhưng năm nào Lê Kim Truyền cũng đạt học sinh giỏi. Ham học và học giỏi là thế nhưng cũng có lúc Lê Kim Truyền định rẽ ngang, bỏ dở học hành để đi làm. Ây là năm vừa tốt nghiệp cấp 2, Lê Kim Truyền định không học tiếp lên cấp 3 nữa mà quay sang học nghề để đi làm sớm. Tôi hỏi vì sao lúc đó ông lại có ý định như vậy. Giáo sư Lê Kim Truyền rơm rớm nước mắt khiến tôi không khỏi xúc động. Ông bảo: “Lúc đó mình chỉ nghĩ đến mẹ, thương mẹ vô cùng. Bố thì đi công tác xa biền biệt, mình mẹ phải quằn lưng để nuôi 5 anh em ăn học nên mình muốn đi làm sớm để đỡ gánh nặng cho gia đình”. Nhưng được bố mẹ động viên, anh chị em xúm tay vào gánh vác, Lê Kim Truyền tiếp tục con đường học hành. Trường cấp 3 Thọ Xuân – “cái nôi” đầu đời của nhiều thế hệ các nhà khoa học, nhà giáo xứ Thanh, trong đó có Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền, đã ru ông bằng điệu hò sông Chu sông Mã, đã mở đường cho ông đến với Trường Đại học Thuỷ lợi mà sau này, suốt cả cuộc đời ông đã gắn bó sâu nặng, với niềm vui và cả nỗi ưu tư theo dòng đời nhà giáo.

 

Có một sự tình cờ đầy thú vị trong cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền là năm ông học lớp 10 (hệ 10/10). Lúc đó quê ông vừa hoàn thành trạm thuỷ điện Bàn Thạch trên Hệ thống thuỷ nông sông Chu do Liên Xô giúp ta xây dựng. Một lần, nhà trường tổ chức đi tham quan thuỷ điện Bàn Thạch, ông thích quá, mê mải ngắm công trình không muốn về, cứ nằng nặc đòi ở lại với các chú công nhân vận hành nhà máy đến nỗi suýt bị lớp kỷ luật. Ước mơ trở thành kỹ sư thuỷ lợi – thuỷ điện đã nung nấu trong lòng Lê Kim Truyền từ đó, giúp ông có thêm sức mạnh vượt qua kỳ thi Đại học năm 1964, đỗ vào khoá 6 Trường Đại học Thuỷ lợi một cách dễ dàng. Nhớ lại những ngày đầu vào Trường, nhiều bạn bè của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền vẫn còn nhớ mãi hình ảnh người bạn học xứ Thanh nhỏ bé ( lúc đó ông chỉ nặng 37 kg), có giọng nói ” nghe vui tai” nhưng rất nhanh nhẹn, tận tình với mọi người. Năm năm dưới mái trường Đại học Thuỷ lợi, lúc học ở Hà Nội, lúc phải đi sơ tán lên tận Lục Nam (Bắc Giang), ăn sắn thay cơm, vui với núi rừng, muôn vàn gian khó nhưng chàng sinh viên Lê Kim Truyền đã vượt qua tất cả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập của mình, được nhà trường giữ lại làm công tác giảng dạy tại Bộ môn thi công. Về Trường từ giữa năm 1969, sau đó ông được Bộ Thuỷ lợi cũ huy động tăng cường cho Uỷ ban trị thuỷ sông Hồng đi quy hoạch thuỷ lợi vùng sông Mực, Yên Mỹ (Thanh Hoá). Chỉ sau gần một năm đi quy hoạch công trình thuỷ lợi, thày giáo trẻ Lê Kim Truyền đã nắm được nhiều vấn đề thực tiễn, bổ sung cho kiến thức đã học, tự tin bước lên bục giảng. Là một trong 6 sinh viên của K6 tốt nghiệp được về Bộ môn thi công giảng dạy từ đầu năm 1970. nhờ có lòng yêu nghề, ham học hỏi, chịu khó, Lê Kim Truyền sớm phát huy được tài năng, kiến thức của mình. Không phải ngẫu nhiên mà một giáo viên trẻ vừa ra trường chưa đầy 2 năm đã được nhà trường giao cho hướng dẫn tốt nghiệp cho 10 sinh viên khoá 8 ( khoá thi công đầu tiên của Trường Đại học Thuỷ lợi). Trong 10 sinh viên đầu tiên do thày Lê Kim Truyền hướng dẫn tốt nghiệp ấy thì có hai người sau này trở thành Phó GS, Tiến sỹ -  Đó là PGS, TS Bùi Văn Vịnh và PGS, TS Nguyễn Văn Huân. Tôi đã gặp nhiều người trong lớp sinh viên năm xưa ấy của thày giáo Lê Kim Truyền. Bao nhiêu năm qua. họ vẫn rất nhớ thầy Truyền với tất cả lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc xen trong niềm cảm phục về đức độ, tài năng và nhiệt huyết của người thầy. Họ không bao giờ quên những ngày đói ăn, những đêm thiếu ngủ nhưng thày Lê Kim Truyền vẫn tận tình, say sưa hướng dẫn sinh viên làm đồ án tốt nghiệp, gần gũi với sinh viên như những người thân trong gia đình.

Gắn bó với mái trường Đại học Thuỷ lợi, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền có thâm niên giảng dạy gần 40 năm. Gần bốn mươi năm qua, hầu như ông thường xuyên đứng trên bục giảng và chuyên giảng dạy các lớp ngành công trình. Ông tâm niệm: Đã đứng trên bục giảng thì phải hết lòng thương yêu sinh viên, làm hết trách nhiệm của người thày, làm tròn bổn phận của người đi trước với người đi sau. Và ông đã thực hiện trọn vẹn điều tâm niệm đó trong suốt quãng đời nhà giáo của mình. Từ năm 2005 đến nay ông luôn có số giờ lên lớp vượt quy định từ 150% – 170%, hướng dẫn tốt nghiẹp cho hơn 100 sinh viên, trong đó có 1 sinh viên đạt giải Loa Thành năm 2005. Ngoài ra, ông cũng hướng dẫn được 16 sinh viên nghiên cứu khoa học đạt giải cấp trường. Về đào tạo bậc sau đại học, trong những năm qua, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền đã hướng dẫn được 6 nghiên cứu sinh và 18 học viên cao học. Nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học được ông hướng dẫn, giúp đỡ trở thành tién sỹ, thạc sỹ không dấu nổi xúc động trước lòng nhiệt tình, tâm huyết với nghề, thanh cao với đời của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền.

 

 

Cùng GS Vũ Trọng Hồng tham dự Hội thảo về phát triển vùng

đồng bằng tại Hà Lan năm 1998

Cùng với công tác đào tạo, lấy đào tạo làm nhiệm vụ trọng tâm, làm “chân trụ”, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền cũng là người rất say mê nghiên cứu khoa học. Ông đã tham gia hàng chục đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở.  Chỉ tính từ năm 2003 trở lại đây, ông đã chủ trì và tham gia nhiều đề tài có giá trị khoa học và tính thực tiễn cao như các đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn điều hành cấp nước mùa cạn cho đồng bằng sông Hồng”, “Nghiên cứu cơ sở thực tiễn quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Ba”, “Đánh giá thực trạng và lập bản đồ phân vùng hạn 5 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên”, “Nghiên cứu xác định khẩu độ thoát lũ hợp lý của các công trình giao thông, thuỷ lợi trên Quốc lộ 1A thuộc lưu vực sông Thu Bồn”.v.v.Ngoài ra, ông cũng đã làm chủ nhiệm và tham gia nhiều dự án đầu tư phục vụ sản xuất như: Lập Báo cáo cơ sở, Thiết kế kỹ thuật Hồ Suối Mỡ (Bắc Giang); lập Dự án đầu tư, TKKT Hệ thống tiêu úng Cầu Khải; nâng cấp trạm bơm Bắc sông Mã; dự án đê kè Thiệu Hoá ( Thanh Hoá).v.v. Đọc hàng loạt các đề tài khoa học, dự án mà ông đã thực hiện, tôi không thể hình dung ra sức làm việc bền bỉ, cần mẫn đến “phi thường” của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền. Tôi cứ nghĩ, nếu chỉ vì miếng cơm manh áo mà không có lòng say mê, tâm huyết với nghề, với đời thì làm sao có thể có được thành quả lao động sáng tạo lớn lao như thế! Lần giở lại thời gian hơn ba mươi năm về trước, năm 1972, trong một đợt đưa Đoàn sinh viên 10T đi thực tập ở công trường Đồng Mô – Ngải Sơn, thày giáo trẻ Lê Kim Truyền đã cùng với thầy Hồ Sỹ Minh “liều mạng” nhận thực hiện trọn gói thiết kế, thi công một cống luồn qua kênh để …lấy tiền liên hoan, được bên A và Ban chỉ huy công trường khen ngợi, đánh giá chất lượng và tiến độ tốt. Có lẽ lòng say mê nghiên cứu khoa học, thâm nhập vào tư vấn thiết kế, thi công của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền bắt đầu từ đó. Sau “điểm mốc” ấy, vừa say mê giảng dạy, Lê Kim Truyền vừa tích cực tham gia thiết kế, thi công hàng loạt các công trình khác, được các chủ đầu tư và đồng nghiệp đánh giá cao như: Thiết kế và tổ chức thi công nổ mìn buồng đào móng tràn Núi Cốc; tư vấn thiết kế Hồ Chiến Thắng, đập Đa Đờn…

Trong cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền, có một người luôn là “điểm tựa” của ông, được ông hết mực tin yêu – đó là vợ ông, bà Nguyễn Thị Bắc,  nguyên là sinh viên lớp 11C ngành công trình. Tôi biết bà Bắc đã lâu, bởi tôi vẫn thường xuyên qua lại làm việc với Tổng công ty Tư vấn XDTL Việt Nam – nơi bà Bắc đã gắn bó cả đời công tác đến khi nghỉ hưu. Bà Bắc người làng Dịch Vọng, ngoại thành Hà Nội. Hồi còn học ở lớp 11C, Bắc có tiếng là cô gái Hà Nội dịu dàng, nết na, say mê học hành. Đặc biệt, Bắc có nước da trắng, mái tóc đen và rất dài như cô thiếu nữ trong tranh của hoạ sỹ Nguyễn Phan Chánh. Có lẽ thày giáo trẻ xứ Thanh Lê Kim Truyền mê đắm cô sinh viên Hà Nội, trước hết ở mái tóc dài và dáng điệu thướt tha ấy. Tôi hỏi, thày Truyền mỉm cười ý nhị công nhận điều đó. Ông nói rằng, cho đến bây giờ ông vẫn còn nhớ mãi những buổi hoàng hôn thành phố đứng bên cửa sổ đầu hồi tầng 2 nhà số 6 nhìn xuống sân trường, ngắm người đẹp  thướt tha đi qua mà lòng ngơ ngẩn. Ba mươi lăm năm qua, gắn bó sâu nặng với Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền, bà Bắc luôn là người vợ tảo tần, thuỷ chung, là chỗ dựa vững chắc cho ông trong cuộc đời và sự nghiệp.

 

Vợ chồng GS. Lê Kim Truyền thời trẻ

Gia đình GS Lê Kim Truyền 1985

Nhiều năm làm công tác quản lý xây dựng cơ bản ở Bộ Nông nghiệp và PTNT, tôi càng hiểu hơn một Lê Kim Truyền từ những năm ông vừa đi Nghiên cứu sinh ở Nga về, rồi làm Trưởng Ban Quản lý công trình của Trường Đại học Thuỷ lợi. Những năm 90 của thế kỷ trước, cơ sở vật chất của Nhà trường còn rất khó khăn, nếu không nói là tồi tệ. Lê Kim truyền rất day dứt, rất khổ tâm về điều đó. Tôi nhớ có lần ông tâm sự với tôi: ” Lúc này, mình băn khoăn nhất, cảm thấy day dứt nhất là điều kiện ăn ở, học tập của sinh viên. Mình muốn làm một điều gì đó để cải thiện, để thay đổi điều kiện sống và làm việc của sinh viên và cán bộ, giáo viên trong trường”. Niềm day dứt đó đã giúp ông có thêm quyết tâm cùng tập thể Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường xây dựng, cải tạo hệ thống điện nước, nhà ở , quy hoạch khu giảng đường, ký túc xá sinh viên, khu giáo dục thể chất.v.v. Từ cuối năm 1994, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền được bổ nhiệm chức Hiệu phó Trường Đại học Thuỷ lợi, đến năm 2000 ông được tín nhiều bầu làm Hiệu trưởng Nhà trường và giữ chức vụ đó cho đến năm 2005. Theo tôi biết, đó là quãng thời gian Trường Đại học Thuỷ lợi gặp rất nhiều khó khăn nhưng đã cố gắng vươn lên, tiếp tục bứt lên trên con đường đổi mới. Từ khi giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Nhà trường, đặc biệt trong 5 năm làm Hiệu trưởng, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền càng nhận rõ trọng trách lớn lao của mình đối với việc xây dựng Chiến lược phát triển của Nhà trường. Mong ước trong thời gian tới phấn đấu đưa Trường Đại học Thuỷ lợi trở thành một trong những truờng đại học hàng đầu của nước ta, đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học có chất lượng cao…là nỗi trăn trở khôn nguôi đối với Thầy Truyền. Với cương vị là người đứng đầu Nhà trường, trong những năm đầu thế kỷ 21, Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền có vai trò to lớn trong việc đề ra chủ trương và động viên, tập hợp lực lượng cán bộ, giáo viên trong Trường tiếp tục đẩy mạnh cải cách giáo dục, thiết kế lại hệ thống ngành học, tổ chức lại quá trình đào tạo theo xu hướng mới phù hợp với yêu cầu chung và thực tiễn. Bản thân ông đã đề ra cải cách chương trình đào tạo từ 287-289 trình xuống 270 trình, được dư luận hoan nghênh. Ông cũng rất tâm huyết, thường xuyên chú trọng đến việc nâng cao chất lượng giáo trình, chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên. Là một trong những đơn vị đầu tiên nhận khoán lương theo Nghị định 10, Thầy Lê Kim Truyền là người góp công sức lớn trong việc cải thiện đời sống của cán bộ, giáo viên, đặc biệt đối với những người lương thấp. Xuất thân từ một gia đình nông dân  nghèo xứ Thanh, ông càng hiểu hơn và cảm thông, quan tâm nhiều đến đời sống của sinh viên. Ông không nói nhiều nhưng tôi biết, trong những năm qua, đặc biệt là trong 5 năm làm Hiệu trưởng, thầy Lê Kim Truyền đã dành nhiều thời gian, công sức, có lúc quên ăn, nhiều đêm thiếu ngủ để chăm lo nơi ăn chốn ở, điều kiện học hành của sinh viên… Bây giờ, mỗi khi có dịp ghé thăm trường cũ, tôi không khỏi xúc động trước những cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, trước nếp nghĩ và cách làm mới của trường, trong lòng thầm cảm ơn các thế hệ lãnh đạo Nhà trường, trong đó có thầy Lê Kim Truyền – người đã góp phần không nhỏ để đem lại gương mặt mới, gắn thương hiệu cho Trường Đại học Thuỷ lợi.
Là một nhà giáo lâu năm, tâm huyết với nghề, với đời, mặc dù đã về hưu nhưng Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền vẫn say mê giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ngoài việc tham gia giảng dạy, hướng dẫn tốt nghiệp cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, ông vẫn dành thời gian tham gia nghiên cứu khoa học, tham gia tích cực trong Hội Thuỷ lợi Việt Nam, Hội Đập lớn Việt Nam. Ông bảo: Tuy đã nghỉ hưu nhưng sức vẫn còn khoẻ, trí óc còn minh mẫn lắm; hơn nữa công việc, nghề nghiệp đã gắn chặt vào cuộc đời, đã ngấm vào máu rồi nên vẫn muốn làm việc. Tôi hiểu điều đó. Nhưng giờ đây, ở cái tuổi ngoài sáu mươi thì sự bình an và hạnh phúc gia đình có lẽ là một điều rất đỗi thiêng liêng, hết sức ngọt ngào đối với ông ?

 

Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Lê Huy Ngọ trao Huy hiệu NGƯT cho

GS Lê Kim Truyền

Ghi nhận quá trình phấn đấu, thành tích, sự cống hiến của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trong những năm gần đây ông đã được Nhà nước phong Giáo sư (năm 2004), tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba (năm 2004), phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (năm 2006); Thủ tướng Chính phủ công nhận danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc (năm 2005)…Đó là những phần thưởng vô cùng quý giá. Nhưng đối với ông, trong sâu thẳm trái tim mình, điều làm ông mãn nguyện nữa là được đóng góp tất cả sức lực, trí tuệ, tâm huyết của mình cho sự nghiệp “trồng người”, cho mái trường Đại họcThuỷ lợi mà ông đã lựa chọn từ thời trai trẻ…

Thực tình, tôi không muốn nói thêm nhiều về thành tích, sự cống hiến của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền đối với Nhà trường, bởi chính những danh hiệu cao quý mà Nhà nước phong tặng cho ông đã nói nên tất cả; và cũng bởi chính những bậc tiền nhiệm, những đồng nghiệp luôn đi bên ông trong suốt chặng đường dài đầy khó khăn  như  GS.TS Nguyễn Xuân Bảo, GS.TS Phạm Hồng Giang, GS.TS Ngô Trí Viềng, GS.TS Vũ Trọng Hồng, GS.TS Đào Xuân Học, PGS.TS Nguyễn Phương Mậu v.v.đã giúp ông rất nhiều trong sự nghiệp và đời thường. Họ cũng như ông, rất xứng đáng được ghi tên mình trong lịch sử 50 năm thành lập Trường Đại học Thuỷ lợi…Nhắc đến Giáo sư, Tiến sỹ Lê Kim Truyền, đọng lại trong tôi là hình ảnh một người thầy đã đi suốt cuộc đời, làm trọn sứ mệnh cao quý của một nhà giáo, nhà khoa học bằng chính đôi chân, khối óc, với cả trái tim và tấm lòng rộng mở của mình.

GS Lê Kim Truyền và tác giả bài viết

 

Hà Quang

(Hội Thủy lợi Việt Nam)

(C)  50nam.wru.edu.vn

Lần đầu tiên, Việt Nam giành chiến thắng lớn tại ISEF

(Dân trí) – Đội Việt Nam vừa bất ngờ đoạt giải Nhất lĩnh vực Vật liệu và Kỹ sinh học tại ISEF 2012, sau khi “tịt ngòi” ở các giải thưởng phụ. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đoạt giải, và lại là giải nhất, đem lại cảm xúc dâng trào.

Đội Việt Nam đeo huy hiệu dành cho những người đoạt giải nhất

Có thể nói đội Việt Nam gồm các em Trần Bách Trung, Bùi Thị Quỳnh Trang và Vũ Anh Vinh đã tạo nên bất ngờ lớn và làm nên kỳ tích, bởi mặc dù không đoạt giải phụ nào nhưng đã giành giải Nhất trong lĩnh vực mình dự thi.

 

Trước đó, tại lễ trao các giải đặc biệt của ISEF 2012 do các cơ quan chính phủ các nước, các tổ chức, hiệp hội, các doanh nghiệp… trao tặng vào tối 17/5 (giờ địa phương, tức sáng 18/5 giờ Hà Nội), đội Việt Nam không nhận được giải nào và tưởng chừng sẽ phải ra về tay trắng. Nhưng tại lễ trao giải chính thức, diễn ra vào sáng 18/5 (giờ địa phương, tức tối 18/5 giờ Hà Nội), các em đã trở thành những thí sinh trong nước đầu tiên bước lên bục vinh quang của ISEF.

 

Vượt qua rất nhiều đối thủ nặng ký đến từ khắp các châu lục, đội Việt Namđã được chọn trao giải Nhất của lĩnh vực Vật liệu và Kỹ sinh học. Trong số 17 lĩnh vực của ISEF, mỗi lĩnh vực có từ 2-3 giải Nhất, mỗi giải trị giá 3.000 USD. Sau đó, Ban Giám khảo lại chọn trong số 2-3 giải này để trao tiếp giải đặc biệt trị giá 5.000 USD của lĩnh vực đó. Ở hạng mục này thì đội ViệtNam đã phải nhường bước cho một đối thủ của Mỹ.
Lễ trao giải ISEF 2012 vừa kết thúc, đội Việt Nam (khu vực giữa, hàng trên) lên nhận giải nhất trên sân khấu chính

 

Chia sẻ sau khi đoạt giải, cả 3 thí sinh Việt Nam đều bày tỏ sự xúc động và niềm tự hào mãnh liệt. Trung cho biết, các em sẽ sử dụng giải thưởng này để tiếp tục công cuộc nghiên cứu. Còn Vinh thì nói, sau khi về Việt Nam thì việc đầu tiên cần làm sẽ là “ngủ một giấc thật đã”. Quả thực, sự căng thẳng và mệt mỏi luôn thường trực trên nét mặt các em suốt mấy ngày qua. Nhưng ngay sau khi giải thưởng được công bố, hẳn là những mệt nhọc đó đã “bay” đi khá nhiều.

 

Bà Nguyễn Thị Thu Hoài, chuyên viên Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội, người luôn theo sát nhóm thí sinh Việt Nam, rạng rỡ nói: “Lần đầu tiên đoàn Việt Nam đoạt giải tại ISEF mà lại đoạt giải cao, tôi xúc động quá. Từ hôm qua tới giờ cả đoàn thấp thỏm, mong được giải phụ là mừng lắm rồi nhưng không có, hôm nay nhìn giải tư, rồi giải ba, giải nhì trôi qua, đã nghĩ hết hy vọng, nhưng khi nghe “Hà Nội – Việt Nam” xướng lên ở phần Giải Nhất thì cả đoàn suýt “rụng tim”, vỡ òa vì vui sướng”.
Nhóm học sinh Việt Nam (từ trái qua: Bùi Thị Quỳnh Trang, Vũ Anh Vinh, Trần Bách Trung) giới thiệu công trình cho khách tham quan tại ISEF 2012, diễn ra ở Mỹ.

 

Tình cờ, trong số 8 vị giám khảo chấm bài của nhóm Việt Nam lại có một người Việt, ông Nhiem Nguyen, một kỹ sư điện tử sống và làm việc tại bang Pennsylvania. Theo ông Nhiem, khi được ISEF mời làm giám khảo, ông không biết sẽ được chấm ai mà việc phân chia giám khảo – thí sinh là do máy tính thực hiện tự động và ngẫu nhiên. Ông cũng không hề biết trước là sẽ có người Việt sang dự thi. Tuy nhiên, khi tiếp cận với công trình của các em thì ông Nhiem thực sự ấn tượng và đã nêu ý kiến của mình với hội đồng giám khảo rằng: “Công trình của nhóm Việt Nam rất đơn giản mà sáng tạo, không tốn kém mà lại có thể mang lại tác động lớn tới cộng đồng nơi các em sống”. Kết quả, hội đồng đã đồng thuận chấm giải Nhất cho các em.

 

Trung, Trang và Vinh cùng bày tỏ sự cảm ơn vô bờ bến tới gia đình, các thầy cô, bạn bè đã giúp đỡ, ủng hộ hết mình trong suốt quá trình nghiên cứu, chuẩn bị và dự thi, cũng như Intel đã tạo điều kiện cho các em đi nửa vòng trái đất để góp mặt cùng bè bạn khắp thế giới trong một cuộc thi đầy ý nghĩa. Thông điệp các em đưa ra cho những bạn bè dự thi các năm sau là: “Hãy tự tin và mạnh mẽ, các bạn sẽ đạt được mục tiêu!”.

 

 

Sau khi giành tới 3 giải phụ, Vũ Mai Anh dừng bước ở giải Tư lĩnh vực Hóa học. Vanna Nga Hovanky cũng dừng ở giải Tư lĩnh vực Y học. Còn Kevin Anh Nguyen giành giải Nhì lĩnh vực Hóa học. Như vậy, đội từ ViệtNam không chỉ gây bất ngờ vì đoạt giải, mà còn đoạt giải cao nhất so với các bạn bè gốc Việt.

 

 

Tuấn Anh
(Từ Pittsburgh)

Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh – Người giữ đuôi ngựa

Quê Hương – Người ta gọi ông bằng nhiều cách khác nhau: nhà cố vấn chiến lược, chuyên gia tư vấn quản lý tài chính, diễn giả, nhà sưu tầm cổ vật… Nhiều người từng học ông trong các lớp học về quản trị kinh doanh, gọi ông là thầy. Tuy nhiên, ông không muốn được gọi là thầy mà chỉ nhận tên gọi đầy ẩn ý: người giữ đuôi ngựa. Ông là Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh, Việt kiều Mỹ, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc của Tổ hợp Giáo dục Đào tạo Stellar Management, nguyên Giám đốc chương trình cao học, đại học Hawaii tại Việt Nam.

Sao không phải là thầy mà lại là người giữ đuôi ngựa, thưa ông?

Giao_su_Ha_Ton_Vinh

Giáo sư Augustine Hà Tôn Vinh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc của
Tổ hợp Giáo dục Đào tạo Stellar Management,
nguyên Giám đốc chương trình cao học, Đại học Hawaii tại Việt Nam

Nhiều học viên, kể cả lãnh đạo của các tổng công ty lớn vẫn gọi tôi là thầy. Thật sự tôi không muốn họ gọi là thầy vì tôi không dạy họ một ngành nghề cụ thể nào. Họ tham gia các khóa đào tạo về quản trị kinh doanh và tôi là người truyền đạt các kiến thức về quản lý và điều hành cho họ.

Tôi đã nói với học viên rằng họ là những con ngựa đẹp, có khí chất của ngựa đi vạn dặm nhưng còn thiếu cái đuôi thì mới là một con ngựa toàn vẹn. Tôi là người giữ cái đuôi đó, tôi sẽ đưa cái đuôi – chính là những kiến thức mới từ các nền giáo dục tiên tiến, để họ tới đúng đích.

Với kinh nghiệm giảng dạy và cố vấn cho nhiều tập đoàn đa quốc gia, ông đánh giá thế nào về trình độ, năng lực của lãnh đạo các doanh nghiệp Việt Nam?

Tôi nghĩ, khi ngồi vào những cái ghế đó, hẳn nhiên họ phải có tố chất của nhà lãnh đạo. Tuy nhiên, họ cũng cần thường xuyên đi học để bổ sung kiến thức.

Trên thực tế, các lãnh đạo, nhất là tại các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước rất ngại đi học vì nhiều lý do mà lớn nhất là ngại người khác nói rằng họ yếu kém mới đi học. Tôi không đồng tình với quan niệm này. Như tôi bây giờ vẫn thường xuyên đi học. Biển học mênh mông, không bao giờ cạn.

Khi còn sống ở Mỹ vào những năm 1980, ông từng là triệu phú nhờ kinh doanh, ông nghĩ gì về tầng lớp doanh nhân chỉ quan tâm tới chuyện làm giàu?

Làm giàu là điều cần thiết và đáng trân trọng, nhất là doanh nhân. Họ là những người không những có thểlàm giàu cho mình, cho gia đình mà còn cho cả xã hội.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần có một đội ngũ doanh nhân tài ba, biết đóng góp cho sự hùng mạnh của đất nước. Ngày nay, doanh nhân không chỉ là người làm ăn thuần túy, chỉ biết kiếm tiền, làm giàu. Doanh nhân còn phải là người sống có trách nhiệm với xã hội, biết bảo vệ môi trường, giúp nâng cao cuộc sống của người lao động.

Trên thế giới đang xuất hiện trào lưu doanh nghiệp xã hội, với những người vừa làm giàu vừa sử dụng kiến thức và kinh nghiệm để đóng góp cho xã hội. Sự đóng góp của họ được xã hội nhìn nhận và trân trọng. Doanh nghiệp của họ được người tiêu dùng ủng hộ và phát triển bền vững hơn.

Quan điểm của ông về vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam?

Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển của Chính phủ thường nhấn mạnh đến các khía cạnh của kinh tế thị trường. Theo tôi, chúng ta cần chú tâm nhiều hơn vào các khía cạnh của kinh tế phi thị trường.

Kinh tế thị trường chú trọng đến các yếu tố sản xuất, cung cầu, đầu tư tìm lợi nhuận, trong khi kinh tế phi thịtrường chú trọng đến các yếu tố đem lại sự bền vững như chất lượng giáo dục đào tạo, cuộc sống, cơ sở hạtầng, môi trường, y tế cộng đồng cho trẻ em, người lớn tuổi. Hai nền kinh tế này như một bình thông nhau, cần được giao thoa và gắn liền với nhau.

Nói thế có nghĩa là lợi ích của một nền kinh tế thị trường phải được đầu tư và chia sẻ để phục vụ cho nền kinh tế phi thị trường. Mục đích cuối cùng của kinh tế phải là phục vụ các nhu cầu phi kinh tế.

Tôi đã dành thời gian tìm hiểu và nghiên cứu các chính sách điều hành kinh tế và tài chính của các thời kỳ, nhất là trong khoảng 30 năm vừa qua. Qua đó tôi thấy điều nổi bật là chúng ta đang điều hành nền kinh tếbằng các giải pháp ngắn hạn và tức thời. Doanh nghiệp vì thế hay bị động và dễ tổn thương.

Doanh nghiệp là một trong những nền tảng của nền kinh tế, nếu nền tảng đó bị lung lay, chúng ta sẽ phải trảgiá đắt. Tái cơ cấu nền kinh tế nhất thiết phải theo hướng phục vụ cho chất lượng cuộc sống của người dân, của xã hội, cho nền kinh tế phi thị trường.

Dự định sắp tới của ông?

Mục tiêu lớn nhất của tôi cùng với doanh nghiệp của mình thành lập một trường đại học Mỹ tại Việt Nam. Do vậy, chắc thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục triển khai dự án này.

Hình như vào đầu tháng 6 tới, 2 chương trình đào tạo do Stellar Management và trường Đại học California Miramar của Mỹ liên kết đào tạo sẽ được khai giảng?

Đây là 2 chương trình đào tạo quản trị kinh doanh cao cấp dành cho lãnh đạo và quản lý điều hành, giúp doanh nghiệp đổi mới phong cách lãnh đạo, quản lý, kinh doanh. Chương trình được thiết kế phù hợp với người Việt Nam cùng các giáo trình được mua bản quyền từ nước ngoài, biên dịch và in ấn công phu.

(C) quehuongonline.vn

 

GS Nguyễn Tài Cẩn và ngành lịch sử văn học dân tộc

1. Nói đến GS Nguyễn Tài Cẩn, những người có sự am tường nhất định về khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đều có thể đồng thanh khẳng định ông là nhà ngôn ngữ học lỗi lạc, người anh cả của ngành ngôn ngữ học nói chung, Việt ngữ học và Hán ngữ học nói riêng. Địa vị của GS trong ngành hẹp của mình có thể nói là “bất khả tỷ giảo”. Thông thường, nhà khoa học lớn trong một lĩnh vực nào đó thì công trình của người đó có quy mô và tính chất rộng lớn, vượt ra khỏi đường ranh giới vốn ít nhiều mang tính ước lệ giữa ngành hay chuyên ngành hẹp đó, để tác động sâu sắc tới các ngành hay chuyên ngành lân cận, hữu quan. Trong những trường hợp nhất định, những ảnh hưởng lan tỏa, phát tán như vậy vẫn có thể đạt tới tầm mức to lớn và quan trọng không kém ảnh hưởng mà nhà khoa học đó đã tạo ra trong chính chuyên ngành của mình.

(Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (22/5/1926 -25/2/2011))

Sinh thời, GS Nguyễn Tài Cẩn ít công khai nói tới những suy nghĩ và dự định của mình tham gia vào công việc của các ngành hay chuyên ngành khác. Mọi biểu hiện của ông làm người ta nghĩ rằng ông nhất tâm với chỉ ngành ngôn ngữ học, ít nhất những công trình khoa học được công bố vào giai đoạn sớm của ông (cho tới cuối những năm tám mươi thế kỷ trước) dường như hàm ý ấy.

Được trời phú cho tư chất hơn người (“Tài”), hành chức nhất tâm tậm lực đã đam mê lại chuyên cần (“Cẩn”), cái sự thành đại nghiệp trong một chuyên ngành ở GS dường  là đương nhiên.Xin được chia sẻ ý kiến nhận xét  sâu sắc và thâm trầm của GS Nguyễn Đức Dân về vị tiền bối trực tiếp : “Ảnh hưởng của ông tới giới ngôn ngữ học Việt Nam lớn nhất, lớn đến nỗi những khuynh hướng nào ông không quan tâm hoặc không thích thì khó mà phát triển”[1].

Thật ra, những nhà bác học đích thực ở giai đoạn khai minh trong lịch sử của mỗi quốc gia – dân tộc không mấy ai chỉ là một chuyên gia, bó hẹp lao động và mối quan tâm của mình vào chỉ một lĩnh vực nhận thức. Từ những năm ba bốn mươi của thế kỷ XX cho tới tận nay, do hoàn cảnh bó buộc mà nhu cầu khai minh kéo dài, ở Việt Nam đã xuất hiện khá đông đảo những nhà bác học mang tính “bách khoa”, một loại hiện tượng hẳn là mang tính quy luật. Cố gò ép mình cũng chẳng được. “Anh hoa” cứ “phát tiết ra ngoài”. GS Nguyễn Tài Cẩn, qua di sản phong phú của ông, đã phải chứng tỏ mình là một trong những “con người ấy”.

2. Ngành nghiên cứu lịch sử văn học “muốn gì” ở ngành ngôn ngữ học?

Theo định nghĩa, thì văn học là một ngành nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật ngôn từ. Lịch sử văn học của một quốc gia – dân tộc, chiếu vào định nghĩa trên, có thể được  phát biểu theo cách khác, rằng văn học là bộ phận ngôn từ của một ngôn ngữ quốc gia – dân tộc đạt tới định chế (status) nghệ thuật, hay được thể hiện ra như là những hình thức ngôn ngữ mang tính ngệ thuật.Lịch sử văn học của một quốc gia – dân tộc, từ một góc nhìn xác định, có thể và buộc phải hình dung như là lịch sử ra đời và phát triển của bộ phận ngôn ngữ mang tính nghệ thuật ở quốc gia – dân tộc ấy. Đây chính là lý do khách quan của việc ngay từ thời điểm ra đời của các trường Đại học lớn trên thế giới nhất là ở  phương Tây thời cận hiện đại, ngành ngữ văn là một ngành cơ bản, gạo cội và tất yếu. Đối tượng nghiên cứu của ngành nghiên cứu văn học nói chung, phân ngành lịch sử văn học nói riêng cũng chính là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học hay ít nhất cũng là đối tượng của một phân ngành thuộc khoa học đó.

Xét về định chế nội tại, phân ngành lịch sử văn học là một phương diện, một “mặt cắt” của khoa học lịch sử. Vậy thì, ngay ở tọa độ xuất phát, công việc nghiên cứu lịch sử văn học là một hoạt động mang tính lai ghép, bị quy định bởi nhiều mối liên hệ hữu cơ với ít nhất là hai ngành khoa học khác, đó là sử học và ngôn ngữ học.

Nhìn từ góc độ lý thuyết “thuần túy” thì thế. Nhưng nhìn vào thực tế lịch sử của phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học ở Việt Nam thì rất khó hình dung như thế!

Nếu quan sát cụ thể ở các tác giả biên soạn các sách giáo khoa thư của bộ môn văn học trước cách mạng tháng Tám, sẽ không khó nhận ra rằng nỗ lực lớn nhất mà các tác giả đó muốn truyền đạt là những áng văn chương tiêu biểu, đồng thời với những kiến thức sơ giản của nghệ thuật tạo tác nên những áng văn đó. Tiếp theo, các bộ sách lịch sử văn học trước Cách mạng tháng Tám như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, các sách văn học sử của Nguyễn Sĩ Đạo, của Ngô Tất Tố, của Nghiêm Toản. Cả đến Quốc văn giáo khoa thư của Trần Trọng Kim cũng đều trước tác theo tinh thần như vậy. Nhưng từ sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, các bộ sách văn học sử đã có sự “đổi sắc” khá rõ rệt: nỗ lực vận dụng nguyên lý phản ánh và nguyên lý nội dung quyết định hình thức của triết học, các tác giả của các bộ văn học sử đó đã nghiêng một cách mạnh mẽ nội dung biên soạn về phía chính trị – xã hội – tư tưởng, phần nghiên cứu hình thức và đặc trưng nghệ thuật chỉ còn là thành phần phụ, thậm chí có thể bị bỏ qua. Một số khá lớn các tác giả biên soạn các bộ sách ấy, dễ giải thích thôi, là các nhà sử học! Mãi đến nửa sau thập kỷ sáu mươi, đội ngũ này mới được “trả lại tên cho em”: đó là những người nghiên cứu lịch sử văn học thực thụ!

Nhưng tuy vậy, quán tính và thao tác nghiên cứu văn học vẫn đã định hình theo lối của các sử gia và theo tinh thần triết học duy vật lịch sử. Rất ít những công trình lịch sử văn học trong cả một thời kỳ dài, từ giữa những năm năm mươi tới giữa những năm tám  mươi, đặt trọng tâm là nghiên cứu “lịch sử một lĩnh vực nghệ thuật”.

Trong suốt cả thời gian ấy, ngành ngôn ngữ học may mắn thụ hưởng một “ân điển” trời cho: J. Xtalin khẳng định thành nguyên lý kinh điển, rằng ngôn ngữ là phạm vi không cần quan tâm tới tính giai cấp. Được ban “phép thông công”, các nhà ngôn ngữ học mặc sức nghiên cứu hình thức mà không lo đến những bản án lơ lửng trên đầu, như điều chắc chắn sẽ xảy ra đối với các nhà nghiên cứu văn học, nếu họ táo gan làm như thế!

Các quá trình nghiên cứu diễn ra theo các quỹ đạo khác nhau, nên chẳng có gì lạ rằng giữa hai bộ phận (ngữ và văn)nhanh chóng trở nên “lạ hóa” đối với nhau. Để giữ an toàn, người làm ngôn ngữ “chẳng tội tình gì” đi sâu vào văn học. Không có bộ phận ngôn ngữ văn học, ngành ngôn ngữ đâu có suy suyển bao nhiêu về mặt đối tượng nghiên cứu? Mặc dù, từ một phía, đó chính là đối tượng “khó nhằn” và từ phía khác, cũng “vừa là thách thức vừa là cơ hội”, hấp dẫn biết bao! Những tài năng đích thực luôn luôn muốn được thử thách và thử sức mình trong việc chinh phục những đối tượng khó khăn.

Mải mê theo đuổi “chủ nghĩa nội dung”, các nhà nghiên cứu văn học, dĩ nhiên trong đó có những người làm lịch sử văn học, lại ngày càng trở nên xa lạ với những kiến thức mang tính hệ thống của ngôn ngữ học nói chung và những tri thức, phương pháp, thủ pháp, thao tác cần có nói riêng, để có thể “tự xử lý” lấy phưong diện ngôn ngữ của văn học và văn học sử. “Chi tộc ngữ văn” ngày mỗi ngày càng trở nên thưa thớt “nhân đinh”, rồi đến một ngày, như hôm nay, cơ hồ “tuyệt tự”.

Giờ thì đã có thể nói được, giới nghiên cứu văn học muốn gì ở giới nghiên cứu ngôn ngữ học. Muốn rằng, phải tái tạo lại quá trình “xích lại gần đây, xích lại gần nhau”. Muốn rằng, các nhà ngôn ngữ học và các nhà nghiên cứu văn học hãy cùng “xử lý” cái đối tượng chung đã đề cập từ “thuở định nghĩa ban đầu” ấy. Một ước mong bất vị kỷ, bất vụ lợi, nhưng dường như đã trở nên thiên nan vạn nan để thực thi.

3. GS Nguyễn Tài Cẩn đã làm gì với ngành nghiên cứu văn học, hay là giới nghiên cứu văn học tri ân GS ở những điểm nào?

Từ nhiều năm trước đây, vào thời điểm GS Nguyễn Tài Cẩn còn làm việc sung sức, đã có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước viết về những đóng góp mà GS Nguyễn Tài Cẩn đã – đang mang lại cho ngành nghiên cứu văn học. Vào thời điểm GS qua đời, một số cây bút cũng bắt đầu nghĩ đến công việc “định luận” những gì ông đã làm được trong lĩnh vực này. Một trong những người bạn vong niên mà tri kỷ của GS là nhà phê bình Đặng Tiến đã viết trên hướng ấy một số bài viết tâm huyết và tỏ tường. Trong bài viết ngắn này, từ góc nhìn của một người nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc và phần nào là văn học khu vực, tôi cũng cố gắng thử hệ thống hóa lại những thu hoạch cá nhân qua việc tiếp nhận từ GS phần di sản có liên quan đến công việc của phân ngành mình làm việc[2].

Đóng góp đầu tiên và sớm nhất của GS Nguyễn Tài Cẩn cho phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học, theo ý tôi chưa phải là những công trình nghiên cứu ngữ văn lịch sử nào đó, mà ở việc với tư cách nhà khoa học có tiếng nói quan trọng, đồng thời là một cán bộ giữ cương vị lãnh đạo vào thời điểm giữa những năm sáu mươi ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông đã hết sức kiên trì và tích cực trong việc khôi phục lại chuyên ngành Hán Nôm. Nhờ chấn hưng được ngành học này, mà chúng ta kịp thời bảo tồn và khai thác được rất nhiều di sản của mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Mất mấy năm “làm thủ tục”, đến năm 1972 ngành Hán Nôm mới chính thức được “hạ sơn khai môn”. Chắc chắn GS Nguyễn Tài Cẩn là một trong không nhiều những nhà giáo, nhà khoa học lúc bấy giờ có đóng góp mang tính quyết định vào việc mở ra ở một trường Đại học (duy nhất) miền Bắc, ngành học này. Cứ nhìn vào đội ngũ những người từ giữa những năm bảy mươi lại nay đã và đang công tác ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, ban Trung đại Viện Văn học, ở các sở văn hóa, các Ban quản lý di tích…và sản phẩm lao động của họ, cũng có thể hình dung ra ý nghĩa, giá trị của việc mở lại ngành học này. Không có những kết quả lao động của đội ngũ đó, dễ mà phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, nhất là thời trung đại và cận đại, đã phải “án binh bất động” mấy chục năm vừa qua.

Thường thì người ta vẫn hay cho rằng việc thành lập các cơ quan nghiên cứu, các trường hay ngành học ở Đại học, nói chung, các “cơ quan nhà nước” là “việc nhà nước”, và quy công cho “đường lối chủ trương” hoặc giả là cho các chính khách hàng đầu đương thời. Lối “tóm lại” ấy tuy không sai, nhưng thiếu cụ thể, trên thực tế là không nhìn nhận được vai trò, đóng góp thực của các cá nhân, nhất là các khoa học gia có tầm chiến lược. Vậy nên, một lần nữa, tôi muốn nhắc lại rằng một trong những đóng góp đầu tiên của GS Nguyễn Tài Cẩn cho ngành nghiên cứu văn học sử là tham gia tích cực vào việc mở lại ngành Hán Nôm bậc Đại học và suốt một thời gian dài GS là một trong những giảng viên chính của ngành này, đúng hơn, vừa đào tạo sinh viên, vừa đào tạo và đào tạo lại hầu hết các thầy cô giáo của ngành học đó.Nói khác đi, GS là thầy của hầu như tất cả các nhà giáo và các nhà nghiên cứu có sử dụng Hán Nôm trong công việc khắp nước Việt, dĩ nhiên trong đó có người viết những dòng này.

Tạo ra được một số lượng “tới hạn” những độc giả, thính giả “của mình” rồi, GS Nguyễn Tài Cẩn từng bước “ra khỏi nơi cố thủ” là lĩnh vực “ngôn ngữ học thuần túy”. Và những người nghiên cứu folklore bắt đầu bị cuốn vào một quỹ đạo khảo tả nghiêm ngặt về những điều lâu nay ẩn hiện trong khu vực huyền thoại, truyền thuyết[3]. Những tác phẩm văn học sớm nhất của văn học viết Việt Nam được “đọc hiểu” theo đúng tinh thần của thời đại mà chúng ra đời[4]. Phần lớn những bài viết này xuất hiện từ cuối những năm bảy mươi và kéo dài đến tận cuối đời ông.

Xuất phát từ tri thức và phương pháp của ngôn ngữ học lịch sử, dựa vào sự hiểu biết sâu rộng về lịch sử tiếng Việt và Hán ngữ, cùng với tri thức và năng khiếu văn học, bắt đầu từ năm 1980 GS đã lần lượt tiến hành những công trình nghiên cứu ngữ văn đích thực khi đối tượng khảo sát là những tác giả, tác phẩm văn học quan trọng : Quốc âm thi tập và Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi tập và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giới Hiên thi tập và Nguyễn Trung Ngạn, Bài thơ Vũ trung sơn thủy và Thiệu Trị, Thu dạ lữ hoài ngâm và Đinh Nhật Thận, …để rồi, vào mười năm cuối đời, ông say sưa với Đoạn trường tân thanh và Nguyễn Du, cho xuất bản tới ba cuốn sách dày về “tư liệu Truyện Kiều”.

Tôi không muốn làm công việc quá to lớn trong một bài viết nhỏ là tổng thuật các công trình mang tính ngữ văn đích thực này của GS và vì thế, cũng chưa thể đưa ra ở đây những ý kiến đánh giá chi tiết về tác động của những công trình này đối với phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học. Vậy nhưng không thể lảng tránh việc nêu lên những nhận định ban đầu, những đánh giá sơ bộ và có lẽ hứng thú hơn, cung cấp thêm một vài “thông tin nội bộ” về hướng nghiên cứu này của GS Nguyễn Tài Cẩn.

Như đã nói, mối liên hệ hữu cơ và tự nhiên giữa nghiên cứu văn học và nghiên cứu ngôn ngữ nằm ở miền giao thoa của đối tượng nghiên cứu, và điều đó, trong điều kiện phát triển lành mạnh của khoa học, tạo ra sự tòng thuộc lẫn nhau ở kết quả thu về của hai khoa học lân cận. Đối với phân ngành nghiên cứu lịch sử văn học, tất cả những tri thức và thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ học trên các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và từ vựng đều là những tri thức mang tính nền tảng để xâm nhập vào địa hạt lịch sử ngôn ngữ văn học, đặng tái hiện lại sự vận động của bộ phận ngôn ngữ đặc biệt đó theo diễn trình thời gian.

Dễ nhận ra rằng trong hầu hết các bộ sách về lịch sử văn học, bao gồm từ sách giáo khoa, các giáo trình Đại học, các chuyên khảo, chuyên luận do những người làm văn học sử viết, việc trình bày ngôn ngữ văn học cơ hồ vắng mặt. Thưa thớt lắm, người đọc mới bắt gặp một số nhận định, một số lời bình lẻ tẻ, vụn vặt về ngôn ngữ trong một số tác phẩm cụ thể, một số tác giả cụ thể. Xét từ góc độ lý thuyết, ngôn ngữ văn học đương nhiên phải được tìm hiểu khởi đi từ ngôn ngữ tác phẩm, qua ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật (nếu có), tức là nhận biết từ tầm vi mô, đến ngôn ngữ thể loại, ngôn ngữ thời đoạn, thời kỳ, thời đại, tức là tầm vĩ mô. Xuyên suốt một thời đại văn học nhất định, người nghiên cứu lịch sử văn học phải chỉ ra mối liên hệ mang tính bản thể giữa ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học với ngôn ngữ chung của thời đại tương ứng. Trong lịch sử văn học viết Việt Nam, chỉ xét riêng thời đại thứ nhất, tức từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, về mặt văn tự, văn học viết đã sử dụng song song hai hình thức chữ viết là chữ Hán và chữ Nôm. Có những tác giả chỉ trước tác bằng chữ Hán, có những tác giả chỉ để lại tác phẩm bằng chữ Nôm hoặc chủ yếu là chữ Nôm, cũng lại có một lực lượng sáng tác đồng thời sử dụng cả hai hình thức văn tự vừa Hán vừa Nôm.

Các nhà nghiên cứu và ngay cả bạn đọc phổ thông đều biết đối với người Việt, kể cả hết thảy những người được học và sử dụng chữ Hán tới tận ngưỡng đỗ đại khoa, thì kể từ ngày khôi phục lại nền độc lập dân tộc và chủ quyền chính trị của quốc gia, chữ Hán đã không thể nào còn là sinh ngữ. Theo thời gian, người Việt sử dụng chữ Hán  khác dần với người Trung Quốc trên quê hương của họ. Thứ chữ Hán mà người Việt sử dụng, đặc biệt là chữ Hán văn học, chắc chắn là dần dà hình thành nên những đặc điểm riêng, trên hầu khắp mọi tiêu chí cả định lượng lẫn định tính về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ vựng, …Nền độc lập được duy trì càng lâu, sự khác biệt giữa “chữ Hán Việt Nam” với “chữ Hán Trung Quốc” càng lớn.

Lịch sử chữ Hán văn học ở Việt Nam, đó là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học hay các nhà nghiên cứu văn học sử? Đương nhiên là đối tượng của cả hai ngành. Nhưng trên thực tế, hầu như không một nhà nghiên cứu văn học sử nào đã từng tiến hành một công trình cơ bản nào theo đường hướng đó! Rồi đến chữ Nôm văn học cũng “cùng chung số phận”.

Các nhà ngôn ngữ học hoặc xuất thân từ ngành ngôn ngữ học có ưu thế vượt trội đương nhiên để tiến hành những công trình nghiên cứu như thế. Vậy nhưng nhìn theo lối kiểm toán, số lượng những công trình đặc khảo về ngôn ngữ văn học của giới ngôn ngữ học cũng thật khiêm tốn biết bao!

Mang những suy nghĩ và mong ước đó trình bày với GS Nguyễn Tài Cẩn từ đầu những năm tám mươi,  tôi đựợc ông đồng tình, chia sẻ. Tôi đã đề nghị ông, với tư thế của “người anh cả ngành ngôn ngữ học”, hãy tổ chức hoặc cho những người làm ngôn ngữ học hướng tới mảng đề tài này, hoặc làm đạo sư cho các nhà nghiên cứu lịch sử văn học thế hệ trẻ. Chẳng rõ sự tình cụ thể là thế nào, cho tới giữa những năm chín mươi, ông bảo với tôi rằng “ Vì bắn không nên, mình đền đạn vậy”. Hai năm sau lời hứa đó, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ chữ Hán thời Lý – Trần thông qua một case studie ( Giới Hiên thi tập – Nguyễn Trung Ngạn) của GS viết xong, và tôi hân hạnh đựợc là một trong những người đọc góp ý sớm nhất.

Tính hàn lâm cao độ trong các công trình nghiên cứ ngữ văn của GS Nguyễn Tài Cẩn là điều ai cũng nhận thấy, và chính tính chất ấy, nói thật lòng, khiến cho đại đa số độc giả là người nghiên cứu, giảng dạy, chưa nói là người theo học ngành văn học, ngại ngần hay sợ hãi. Không ít người giữ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với những công trình đó. Lấy hết can đảm, tôi đã thông báo tình trạng ấy với GS, thậm chí mạnh bạo đề nghị ông giảm bớt hàm lượng thuật ngữ chuyên ngành, thứ mà tôi gọi đùa là “bùa chú khoa học”. Ông không giận tôi, lắng nghe rất căng thẳng, chăm chú, nhưng cũng lộ vẻ buồn, ít nhiều cũng băn khoăn.

Nhiều lần, GS than thở với tôi về quỹ thời gian…mặc dù ông là người có hiệu suất làm việc cao khủng khiếp. Cuốn sách về bài thơ Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị nếu tôi không nhớ nhầm thì từ lúc được ông chính thức khởi thảo (không kể các bài báo) cho đến lúc hoàn thành chỉ chừng ba tháng!

Theo sự hiểu biết của tôi, không hề là tùy hứng, ngẫu nhiên khi GS chọn Đinh Nhật Thận, Thiệu Trị và Nguyễn Du và một số tác phẩm của họ làm đối tượng để đi sâu vào miền ngữ văn lịch sử. Trong tương lai, khi bình diện lịch sử của ngôn ngữ văn học viết dân tộc được triển khai nghiên cứu sâu rộng và đạt tới một tầm điển phạm hóa nhất định, người quan sát hẳn sẽ ngạc nhiên về độ tinh nhạy và chiều sâu của những lựa chọn này. Chỉ có điều, tương lai ấy gần hay xa thì không còn lệ thuộc vào ông nữa!

Chẳng dám tự nhận mình là đệ tử “danh môn chính phái, trực truyền” của thầy, dẫu vậy tôi từng nhiều lần thầm cảm ơn số phận đã run rủi cho tôi đựợc thầy coi là một người học trò nhỏ. Từ góc nhìn của một người làm lịch sử văn học, những dòng này xin được coi như những lời tri ân đối với những gì thầy đã tạo tác nên cho chuyên ngành “lân lý”. Tôi cũng hy vọng được đồng nghiệp cho phép thay mặt để nói lên.

 

Tháng Ba 2012, tưởng nhớ Thầy tròn năm về cõi Thọ.

 

PGS.TS. Trần Ngọc Vương

(Khoa Văn học)

 


[1] Xem  Nguyễn Tài Cẩn – học giả “bất yếm, bất quyện”. T/c Văn hóa Nghệ An xuất bản. 2011, tr. 214.

[2] Hiểu rằng yêu cầu của bài viết là phải mang nội dung khoa học khách quan, nhưng với một bậc thầy mà bản thân người viết có tới gần ba mươi lăm năm tiếp xúc, chịu ảnh hưởng với nhiều kỷ niệm và ấn tượng được lưu ký mãi mãi, từ phía khác, có cả không ít những cuộc trao đổi “lạnh”, thật khó mà tách bạch giữa hai hình thái diễn ngôn.

[3] Xem các bài viết: Tên gốc của trống đồng Đông Sơn; Về tên gọi con Rồng của người Việt; Bàn thêm về chuyện tên Rồng; Một giả thuyết nữa về lai lịch tên “chằn” trong “chằn tinh” và “bà chằn”; Về cách đọc tước hiệu Bố Cái đại vương; Lăm và nhăm, một và mốt. In trong : Nguyễn Tài Cẩn – Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2001.

[4] Chẳng hạn, cách giải nghĩa của GS về bài thơ Nam quốc sơn hà, bài từ Vương lang quy …

(C) khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

Next