Posts Tagged 'Education'

Tọa đàm “Triết lý giáo dục Việt Nam”

(ĐCSVN) - Sáng 31/8, tại Hà Nội, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức Tọa đàm “Triết lý giáo dục Việt Nam” nhằm bàn về quan điểm, lý thuyết, nhận thức, tư duy về giáo dục – đào tạo ngang tầm thời đại, phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa và phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. PGS. TS Nguyễn Viết Thảo, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trì Tọa đàm.

Toàn cảnh Tọa đàm

 

Tham dự Tọa đàm có GS.TS Phùng Hữu Phú – Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận TƯ, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng TƯ; GS.VS Phạm Minh Hạc – Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục; GS.TS Phạm Tất Dong – Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam; GS.TS Phạm Mạnh Hùng – Nguyên Phó Trưởng ban Ban Khoa giáo TƯ; GS.TS Trần Ngọc Hiên – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; GS.TS Vũ Minh Giang – Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội; Lãnh đạo Ban Biên tập, các ban chuyên môn của Báo và nhiều cán bộ, phóng viên đã tham dự.

Phát biểu đề dẫn Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Viết Thảo – Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: Trong những năm đổi mới hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội tiếp tục dành sự quan tâm to lớn cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, tạo nên nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, như Đại hội XI đánh giá, các lĩnh vực giáo dục và đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, gây bức xúc xã hội. Để đưa nền giáo dục nước nhà ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nuớc trong thời kỳ mới, ngang tầm với những xu hướng của nền giáo dục thế giới, Đại hội XI khẳng định chủ trương: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo… Cuộc Tọa đàm “Triết lý giáo dục Việt Nam” có mục đích thảo luận vấn đề gốc, vấn đề nền tảng của sự nghiệp giáo dục – đó là triết lý, quan điểm, cơ sở lý luận cho ngành giáo dục - đào tạo của đất nước.

Mở đầu cuộc Tọa đàm, GS.VS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục nhấn mạnh, hiện còn có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề triết lý giáo dục Việt Nam. Theo GS.VS Phạm Minh Hạc, có thể khẳng định từ trước tới nay, Việt Nam có triết lý giáo dục như: tư tưởng, ý tưởng về giáo dục được thể nghiệm, trải nghiệm, đúc rút thành kinh nghiệm sống, rồi lại đem ra thực hành… Hiện nền giáo dục của chúng ta bộc lộ một số yếu kém, bất cập, gây nhiều băn khoăn, lo lắng. Điều đó đòi hỏi cần cụ thể hoá triết lý giáo dục thời nay ở nước ta hơn những gì đã ghi trong các văn kiện. Lý luận giáo dục của chúng ta phải có bước phát triển mới, góp phần triển khai chủ trương, chính sách phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ mới. Với ý tưởng đó, sau khi nghiên cứu, GS. VS Phạm Minh Hạc đề xuất triết lý giáo dục là “Giáo dục giá trị bản thân”.

Còn theo GS. TS Phạm Tất Dong: Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chiêm nghiệm những bước thăng trầm của quốc gia, dân tộc Việt Nam nhận thức được rằng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia; học tập là gốc rễ của giáo hóa”. Một quốc gia không có người hiền tài sẽ là một quốc gia đứng trước những bế tắc trong bài toán phát triển. Do đó, cần có một nền giáo dục tốt đẹp để xây dựng những con người tốt đẹp, tài giỏi, lương thiện và yêu nước. Sự học có giá trị quyết định đến việc hình thành những con người có nhân cách tốt đẹp. Do vậy, nhiều đời nay, con người luôn mong muốn có được những trường học để con em qua đó mà nên người… Như vậy, theo GS.TS Phạm Tất Dong, cần phải có triết lý giáo dục trong điều kiện xây dựng nền giáo dục tri thức. Do vậy, muốn làm tốt, cần thực hiện tốt lời dạy của Hồ Chí Minh: Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng thấy cần phải học thêm.

 

Các đại biểu tham dự Tọa đàm

 

GS.TS Trần Ngọc Hiên cho rằng: Trước hết, cần đặt sự nghiệp giáo dục-đào tạo trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển của đất nước. Mục đích trực tiếp của giáo dục - đào tạo là tạo ra nguồn lực lao động và quản lý phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển, nhờ đó mà nâng cao dân trí theo mỗi bước đi. Và để định hướng phát triển nền giáo dục nước ta như là sự tích hợp những giá trị của thời đại mới đang hình thành với những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam, theo GS, TS Trần Ngọc Hiên, rất cần làm rõ nét 4 vấn đề chủ yếu, đó là: Sự phát triển của con người lao động trong quá trình lịch sử phát triển kinh tế thị trường; Giáo dục tư duy độc lập – nhân tố để phát triển toàn diện của mỗi cá nhân; Kết hợp hài hoà tri thức khoa học – kỹ thuật với tri thức khoa học xã hội – nhân văn là định hướng nền giáo dục mới và Xây dựng môi trường văn hoá trong hoạt động giáo dục, đào tạo.

 

GS.TS Phạm Mạnh Hùng thì đề cập đến khía cạnh ham học. Làm sao để toàn dân ham học, học thực sự ? Theo Giáo sư, trước hết, chúng ta phải chăm học, ham học nhưng phải học cho vừa sức; thi đua học chứ không phải là ganh đua. Cần xác định học để làm người và tôn vinh nghề nghiệp cần song song với tự trọng nghề nghiệp

Đồng ý với việc cần thiết phải có triết lý giáo dục, GS.TS Vũ Minh Giang cho rằng, cần phải làm rõ các vấn đề: Xây dựng triết lý giáo dục bắt đầu từ đâu? Việt Nam đã có những điều kiện gì? Triết lý giáo dục Việt Nam phải bao gồm những yêu cầu gì? Theo GS.TS Vũ Minh Giang, việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam phải  hiểu được 5 vấn đề, đó là: Hiểu con người Việt Nam; Hiểu lịch sử giáo dục của đất nước; Hiểu xu thế thế giới; Hiểu những yêu cầu của đất nước, Đảng, nhân dân với giáo dục; Hiểu được những yếu tố tác động tới giáo dục Việt Nam.

GS.TS Vũ Minh Giang cũng cho rằng, chúng ta đã có những điều kiện hết sức thuận lợi để xây dựng triết lý giáo dục như: Truyền thống hiếu học; Sự đồng thuận của xã hội trong xây dựng nền giáo dục; Có nguồn lực nhất định để đầu tư cho giáo dục…. Và theo Giáo sư, triết lý giáo dục Việt Nam được đúc kết trong 5 từ ” Ái, Tôn, Vị, Trọng, Khai”, tức là triết lý giáo dục cần quán triệt: Chủ nghĩa yêu nước; thượng tôn dân tộc; tôn trọng thực tại khách quan; trọng nguyên khí; khai phóng dân tộc, mở ra với thế giới.

 

GS.TS Phùng Hữu Phú đánh giá cao sáng kiến tổ chức Tọa đàm của Báo

 

Kết thúc buổi Tọa đàm, GS.TS Phùng Hữu Phú đánh giá cao sáng kiến tổ chức Tọa đàm của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và cho rằng, buổi Tọa đàm đã chắt lọc được những ý tưởng, đề xuất, đã có bước tiến mới so với các cuộc hội thảo được các đơn vị khác tổ chức trước đây ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Theo GS.TS Phùng Hữu Phú, ông cha ta đã từng có triết lý giáo dục, trong thực tiễn cũng đã có triết lý giáo dục, Bác Hồ đã từng nói về triết lý giáo dục. Tuy nhiên, chúng ta lại chưa biết tích hợp những di sản triết lý, trong truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng; chưa tiếp cận một cách đầy đủ, hệ thống những tinh hoa triết lý giáo dục của thế giới để tích hợp lại, bổ sung, phát triển, hoàn thiện thành triết lý giáo dục của Việt Nam. Đáng chú ý, lâu nay chúng ta chưa biết cách vận dụng, truyền bá triết lý giáo dục vào trong quan hệ thầy, trò, cộng đồng xã hội.

“Trong quá trình triển khai sắp tới, bên cạnh việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch các chương trình đề án cụ thể, chiến lược giáo dục Việt Nam 2011 – 2020 cần hình thành được một triết lý giáo dục và truyền bá sâu rộng triết lý giáo dục trong thầy, trò, cộng đồng xã hội, coi đây là một bộ phận quan trọng không thể tách rời trong chiến lược đổi mới giáo dục trong 10 năm tới” – đồng chí nhấn mạnh./.

Việt Anh-Kim Thanh-Kha Thoa

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30085&cn_id=476407

Việt Nam quy hoạch phát triển nhân lực đến 2020

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân:

Lần đầu tiên có quy hoạch nhân lực

 

Nhân dịp Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ đã phỏng vấn  Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân xung quanh quy hoạch này.

Phó Thủ tướng Ngụyễn Thiện Nhân: Khi có đầu bài rồi, ngành giáo dục và đào tạo, ngành dạy nghề và các ban, ngành phối hợp mới làm cho việc đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước -

PV: Kính thưa Phó Thủ tướng, ngày 22/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1216/2011/QĐ/TTg phê duyệt quy hoạch nguồn nhân lực giai đoạn 2011- 2020. Quy hoạch này được các nhà quản lý  đánh giá là bản quy hoạch chiến lược phát triển nhân lực đầy đủ và toàn diện nhất kể từ năm 1975 tới nay mà Chính phủ thực hiện. Xin Phó Thủ tướng cho biết ý nghĩa của bản quy hoạch này?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Như chúng ta đã biết, Đảng, Nhà nước rất coi trọng việc phát triển giáo dục đào tạo nói riêng và phát triển nhân lực cho đất nước nói chung. Trong thời gian qua chúng ta đã ban hành nhiều văn bản để phục vụ mục tiêu này. Ví dụ, ngành giáo dục, ngành dạy nghề 10 năm qua đã thực hiện chiến lược phát triển. Tuy nhiên, có một thực tiễn là nhiều năm qua việc cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế xã hội mặc dù vẫn đáp ứng nhu cầu nhưng không thể đầy đủ, đặc biệt là trong những ngành đòi hỏi nhân lực có trình độ cao. Chúng ta cũng đã tìm cách lý giải điều này nhưng chưa trọn vẹn. Qua đánh giá tình hình cuối năm 2009 đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải bổ sung một giải pháp quan trọng trong việc phát triển nhân lực đất nước. Đó là phải xây dựng một bản quy hoạch nhân lực 2011-2020.

Vậy quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam 10 năm tới là gì? Đó là xác định nhu cầu nhân lực của chúng ta về mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề cho từng ngành kinh tế, ví dụ cho công nghiệp, nông nghiệp, y tế, giao thông vận tải và đến từng vùng kinh tế. Trên cơ sở đó, hiện nay các tỉnh xây dựng quy hoạch nhân lực cho từng địa phương mình. Như vậy, chúng ta lần đầu tiên có một đầu bài, mục tiêu rõ ràng về nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như từng ngành, địa phương. Khi có đầu bài rồi, ngành giáo dục và đào tạo, ngành dạy nghề và các ban, ngành phối hợp thực hiện làm cho việc đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

PV: Xin Phó Thủ tướng cho biết những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể mà Chính phủ sẽ thực hiện trong thời gian tới?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Phải thẳng thắn nhìn nhận là từ trước đến nay chúng ta chưa xây dựng được quy hoạch nguồn nhân lực. Làm việc này rõ ràng là không hề dễ dàng bởi vì từ xưa đến nay, chưa ai làm cơ quan đầu mối để chỉ huy. Qua thảo luận, Chính phủ thống nhất cho rằng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chính là cơ quan tham mưu cho Chính phủ quyết định các ngành kinh tế phát triển như thế nào. Bây giờ phải tham mưu thêm một lĩnh vực là quy hoạch nguồn nhân lực.

Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn và các bộ, ngành và 63 tỉnh, thành xây dựng quy hoạch nhân lực từ cơ sở. Từ đó, mới có bản quy hoạch tổng hợp về nhu cầu phát triển nhân lực quốc gia 10 năm tới. Và ngay sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, ngành phê duyệt quy hoạch nhân lực của chính ngành mình. Coi đó là một giải pháp quan trọng, 1 trong 4 nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển ngành và kinh tế xã hội các địa phương.

PV: Qua một gần một năm rưỡi triển khai khảo sát thảo luận, xây dựng bản quy hoạch, theo Phó Thủ tướng, đâu là những khó khăn lớn nhất khi triển khai thực hiện đề án này?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Khó khăn thứ nhất là nhận thức và thói quen xây dựng chiến lược. Khi chúng tôi làm việc với các địa phương để dự báo nhu cầu nhân lực cho các địa phương thì cũng chỉ rõ đối với khu vực đô thị nên quan tâm đến công nghiệp, dịch vụ, giao thông như thế nào, vùng nông thôn, miền núi, đồng bằng quan tâm đến nông nghiệp ra sao.

Hiện nay chúng ta có thói quen là khi nói đến nhu cầu phát triển thì dự báo rất chính xác là cần có bao nhiêu tiền vốn, quy hoạch khu công nghiệp, nông nghiệp rất rõ ràng nhưng khi hỏi nhân lực cần bao nhiêu thì không trả lời được. Rõ ràng khó khăn đầu tiên là chưa có phương pháp luận, chưa có sự phối hợp giữa các ngành với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Do vậy, qua hơn 1 năm khảo sát từ tháng 4/2010, sau 6 tháng các bộ làm phiên bản đầu tiên và sau đó Chính phủ đối thoại với tất cả 63 tỉnh, thành thảo luận đề án quy hoạch thông qua 7 vùng, thì các địa phương, các bộ, ngành mới hoàn thiện vòng hai. Và đến tháng 3/2011 thì mới xây dựng được bản dự thảo quy hoạch cho các bộ, ngành địa phương.

Khó khăn thứ hai là sau khi có quy hoạch rồi thì ai sẽ triển khai. Rõ ràng chúng ta phải xác định khi quy hoạch có nghĩa là ra đầu bài. “Tổng tham mưu trưởng” nắm chắc đầu bài chính là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhưng nhu cầu nhân lực cụ thể thì là do từng ngành cụ thể xác định. Như vậy, đến từng giai đoạn tiếp theo, từng ngành khi biết nhu cầu của mình thì phải phối hợp với ngành giáo dục, ngành dạy nghề tổ chức, cử người đi đào tạo, tổ chức thu hút học sinh, sinh viên ra trường về làm đúng nhu cầu của mình.

Khó khăn thứ ba là phải tạo cơ chế cho cả xã  hội quan tâm đến công tác đào tạo và sử  dụng nhân lực.

PV: Thưa Phó Thủ tướng, một trong những yếu tố  quan trọng để đề án triển khai được đồng bộ và có hiệu quả là  sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương (vốn chưa thật tốt từ trước đến nay) sẽ phải như thế nào?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Chúng ta có thuận lợi là trong một năm rưỡi qua, khi các bộ, ngành địa phương xây dựng quy hoạch thì bắt đầu có sự phối hợp chặt chẽ hơn với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Dạy nghề. Có nghĩa là bên đặt hàng là các bên quản lý ngành và bên đáp ứng là ngành giáo dục và đào tạo, dạy nghề đã có sự gắn bó với nhau trong việc xây dựng kế hoạch.

Còn sắp tới là phải triển khai kế hoạch. Ví dụ khi chúng tôi họp về quy hoạch nhân lực khu vực Tây Nguyên thì thấy 5 tỉnh Tây Nguyên cần có nhân lực về văn hóa cho đồng bào Tây Nguyên, nhưng nếu cả 5 tỉnh mà  chỉ có một trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật thì không hợp lý. Qua thảo luận đã thống nhất phương án chọn 1 trong 5 tỉnh Tây Nguyên để đặt 1 trường đại học văn hóa cho cả khu vực. Hoặc là khu vực Bắc Trung bộ có nhu cầu cần phải có một trường đại học văn hóa và trường thể thao thì thống nhất nên đặt ở Thanh Hóa vì Thanh Hóa trước đó đã có trường cao đẳng về văn hóa nghệ thuật, và trong 1 năm qua Thanh Hóa đã nỗ lực chuẩn bị rất tốt.

Trong ngày 22/7, đúng ngày Thủ tướng ký quyết định phê duyệt quy hoạch nhân lực thì cũng đồng thời đồng ý về chủ trương thành lập trường Đại học Văn hóa, Thể thao, Du lịch tại tỉnh Thanh Hóa cho vùng Bắc Trung bộ. Đó chính là sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung ương và các địa phương.

Còn một vấn  đề nữa là sẽ cụ thể hóa quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cơ sở dạy nghề cả nước. Trên cơ sở quy hoạch này, từng địa phương sẽ xây dựng quy hoạch của mình. Thủ tướng đã yêu cầu  hàng năm phải có báo cáo về kết quả thực hiện.

Xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng !

Từ Lương (thực hiện)

(C) Chinhphu.vn


 

Bản Quy hoạch phát triển nhân lực đầu tiên của VN

Vietnam+ (24/07/2011) Thủ tướng Chính phủ vừa ký Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nhằm đảm bảo yêu cầu nhân lực thực hiện thành công đường lối công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển nhanh những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế so sánh quốc tế.
 

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một bản Quy hoạch về phát triển nguồn nhân lực.

Nhân dịp này, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân về ý nghĩa, nội dung và các giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong 10 năm tới.

- Thưa Phó Thủ tướng, mới đây (22/7), Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 1216/QĐ-TTG phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

Là một người đã nêu ý tưởng từ rất sớm và tâm huyết với bài toán tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội từ khi còn ở cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo, xin Phó Thủ tướng cho biết ý nghĩa của bản Quy hoạch đầu tiên về phát triển nhân lực của đất nước ?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Phải nói là việc xây dựng quy hoạch nhân lực chúng ta chưa bao giờ làm từ năm 1975 tới giờ. Xa hơn trước, có lẽ là từ năm 1961, khi chúng ta xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần đầu tiên đã chưa tính đến việc dự báo nhu cầu nhân lực cụ thể cho các ngành và các địa phương.

Chúng ta mới có quy hoạch về huy động vốn phát triển kinh tế do Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì tham mưu Chính phủ; Quy hoạch sử dụng đất do Bộ Tài nguyên Môi trường thực hiện là chính. Trong nhận thức, trong thói quen khi xây dựng chiến lược, lâu nay chúng ta chưa đề cập đến việc dự báo về nhu cầu nhân lực.

Khi chúng tôi làm việc với địa phương, họ biết rất rõ cần bao nhiêu vốn và đất cho nhu cầu phát triển. Tại các khu vực đô thị thường quan tâm đến phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, giao thông; vùng núi, vùng đồng bằng quan tâm đến ngành nông nghiệp, khoáng sản… nhưng khi hỏi nhu cầu cần bao nhiêu nhân lực, trình độ gì cho mỗi ngành thì không ai biết cách tính cả?

Đây là lần đầu tiên chúng ta có một bản quy hoạch về phát triển nhân lực, xác định nhu cầu nhân lực của chúng ta về mặt số lượng, chất lượng về cơ cấu ngành nghề cho toàn bộ nền kinh tế và từng ngành kinh tế, từng địa phương, ví dụ cho y tế, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông… trong 10 năm tới. Trên cơ sở đó các tỉnh, các ngành xây dựng quy hoạch nhân lực cho đơn vị mình.

Với bản quy hoạch này lần đầu tiên chúng ta có một bức tranh tổng thể, có đầu bài, có mục tiêu rõ ràng về đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế cả nước nói chung và từng ngành, từng địa phương nói riêng. Từ đó, ngành giáo dục đào tạo, dạy nghề và các ban ngành phối hợp làm cho đào tạo nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước của chúng ta. Đây là căn cứ để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, gắn bó cung và cầu trong đào tạo nhân lực.

Từ đầu bài này, toàn ngành giáo dục, dạy nghề mới chuyển động theo và lúc đó mới bố trí ngân sách đúng nhu cầu, mới kêu gọi được đầu tư, nhất là đầu tư của xã hội, của nước ngoài tham gia vào đào tạo nhân lực. Nhà đầu tư có thể xây dựng trường đại học, cao đẳng… nhưng khi hỏi đất nước này cần bao nhiêu nhân lực, trình độ gì mà không trả lời được thì họ không yên tâm đầu tư. Khi biết được đầu bài, rõ nhu cầu rồi họ sẽ tham gia.

Từ Quy hoạch phát triển nhân lực, thời gian tới các ngành, các tỉnh, từng doanh nghiệp, từng cơ quan sẽ phải cụ thể hóa trong kế hoạch phát triển kinh tế, kế hoạch làm ăn… Ngoài vấn đề lo vốn, lo đất, các đơn vị sẽ phải lo xây dựng đội ngũ và phải cùng ngành giáo dục lo đào tạo nhân lực.

Từ nay vấn đề nhân lực không phải là riêng của giáo dục và dạy nghề mà là trước hết là việc của các bộ trưởng, các Chủ tịch tỉnh, các giám đốc… Bản Quy hoạch này có ý nghĩa tạo cơ chế toàn xã hội chăm lo giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.

Có thể nói đúng vào lúc chúng ta chuẩn bị thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm của đất nước thì bản Quy hoạch phát triển nhân lực mà Thủ tướng phê duyệt là nền tảng rất quan trọng để triển khai đồng bộ, để phát triển nguồn nhân lực là khâu đột phá, làm cho nhân lực gắn với khoa học công nghệ là một giải pháp then chốt thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội giai đoạn tới; góp phần chuyển đổi từ mô hình nặng về phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, phát triển dựa vào hiệu quả và lợi thế của đất nước Việt Nam là trí tuệ Việt Nam, con người Việt Nam .

- Với bản Quy hoạch vừa được phê duyệt này, thời gian tới, các bộ, ngành sẽ phải thực hiện các công việc cụ thể gì để xây dựng nguồn nhân lực có lợi thế cạnh tranh cho đất nước, thưa Phó Thủ tướng?

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: Ngay sau khi ban hành Quyết định 1216 Bộ Kế hoạch Đầu tư hướng dẫn các bộ, các ngành phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực của chính đơn vị mình và coi đó là 1 giải pháp quan trọng, 1 trong 4 nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển ngành và kinh tế-xã hội cho các địa phương trong 10 năm tới.

Bộ Kế hoạch Đầu tư phải làm 3 việc là hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực 10 năm của đơn vị mình; xây dựng hệ thống thông tin về nhân lực trên toàn quốc để từ đó theo dõi tình hình biến động nhân lực giữa cung và cầu; ban hành tiêu chí để giám sát sự phát triển nhân lực trong cả nước (những việc này trong 2011 phải làm xong).

Với các bộ, ngành khác, Thủ tướng yêu cầu phải phê duyệt quy hoạch quy hoạch nhân lực của chính mình. Việc này có thể làm xong trong tháng 8 vì vừa qua khi chuẩn bị xây dựng bản Quy hoạch này, các cơ quan đã chuẩn bị tương đối kỹ.

Các địa phương xem xét lại kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm của mình và đưa vào đó cấu phần kế hoạch phát triển nhân lực 5 năm để làm cho kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội mang tính khả thi cao, dự kiến hoàn tất tháng 9 hoặc tháng 10.

Ngành giáo dục đào tạo và dạy nghề căn cứ vào quy hoạch nhân lực này xây dựng và phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng, đại học, dạy nghề cả nước và trình Chính phủ chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và dạy nghề (dự kiến trong tháng 8).

- Xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng!

Hoàng Hoa

 

Việt Nam đã có quy hoạch nhân lực đến 2020

 

Vietnamnet (24/07/2011)- Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng được quy hoạch nguồn nhân lực quốc gia.

Phát triển đất nước: nhân lực là nền tảng, lợi thế quan trọng nhất

Chiến lược này là Chiến lược tổng hợp cấp quốc gia để định hướng, làm cơ sở cho việc lập, trình duyệt và triển khai thực hiện các quy hoạch, chương trình và đề án phát triển nhân lực của các ngành, chuyên ngành, tổ chức và các địa phương, thông tin được đăng trên Báo Giáo dục&Thời đại.

Các cử nhân nhận bằng tốt nghiệp (Ảnh: Lê Anh Dũng)


Mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới.

Phấn đấu đến năm 2015, Việt Nam sẽ đạt 55% tỷ lệ lao động qua đào tạo; 40% tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề; 300 sinh viên ĐH, CĐ trên 10 nghìn dân; 5 trường dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế (đến năm 2020 là trên 10 trường dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế và trên trường đại học xuất sắc trình độ quốc tế); 100.000 giảng viên ĐH, CĐ…

Đến năm 2015, phấn đấu tuổi thọ trung bình của người dân đạt 74 tuổi, năm 2020 là 75 tuổi; chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam là trên 1,63m vào năm 2015 và trên 1,65m năm 2020; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dưới 10 % vào năm 2015 và dưới 5% vào năm 2020.

Để phát triển nhân lực, những giải pháp đột phá được thực hiện bao gồm: Đổi mới nhận thức về phát triển và sử dụng nhân lực; đổi mới căn bản quản lý nhà nước về phát triển và sử dụng nhân lực. Cùng với đó, tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm như: Xây dựng một số cơ sở đào tạo bậc đại học và dạy nghề đạt trình độ quốc; đổi mới đào tạo và chính sách sử dụng cán bộ, công chức; xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo và chính sách trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực, đặc biệt là hình thành và phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong quản lý hành chính, ngoại giao và kinh tế đối ngoại, quản trị kinh doanh, giáo dục, đào tạo, khoa học – công nghệ, tư vấn hoạch định chính sách, pháp lý, y học, văn hóa, nghệ thuật; thực hiện đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh; triển khai quyết liệt đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành một nước mạnh về CNTT – truyền thông”, trong đó phát triển và đảm bảo nhân lực là giải pháp hàng đầu…

Mỗi Bộ ngành và địa phương phải xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của mình. Các doanh nghiệp và tổ chức phải có kế hoạch phát triển nhân lực. Bên cạnh đó, cần sử dụng rộng rãi, hiệu quả các cơ chế và công cụ của kinh tế thị trường để mở rộng quy mô, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực và huy động các nguồn vốn cho phát triển đào tạo nhân lực…

 

Vì sao cần có quy hoạch?

Nói rõ thêm về quy hoạch này trên Báo điện tử Chính phủ, theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân: “Có một thực tiễn là nhiều năm qua việc cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế xã hội mặc dù vẫn đáp ứng nhu cầu nhưng không thể đầy đủ, đặc biệt là trong những ngành đòi hỏi nhân lực có trình độ cao. Chúng ta cũng đã tìm cách lý giải điều này nhưng chưa trọn vẹn. Qua đánh giá tình hình cuối năm 2009 đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải bổ sung một giải pháp quan trọng trong việc phát triển nhân lực đất nước. Đó là phải xây dựng một bản quy hoạch nhân lực 2011-2020.

(…)Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn và các bộ, ngành và 63 tỉnh, thành xây dựng quy hoạch nhân lực từ cơ sở. Từ đó, mới có bản quy hoạch tổng hợp về nhu cầu phát triển nhân lực quốc gia 10 năm tới.

Về việc phối hợp thực hiện giữa các bộ, ngành, địa phương vốn chưa thật tốt từ trước đến nay được PV báo đưa ra, theo Phó Thủ tướng: “Chúng ta có thuận lợi là trong một năm rưỡi qua, khi các bộ, ngành địa phương xây dựng quy hoạch thì bắt đầu có sự phối hợp chặt chẽ hơn với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Dạy nghề. Có nghĩa là bên đặt hàng là các bên quản lý ngành và bên đáp ứng là ngành giáo dục và đào tạo, dạy nghề đã có sự gắn bó với nhau trong việc xây dựng kế hoạch.

Còn sắp tới là phải triển khai kế hoạch. Ví dụ khi chúng tôi họp về quy hoạch nhân lực khu vực Tây Nguyên thì thấy 5 tỉnh Tây Nguyên cần có nhân lực về văn hóa cho đồng bào Tây Nguyên, nhưng nếu cả 5 tỉnh mà  chỉ có một trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật thì không hợp lý. Qua thảo luận đã thống nhất phương án chọn 1 trong 5 tỉnh Tây Nguyên để đặt 1 trường đại học văn hóa cho cả khu vực. Hoặc là khu vực Bắc Trung bộ có nhu cầu cần phải có một trường đại học văn hóa và trường thể thao thì thống nhất nên đặt ở Thanh Hóa vì Thanh Hóa trước đó đã có trường cao đẳng về văn hóa nghệ thuật, và trong 1 năm qua Thanh Hóa đã nỗ lực chuẩn bị rất tốt.

Trong ngày 22/7, đúng ngày Thủ tướng ký quyết định phê duyệt quy hoạch nhân lực thì cũng đồng thời đồng ý về chủ trương thành lập trường Đại học Văn hóa, Thể thao, Du lịch tại tỉnh Thanh Hóa cho vùng Bắc Trung bộ. Đó chính là sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung ương và các địa phương.

Còn một vấn  đề nữa là sẽ cụ thể hóa quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cơ sở dạy nghề cả nước. Trên cơ sở quy hoạch này, từng địa phương sẽ xây dựng quy hoạch của mình. Thủ tướng đã yêu cầu  hàng năm phải có báo cáo về kết quả thực hiện”.

Văn Chung (Tổng hợp)

(C) Vietnamnet

Dạy công dân kiểu Mỹ: ‘Bạn rất quan trọng’

Vietnamnet (23/07/2011) Giáo dục công dân là một nội dung giảng dạy quan trọng trong các trường học ở Mỹ, nhằm mục tiêu xây dựng xã hội công dân, trong đó, mỗi một người công dân thực sự làm chủ bản thân và quốc gia. Sách giáo khoa Giáo dục công dân thường do những học giả biên soạn và rất phong phú. Do đó, giáo viên tại Mỹ có rất nhiều sự lựa chọn giáo trình phù hợp. Dưới đây xin giới thiệu về một cuốn sách Giáo dục công dân do một nhóm giáo sư giáo dục học Trường ĐH Michigan biên soạn.

Phần mở đầu sách Giáo dục công dân trích dẫn câu nói của một triết gia vĩ đại “Hãy hiểu chính bản thân bạn”. Tác giả sách cho rằng nếu muốn làm một công dân tốt, trước hết bạn (You) phải hiểu rõ bản thân mình.

Phần này gồm 4 chương. Chương I bắt đầu bằng câu: “Bạn: một con người”, bàn về “Một con người lành mạnh”, “Bạn và cá tính của bạn”, “Chung sống với người khác”… cho tới “Làm một công dân tốt”.

Chương II là “Bạn: một học sinh”, bàn về “Sự khác nhau về năng lực học tập”, “Cải tiến việc học tập của bạn”, “Tỉnh táo suy nghĩ”.

Chương III là “Bạn: một thành viên gia đình”, bàn về “Các gia đình đều khác nhau”, “Các vấn đề của gia đình”, “Làm một thành viên tốt của gia đình”.

Chương IV là chương “Bạn: một công dân”, bàn về “Chính quyền trong cuộc đời của bạn”, “Lý do phải tồn tại chính quyền”.

Sở dĩ sách Giáo dục công dân mở đầu như vậy là do ngay câu đầu tiên của sách đã nói cho các em học sinh biết rằng: Nhà nước này được “xây dựng trên ý tưởng mỗi một cá nhân con người đều quan trọng cả. Chế độ chính quyền Nhà nước, hệ thống kinh tế, mối quan hệ giữa người với người xây dựng trên ý tưởng đó”. Với tư cách là một con người, một cá nhân, bạn là một yếu tố quan trọng (You are important); cho nên trong chế độ này bạn cần phải được “tự do mua bán và sở hữu, tự quyết định mình làm gì”. Chính quyền chỉ là cơ quan phục vụ bạn mà thôi. “Khi chính quyền là đầy tớ của bạn thì bạn được tự do; khi chính quyền trở thành chủ nhân của bạn thì bạn sẽ như kẻ nô lệ, không còn quan trọng gì nữa”.

Sách còn dạy các em học sinh: Vì “Cá nhân là quan trọng nhất”, nên chính quyền không thể áp đặt ý chí của mình lên các nhà kinh doanh, nhà kinh doanh không thể lừa dối khách hàng, và công đoàn phải đại diện cho lợi ích của mỗi một thành viên công đoàn, vì “Sự tự tôn của mỗi cá nhân là cao nhất”.

Các học sinh biết tự nhận thức bản thân, tôn trọng cá nhân, song đó không có nghĩa là coi cá nhân mình trên hết. Là một cá nhân, không ai hoàn hảo nên tự mỗi người phải nhận thức được và sửa chữa các nhược điểm của mình.

Một công dân tốt thì phải có tính dân chủ. Bàn về dân chủ đưa tới kết luận là chớ nên bắt người khác phải chịu cái gì chính mình không muốn. Bạn không muốn bị thiệt ư? Thế thì bạn chớ có làm người khác bị thiệt.

Do đó các em học sinh phải biết kiềm chế bản thân. “Một công dân tốt là một người giỏi điều chỉnh bản thân mình”, “là một người luôn luôn học hỏi”, “biết suy nghĩ”, dưới tiền đề đó mới là “một người có thể hành động”.

Một công dân tốt là một người trung với đất nước mình. Điều đó nghĩa là bạn phải có thái độ xây dựng chứ không được có thái độ phá hoại: Giả thử chính quyền làm gì sai trái thì bạn phải nghiêm khắc phê bình chính quyền – như thế là bạn mong muốn họ cải tiến công việc; thái độ như vậy của bạn là có tính xây dựng. Giả thử rõ ràng bạn phát hiện thấy Nhà nước đi theo con đường sai lầm mà bạn lại vẫn nói rằng Nhà nước đi đúng đường, đúng lắm – thì đó là thái độ phá hoại.

Với tư cách là một công dân mẫu mực thì “điểm số môn học chỉ có tác dụng rất hữu hạn trong việc đánh giá hoạt động tinh thần”, điểm số cao chỉ đánh giá “thành tích học ở trường” mà thôi, chứ không đánh giá “thành tích cuộc đời của bạn”. “Chỉ số trí tuệ là thứ luôn thay đổi” mà “trí lực là tổ hợp của các năng lực khác nhau”.

Là một công dân mẫu mực thì cần phải nắm được cách “suy nghĩ tỉnh táo”. Tác giả cuốn sách cho rằng biết tỉnh táo suy nghĩ là một trong những phẩm chất cơ bản nhất để làm người công dân tốt. Nếu không biết tỉnh táo suy nghĩ thì dù ban cho bạn quyền dân chủ đi nữa thì bạn vẫn có thể bị người khác chi phối và lợi dụng.

 

 

 

Vậy như thế nào mới gọi là tỉnh táo suy nghĩ?

Trước hết, “sự suy nghĩ của bạn phải dựa trên cơ sở sự thật”. Cho nên một tiền đề vô cùng đơn giản là bạn phải có quyền biết toàn bộ sự thật. Một chính quyền phục vụ xã hội công dân thì phải để cho thông tin tin tức được tự do lưu thông, để cho toàn bộ công dân đều nắm được sự thật. Một xã hội không có tiền đề như thế thì rất khó có các công dân đạt tiêu chuẩn.

Sách còn kiến nghị các học sinh không những biết sự thật mà còn phải “không ngừng nhận thức các sự vật phát hiện mới nhất”; sau khi nắm được sự thật, một người tỉnh táo suy nghĩ “cần phải có thể giải quyết được các vấn đề”.

Sách còn vạch ra cho học sinh thấy các chỗ sai lầm, thấy “dòng suy nghĩ không rõ ràng” mà họ rất dễ rơi vào. Trước hết, không thể có “suy nghĩ nguyện vọng” với khuynh hướng lý tưởng hóa; chẳng hạn không thể trong lòng mong muốn thực hiện một xã hội lý tưởng hóa thì nhận định là xã hội đó chắc chắn sẽ thực hiện được.

Cũng nên tránh “tư duy theo tâm trạng”: mỗi người chúng ta đều có cách nhìn một chiều, chúng ta đều có những việc mình thích và không thích, song ta chớ nên để chúng ảnh hưởng tới suy nghĩ tỉnh táo của ta”, nếu không sẽ khó tránh khỏi đi tới chỗ cực đoan. Những cách suy nghĩ cực đoan ấy “đều sẽ gây thiệt hại lớn nhất cho Nhà nước và xã hội”. Các em học sinh không nên vội vã kết luận sự việc. Suy nghĩ phải xuất phát từ sự thực, tức là nói “chớ nên xuất phát từ quan niệm”, chớ nên xuất phát từ chủ nghĩa mình theo đuổi.

Bạn là những người chồng, người vợ, các bậc cha và mẹ trong tương lai: Làm một thành viên gia đình tốt là cơ sở để làm một công dân tốt. Trong xã hội có nhiều loại gia đình khác nhau, gia đình nào cũng có các vấn đề tồn tại của mình, giải quyết các vấn đề trong gia đình là việc rất không dễ dàng mà hạnh phúc thì tùy thuộc vào cách sống của bạn, vào sự quan tâm và tình yêu của bạn đối với các thành viên gia đình.

 

Tuy sách Giáo dục công dân không thể giải quyết được những chuyện phức tạp trong cuộc sống mà các trẻ em sau này sẽ phải đối mặt, nhưng nó chuẩn bị tư tưởng cho bạn, bảo cho bạn hiểu rằng “giá trị gia đình” là điều kiện cơ bản của một công dân tốt. Trước khi quan tâm đất nước, xã hội và người khác, cần quan tâm và yêu quý người trong gia đình mình.

Sau cùng cuốn sách mới đưa ra cho các em học sinh khái niệm “tự quản”. Tự quản được xây dựng trên cơ sở mỗi công dân đều có tính dân chủ; cách quản lý bằng quyền lực không phải là sự tự quản dân chủ.

 

 

Trong gia đình có vấn đề quản lý gia đình, trong trường học có vấn đề quản lý trường học. Sách khuyến khích các trẻ em: Ngay từ nhỏ các bạn đã có thể thử nghiệm, nắm được cách tổ chức các kiểu đoàn thể quần chúng; trước khi “nhân dân định ra quy chế” thì mỗi cá nhân cần nhận thức và tự hoàn thiện bản thân, dám gánh chịu trách nhiệm; học được cách chung sống bình đẳng với người khác.

Sách Giáo dục công dân nói trên dạy cho bạn biết một cách rất cụ thể về dân chủ. Bạn muốn cải tạo xã hội ư? Trước hết hãy bắt đầu bằng cách cải tạo bản thân mình thành một công dân tốt. Và cuối cùng bạn sẽ thấy sự chuẩn bị (thành một công dân tốt) ấy lại làm cho cuộc sống của bạn và của người khác đều trở nên dễ dàng hơn. Điều đó nhất trí với điểm xuất phát ban đầu, đó tức là: Hạnh phúc của cá nhân là điều quan trọng nhất. Bởi vậy bài học đầu tiên của sách giáo dục công dân là nói về “bạn” (You)

 

·         Nguyên HảiLược dịch theo Duzhe 2005.21 - Bài viết đăng trên tạp chí Tia Sáng với tựa đề “Bạn rất quan trọng”

(C) Vietnamnet

Đổi mới trong công tác giảng dạy, NC và quản lý GDĐH

TTXVN (14/07/2011) Trong hai ngày 14 – 15/7, tại TP.Hồ Chí Minh, Trung tâm Đào tạo Khu vực của SEAMEO tại Việt Nam phối hợp với Hội đồng Anh tổ chức Hội thảo “Đổi mới trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý giáo dục đại học” với sự tham dự của hơn 160 cán bộ lãnh đạo và quản lý, giảng viên, cán bộ nghiên cứu đến từ các trường đại học và cao đẳng, các tổ chức giáo dục trong khu vực và nhiều nước trên thế giới.

Hội thảo tập trung vào 5 chủ đề: ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới dạy và học; nghiên cứu khoa học phục vụ công tác quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo; đổi mới quản lý giáo dục phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo; đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục đại học; phân quyền và đổi mới trong quản lý trường học.

TS Nguyễn Thị Lê Hương, Phó Vụ trưởng Vụ Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cho biết, tính đến tháng 1/2011 Việt Nam có 414 trường giáo dục, đào tạo, trong đó gồm 188 trường đại học và 226 trường cao đẳng. Từ năm 2000 đến nay, trung bình mỗi năm Việt Nam đào tạo 650 tiến sĩ trong nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng trường đại học nghiên cứu và tập trung hợp tác nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế, nhất là các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.

TS Nguyễn Khắc Hùng, Phó hiệu trưởng Đại học Sài Gòn cho biết: Để nền giáo dục Việt Nam phát triển đồng bộ với trình độ giáo dục tiên tiến của thế giới, khâu cốt lõi vẫn là đổi mới chương trình đào tạo, trong đó đổi mới nội dung môn học và phương pháp giảng dạy phải được song hành với nhau.

Bên cạnh những phân tích chuyên sâu về phương pháp dạy và học bậc đại học tại Việt Nam, hội thảo cũng nhận được những chia sẻ kinh nghiệm quý báu của các chuyên gia nước ngoài về những mô hình giảng dạy hiệu quả như: Sử dụng bản đồ minh họa làm công cụ giảng dạy tại các trường đại học Nhật Bản; Ứng dụng công nghệ của Wikis cá nhân trong giáo dục đại học; Sự đa dạng của giáo dục đại học tư thục tại Macau; Chương trình ERASMUS: Kinh nghiệm từ Thổ Nhĩ Kỳ…/.

(C) TTXVN

Cty AIC & Viện HL các KH Hệ thống Nga ký kết đào tạo

Dân Trí (13/07/2011)  - Ngày 13/7, tại Hà Nội, Công ty cổ phần Tiến bộ Quốc tế (AIC) và Viện Hàn lâm các Khoa học Hệ thống CHLB Nga (MASI) ký kết đào tạo hợp tác trong các lĩnh vực Nghiên cứu Khoa học Công nghệ và Đào tạo nhân lực cho Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Tổng giám đốc Công ty AIC và Viện sỹ, Giáo sư, Tiến Sỹ khoa học Dorokhov Igor N.
- Chủ tịch Viện Hàn lâm các Khoa học Hệ thống CHLB Nga ký kết đào tạo.

Hợp tác trong các lĩnh vực Nghiên cứu Khoa học Công nghệ và Đào tạo nhân lực cho Việt Nam của 2 đơn vị với các nội dung cụ thể ở các lĩnh vực Khoa học Công nghệ bao gồm: Môi trường và sinh thái, các hệ thống thông tin trong Quản lý kinh tế ngành và vùng, Hệ thống thông tin về kiểm soát ô nhiễm môi trường, các công nghệ mới xử lý nước thải, rác thải đô thị và công nghiệp…

Các lĩnh vực đào tạo nhân lực và trao đổi chuyên gia bao gồm Đào tạo Sau đại học theo các Hệ chính quy và Hàm thụ tại các Viện nghiên cứu của MASI tại CHLB Nga và trao đổi chuyên gia để các nhà khoa học và các Viện nghiên cứu của MASI có thể tham gia tư vấn, hướng dẫn hoặc cùng nghiên cứu trong các lĩnh vực khai thác, chế biến tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường của Việt Nam.
Viện Hàn lâm khoa học Nga thực hiện hỗ trợ cho Việt Nam các chương trình đào tạo cán bộ tại Nga và đưa các chuyên gia sang Việt Nam đào tạo nhân lực Việt Nam thông qua bên Công ty AIC.

Chương trình ký kết thực hiện bắt đầu từ ngày 13/7/2011và thời hạn của hợp đồng là 10 năm.

Hồng Hạnh

(C) Dân Trí

 

Next