Posts Tagged 'Formation'

Des diplômes de mastère du Pôle universitaire français à 35 étudiants de Hô Chi Minh-Ville

CVN (20/06/2011) – Le Pôle universitaire français (PUF) – Université nationale de Hô Chi Minh-Ville (VNUH), a organisé le 17 juin une cérémonie de remise du diplôme de mastère en technologies de réseau information et du logiciel et de mastère en biotechnologies à 35 étudiants vietnamiens de la 3e promotion.

Cette promotion est satisfaisante puisque ont été délivrés 16 masters en technologies de réseaux informatiques, neuf en logiciel et dix en biotechnologies. Parmi eux, 70% ont bénéficié de bourses et de stages en France, et 20% ont suivi la formation en doctorat à l’étranger.

La plupart des mémoires de fin d’études réalisés en six mois par ces étudiants ont été appréciés des professeurs et docteurs d’universités vietnamiennes et françaises. Quatre mémoires portant sur les technologies de l’information (TI) ont été estimés “excellents”. En particulier, celui “Mise en œuvre des IPSec VPN sur firewall non-standard” de Lê Ngoc Son permet d’améliorer sensiblement la sécurité des réseaux informatiques des entreprises et de défense nationale. Ou encore “Évaluer et améliorer la qualité des transmissions multimédia sur les réseaux pairs” de Huynh Da Thuc. Suivant des études en logiciel, Trân Thanh Tùng a eu la chance de travailler en France sur le sujet “Recensement des causes de panne système basé sur un graphique “, sous la direction du Professeur Alain Griffault de l’Université de Bordeaux 1. Ce logiciel permet d’identifier les problèmes d’un grand système complexe de l’aviation. Thanh Tùng a déclaré qu’après “mon diplôme, je veux obtenir une bourse de doctorat à Bordeaux 1 car les conditions de recherche au sein de l’institut LaBRI sont excellentes.”

Le programme de mastère en technologies de l’information est le fruit d’une coopération entre l’Université Pierre et Marie Curie-Paris 6 et l’Université de Bordeaux 1 avec les PUF-VNUH. Le cursus de biotechnologies enseigné au PUF repose sur d’étroites relations entre l’Université des sciences naturelles (membre de VNUH) et son homologue de Paris-Sud 11. Ces programmes de deux ans sont entièrement dispensés en anglais, et les étudiants ont la possibilité de compléter leur étude par un stage en France.

En plus des cursus disponibles, le PUF prépare l’ouverture de deux autres en coopération avec l’Université Toulouse 2-Le Mirail et celle de Montpellier 2.

Quang Châu/CVN
20/6/2011

(Source: http://lecourrier.vnagency.com.vn/default.asp?page=newsdetail&newsid=73169)

28 sinh viên Việt Nam khiến hiệu trưởng ĐH Mỹ “kinh ngạc”

TTO – Chương trình Học giả VN của Intel hỗ trợ đào tạo về nhân sự làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao của VN vừa cho kết quả đầu tiên: 28 sinh viên sang Mỹ học về cơ khí và điện tử đã tốt nghiệp xuất sắc ngày 13-6.

 

[caption id="attachment_1344" align="aligncenter" width="500" caption="24/28 sinh viên Việt Nam vừa tốt nghiệp khóa điện tử và cơ khí theo học bổng IVS tại ĐH Portland State, Oregon, ngày 13-6 - Ảnh: Melinda Lam"]24/28 sinh viên Việt Nam vừa tốt nghiệp khóa điện tử và cơ khí theo học bổng IVS tại ĐH Portland State, Oregon, ngày 13-6 - Ảnh: Melinda Lam[/caption]

 

Đây là những “tài sản thật sự” cho Việt Nam -  chủ tịch Trường ĐH Portland (bang Oregon, Mỹ) Wim Wiewel nhận xét về các sinh viên đến từ Việt Nam theo học tại trường.

Theo tiến sĩ khoa học Rengjeng Su, hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học máy tính và kỹ thuật Maseeh thuộc ĐH Portland State, bang Oregon, 28 sinh viên của Việt Nam đã có kết quả điểm trung bình là 3.8/4.0, thuộc loại xuất sắc (2.0 là đủ để tốt nghiệp).

Trong số đó, có 5 sinh viên đạt điểm số trung bình 3.9-4.0, tức điểm cao tuyệt đối.

“Tôi cho rằng họ đã rất tập trung và nghiêm túc trong học tập, với sự thông minh vượt trội - ông nói vớiTuổi Trẻ - Họ khiến chúng tôi ngạc nhiên, và cảm thấy rất khó khăn khi cho điểm các sinh viên khác, vì điểm của họ quá cao”.

Trong quá trình học tập, các sinh viên Việt Nam và quốc tế đã thực hiện các đồ án giải quyết các vấn đề mà Intel gặp phải nên mang tính ứng dụng rất cao.

 

Cách đây hai năm, sau khi nhận thấy nguồn nhân lực, đặc biệt là các kỹ sư và kỹ thuật viên lành nghề ở Việt Nam chưa đủ đáp ứng yêu cầu hoạt động tại nhà máy được đầu tư 1 tỉ USD ở Việt Nam – vốn là dự án đầu tư lớn nhất của nước ngoài vào Việt Nam từ trước tới nay, Công ty TNHH Intel Products Việt Nam đã đưa ra kế hoạch đào tạo tổng số 52 kỹ sư, chọn lựa từ những sinh viên năm thứ 3 và 4 tại các trường ĐH kỹ thuật hàng đầu ở Việt Nam, với tổng chi phí khoảng 4 triệu USD trong hai năm.

Đây là dự án mà giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục – đào tạo Việt Nam khi đó nhận định “là sự đóng góp vô cùng quý báu trong chiến lược đào tạo lớp nhân tài trẻ về khoa học kỹ thuật trong tương lai của Việt Nam”.

IVS là chương trình gửi sinh viên của một nước mà Intel đến đầu tư đi học nước ngoài duy nhất mà hãng sản xuất chip bán dẫn lớn nhất thế giới này thực hiện kể từ khi ra đời năm 1968 tại Mỹ. Đây cũng là một phần trong  trong cam kết của Intel nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghệ cao của Việt Nam.

 

Trần Ngọc Anh Đức, 22 tuổi, trước khi sang Mỹ hoàn thành nốt chương trình ĐH đã đang là sinh viên năm 3 của ĐH Bách khoa Hà Nội.

Tốt nghiệp với điểm trung bình thuộc mức được đeo sợi dây màu xanh (điểm trung bình 3.7 đến dưới 3.8), Đức cho biết điều lớn nhất bạn học được từ môi trường ĐH ở Mỹ chính là tinh thần “không sợ phạm sai lầm”, luôn sẵn sàng thay đổi và sẵn sàng mạo hiểm để thành công.

“Có rất nhiều bạn cùng lứa học giỏi hơn tôi, nhưng có thể họ đã không chuẩn bị kỹ như tôi để có thể có học bổng đi du học và bước ra biển lớn” - Đức cho biết.

Đợt sinh viên thứ 2 gồm 24 sinh viên học về điện tử, cơ khí và kinh doanh sẽ tốt nghiệp vào năm 2012, “và họ đã chứng minh tiếp tục lực học vượt trội của mình” – đại diện của Trường Maseeh cho biết.

Sau khi hoàn thành đợt học, các sinh viên này sẽ làm việc cho Intel trong vòng ba năm trước khi họ có thể tùy ý chọn nơi làm việc.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Rick Howarth, tổng giám đốc Công ty TNHH Intel Products Việt Nam, cho biết hiện nhà máy đặt tại Khu công nghệ cao (quận 9, TP.HCM) đã tuyển dụng được 900 nhân viên làm việc, và mỗi năm trung bình sẽ tuyển dụng thêm 500 nhân viên cho tới khi có đủ nhân lực khoảng 3.000 nhân viên, vận hành được toàn bộ công suất của nhà máy lắp ráp và kiểm định lớn nhất thế giới của Intel.

“Tùy tình hình, chúng tôi có thể xây thêm nhà máy và tuyển dụng thêm nhân sự Việt Nam” - ông nói.

KHỔNG LOAN (Từ ĐH Portland State, Oregon)

(Nguồn: tuoitre.vn)

Đào tạo tiến sĩ gắn với nghiên cứu khoa học: Chuyện dài chưa có hồi kết

“Đào tạo tiến sĩ gắn với nghiên cứu khoa học ở nước ngoài là chuyện bình thường nhưng ở Việt Nam đó lại là chuyện chưa đương nhiên. Thực tế, hai việc này còn tách rời nhau”. Đó là nhận xét của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân tại hội thảo gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ trong các cơ sở đào tạo sau ĐH do Bộ GD-ĐT và ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 14-7 tại Hà Nội.

[caption id="attachment_780" align="aligncenter" width="405" caption="Ảnh minh họa (C) Internet"][/caption]

Mất cân đối

Theo Vụ Khoa học và Công nghệ môi trường, Bộ GD-ĐT, cả nước hiện có 137 cơ sở đào tạo tiến sĩ. Trong đó, có 70 viện nghiên cứu, 17 học viện và 50 trường ĐH. Điều này cho thấy, các trường ĐH đào tạo cả ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ có nhiều thuận lợi hơn trong tuyển sinh nghiên cứu sinh (NCS) chỉ chiếm tỷ lệ 35,5% trong tổng số các cơ sở đào tạo tiến sĩ trong cả nước. Trong quy mô đào tạo tiến sĩ của Việt Nam hiện nay, theo ông Tạ Đức Thịnh, Vụ Khoa học và Công nghệ môi trường thì trong 5 năm (2002 – 2006), cả nước có 134 chuyên ngành đào tạo không có NCS, 93 chuyên ngành đào tạo chỉ có 1 NCS, 504 chuyên ngành đào tạo mỗi năm bình quân không quá 1 NCS. Trong khi đó, có tới gần 32,5% NCS đã nhập học tập trung vào 55 chuyên ngành đào tạo được ưa chuộng. Nếu xét về nhóm ngành, ông Thịnh cho biết có sự mất cân đối về số chuyên ngành đào tạo của mỗi nhóm ngành. Cụ thể, nhóm báo chí và truyền thông chỉ có 1 chuyên ngành, nhóm thể thao có 2 chuyên ngành. Trong khi đó, nhóm khoa học tự nhiên có tới 120 chuyên ngành và nhóm y dược có 151 chuyên ngành được tiến hành đào tạo. Việc phân bổ cán bộ khoa học giữa các chuyên ngành đào tạo tiến sĩ hiện cũng đang rất mất cân đối. Viện Toán học có 4 NCS/190 cán bộ khoa học, Viện Nghiên cứu địa chất và khoáng sản có 2 NCS/127 cán bộ khoa học, ĐH Thuỷ lợi có 6 NCS/210 cán bộ khoa học. Trong khi đó, nhiều chuyên ngành đào tạo phải dựa vào nguồn cán bộ khoa học từ bên ngoài thỉnh giảng mới đủ điều kiện thành lập Hội đồng bảo vệ luận án cho NCS. Có tới 60,3% cán bộ khoa học không có chức danh khoa học và 90 cơ sở đào tạo có trên 50% cán bộ khoa học không có chức danh khoa học. Đặc biệt, có tới 75% cán bộ khoa học của Việt Nam có độ tuổi trên 50 và điều này cũng nói lên thực trạng thiếu cán bộ khoa học kế cận.
Cái mới trong luận án tiến sĩ: mò kim đáy bể

Phát biểu khai mạc tại hội thảo, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã kể một câu chuyện: “Có lần tôi gặp hiệu trưởng một trường ĐH có uy tín về đào tạo tiến sĩ. Tôi có hỏi trong luận án tiến sĩ của NCS của trường có gì mới không. Vị hiệu trưởng này trả lời không có gì mới cả. Vì những cái mới, thế giới đã làm hết rồi”. Người đứng đầu ngành giáo dục cũng băn khoăn khi nhiều NCS sau khi làm xong luận án hỏi cái mới, không thể viết ra được một trang cái gì là của mình. Đây là một thực tế. GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó giám đốc ĐHQG Hà Nội còn hóm hỉnh khi cho rằng: cái mới thường gặp ở các luận án tiến sĩ của NCS Việt Nam đó là “lần đầu tiên trình bày một cách hệ thống vấn đề này”. Theo GS Giang, đề tài nghiên cứu của các NCS Việt Nam còn vĩ mô, chưa thực tế. Bộ GD-ĐT cho biết trong năm 2006 có tới 557 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ không có một giải thưởng nghiên cứu khoa học nào. Hầu hết các cơ sở đào tạo không có phát minh sáng chế hay bằng sở hữu trí tuệ và có đến 21 cơ sở đào tạo không triển khai mới một đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học từ cấp Bộ trở lên.
Theo Phó thủ tướng, hiện nay ở nhiều trường ĐH do quy mô đào tạo tăng nhanh bao trùm tất cả các cấp đào tạo, các hình thức đào tạo nên giảng viên phải dạy quá nhiều, không có thời gian đi thực tế và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó quy định “cứng” về thời gian hoàn thành đã hạn chế chất lượng của các công trình nghiên cứu. Do đó, Phó thủ tướng cho biết, thời gian tới, thời gian không còn khắt khe nữa, các cơ quan sẽ đi vào quản lý chất lượng, không quản lý thời gian. Tuy nhiên, để các đề tài có chất lượng, điều kiện bắt buộc phải có 1 năm làm việc tại trường. Không có chuyện ở chỗ khác cũng làm được tiến sĩ. Đồng thời, kinh phí cho nghiên cứu khoa học cũng được tăng lên.
Nghiêm Huê

(Nguồn: giaoduc.edu.vn)

Philíppin thu hút sinh viên nước ngoài nhờ khóa học giá rẻ

Với hơn 2.100 cơ sở giáo dục công lập cũng như tư nhân, cung cấp hàng loạt khóa học chất lượng cao, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh với chi phí thấp, cùng chính sách nhập cư khá thân thiện, Philíppin ngày càng thu hút nhiều sinh viên nước ngoài tới đây nhập học. Cục di trú nước này cho biết, tính đến thời điểm kết thúc khóa học trong tháng 3/2011, đã có gần 20.000 sinh viên du học ở Philíppin và con số này sẽ tăng lên khi khóa học mới khai giảng vào tháng 6 này. Đó là chưa tính đến hàng chục ngàn sinh viên, phần lớn đến từ Hàn Quốc và Trung Quốc, đăng ký tham gia các cơ sở đào tạo nhỏ lẻ với những khóa giảng dạy bằng tiếng Anh ngắn hạn.

Sinh viên y khoa người Nigiêria Dike Edward Ikechukwu, 22 tuổi, nói rằng anh biết đến các khóa học ở Philíppin nhờ một chương trình triển lãm giáo dục do các trường học tại thủ đô Manila thực hiện. Mặc dù đang theo học ngành dược tại thành phố Lagos, Ikechukwu đã quyết định du học với mục đích nâng cao kiến thức đồng thời không trở thành gánh nặng kinh tế cho gia đình. “Học phí tương đối hợp lý với tôi. Nếu theo một khóa học có chất lượng tương đương tại Mỹ sẽ tốn kém hơn rất nhiều”, Ikechukwu, hiện là chủ tịch hiệp hội sinh viên nước ngoài gồm 605 thành viên tại Đại học Santo Tomas ở Manila, nói. Một khóa học kéo dài bốn năm tại Philíppin có chi phí từ 1.000 – 2.500 USD/năm, rẻ hơn nhiều so với học tại Mỹ, nơi hàng năm mỗi sinh viên có thể phải tiêu tốn hơn 30.000 USD. Trước khi Ikechukwu du học Philíppin, bố của anh, vốn là một nhà tư vấn vận tải đường thủy, đã tới đất nước này tìm hiểu về hệ thống trường học và rất hài lòng với việc tiếng Anh được sử dụng rộng rãi tại đây.
Dike Edward Ikechukwu (phải) và Beryl France Buendia (thứ hai từ trái sang) cùng các sinh viên nước ngoài khác tại Đại học Santo Tomas. Ảnh: AFP/TTXVN


Beryl France Buendia, sinh viên Mỹ đang theo học một khóa vật lý trị liệu tại Đại học Santo Tomas, cho rằng học tập tại Philíppin không làm cô gặp khó khăn khi tìm việc làm ở Mỹ. “Tôi tin rằng tấm bằng ở Philíppin cũng có sức cạnh tranh không kém gì của Mỹ”, cô sinh viên 22 tuổi này cho biết, đồng thời cũng nói thêm rằng chi phí cũng là một nhân tố có ảnh hưởng lớn cho quyết định du học tại Manila của mình.

Đối với sinh viên khoa tâm lý 18 tuổi người Hàn Quốc, Juhyun Kim, thì việc học tiếng Anh và chi phí thấp cũng là lý do quan trọng để cô đăng ký học tại Đại học Ateneo de Manila. Cô cũng nói việc mình chọn du học tại Philíppin còn là do người dân nơi đây nổi tiếng thân thiện.

Theo số liệu của chính phủ, mặc dù Philíppin là một trong những nước nghèo nhất châu Á cùng sự phân hóa giàu – nghèo khá rõ rệt, nhưng tỉ lệ người dân được đi học chiếm gần 90%. Từ những năm 1980, chính phủ nước này đã bắt đầu khuyến khích thu hút sinh viên nước ngoài tới đây học tập, phần lớn là trong các lĩnh vực chuyên ngành như y, dược và nông nghiệp. Chỉ trong vòng một thập kỷ sau đó, tại Philíppin đã có sự bùng nổ các trường học và cơ sở giáo dục cung cấp những khóa học ngắn hạn với nhiều chuyên ngành như tiếng Anh, hàng không, quản lý khách sạn và nhà hàng, cùng các ngành nghề liên quan đến hàng hải.

Từ năm 2000, chính phủ Philíppin đã thực hiện chiến dịch nhằm biến nước này trở thành một trung tâm giáo dục tại châu Á, nhờ chính sách cấp thị thực dễ dàng hơn cho sinh viên nước ngoài. Đồng thời, các chương trình trao đổi sinh viên giữa các trường của Philíppin với nhiều nước khác như Ốtxtrâylia, Mỹ, Hàn Quốc, Canađa, các nước châu Âu, cũng được thành lập.

Giáo sư Evelyn Songco, trợ lý hiệu trưởng phụ trách các vấn đề sinh viên ở Đại học Santo Tomas, cho biết việc có được số lượng lớn sinh viên tới Philíppin học tập là nhờ chính sách mạnh mẽ của chính phủ nhằm biến nước này trở thành một “thánh địa học thuật” tại châu Á. Bà Songco nói: “Nhiều trường học của Philíppin rất nổi tiếng ở nước ngoài và các sinh viên tốt nghiệp tại đây đã tạo được ấn tượng tốt trên khắp thế giới. Tấm bằng tốt nghiệp của chúng tôi có sức cạnh tranh và các trường đại học của Philíppin luôn nỗ lực hoàn thiện sao cho học phí do các sinh viên nước ngoài chi trả tương xứng với những gì họ đáng được hưởng”.

Quang Minh (theo AFP)

(Nguồn: baomoi.com)

ĐH Northwestern tiếp tục mở khóa đào tạo Thạc sĩ QTKD tại Việt Nam

Vào tháng 8 tới, Trường Kinh doanh thuộc đại học Northwestern (UNW) – Thụy Sỹ tiếp tục mở khóa đào tạo Thạc sĩ Quản trị kinh doanh quốc tế tại Việt Nam. Chương trình được thiết kế học hoàn toàn bằng tiếng Anh.

Để thực hiện tại chương trình Thạc sỹ QTKD tại Việt Nam, Trường Kinh doanh thuộc đại học Northwestern (UNW) – Thụy Sỹ đã hợp tác với Khoa Quản trị Kinh doanh (HSB) – ĐHQGHN, Viện Quản trị Kinh doanh (HSB) - Trường ĐH FPT cùng thực hiện.

Trường đại học Northwestern, Thụy Sỹ đã tham gia vào tiến trình Bologna – sáng kiến cải cách giáo dục đại học của các nước châu Âu. Đến nay đã có 47 quốc gia tham gia vào tiến trình Bologna trong đó có nhiều trường đại học nổi tiếng thuộc các nước mạnh về giáo dục như Anh, Pháp, Đức, Thụy Sỹ…

Theo đó, Chương trình MBA liên kết với trường đại học Northwestern được triển khai đảm bảo chất lượng giáo dục và thống nhất trên toàn châu Âu. Học viên tham gia theo học chương trình được đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng cao và được công nhận văn bằng, chứng chỉ, thời gian học tập giữa các trường trong hệ thống Bologna. Học viên học xong từng phần sẽ được cấp các tín chỉ ECTS (hệ thống chuyển đổi và tích lũy tiến chỉ châu Âu) tạo điều kiện để các học viên có thể chuyển đổi học ngang, dọc với các trường khác thuộc quốc gia khác trong liên minh châu Âu.
Lớp học MBA tại khoa HSB – ĐH Quốc gia Hà Nội

Tại Việt Nam, các học viên Chương trình được thiết kế chuyên biệt cho các nhà quản trị trung và cao cấp trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm giúp họ ứng dụng kiến thức vào tình huống thực tiễn diễn ra trong doanh nghiệp. Chương trình được giảng dạy bởi70% các giáo sư nước ngoàivới kinh nghiệm chuyên sâu trong bối cảnh quốc tế.

Giáo sư Volker Schulte – Giảng viên Quản trị học Đại học Northwestern, Thụy Sỹ cho biết: “Chúng tôi cam kết mang lại cho các học viên nhiều kiến thức thực tiễn để họ có thể áp dụng những kiến thức ấy vào công việc kinh doanh ngay cả khi họ vừa học vừa điều hành công việc. Tại Việt Nam chúng tôi đã hợp tác rất thành công với HSB – một trong những trường đúng với tiêu chí chọn lọc của chúng tôi. Chúng tôi đảm bảo tối thiểu 2/3 thời lượng học trong chương trình do giảng viên đến từ ĐH Northwestern phụ trách”.

Là học viên đã tham gia khóa học trước, ông Hà Anh Tuấn, giám đốc Dự án – Công ty Kinh doanh Thiết bị Viễn thông tâm sự: “Khóa học đã diễn ra gần 2 năm, đã làm thay đổi tôi. Tôi nói điều này không có ý marketing cho quyết định của tôi và cho nơi tôi đang theo học nhưng thực sự là như vậy. Kiến thức cơ bản ban đầu của tôi không liên quan gì nhiều tới quản trị và kinh tế. Có thể nói tôi thực sự như một tờ giấy trắng, tuy nhiên sau gần 2 năm sau, tôi nhận thấy mình đã hoàn toàn thay đổi và dám khẳng định rằng quyết định lựa chọn của tôi học chương trình EMBA tại HSB là hoàn toàn đúng đắn. Tôi đã có những mối hoài nghi, tuy nhiên chỉ ngay sau đó, tôi đã nhận ra những sự khác biệt. Có nhiều môn học và tất cả đều rất thực tế và ngay trong khi học tôi và nhiều bạn cùng lớp khác đã có thể áp dụng ngay được. Đây là kết quả ngoài sự mong đợi của tôi nhưng đó là sự thật.”

Chương trình học hoàn toàn bằng Tiếng Anh, được bố trí học vào buổi tối và cuối tuần để giúp các nhà doanh nghiệp bận rộn có thể sắp xếp lịch trình của mình hiệu quảvà quan trọng hơn là học viên có thêm thời gian để trau dồi các kiến thức học được vào công việc thực tiễn. Tổng thời gian học (ước tính): 21 tháng.

Khóa học 2011 – 2012 sẽ được khai giảng vào 25/08 – 26/08/2011. Thời gian nộp và tư vấn hỗ trợ về hồ sơ từ nay đến ngày 5/07/2011. Để vào học chương trình, các học viên phải thi đầu vào (phỏng vấn & viết luận kinh doanh) tháng 7/2011. Thông tin chi tiết vui lòng truy cập website:http://fsb.edu.vn/default.aspx?p=232
Liên hệ:

Bộ phận Tư vấn & Tuyển sinh - Các Chương trình MBA

Địa chỉ:Viện QTKD (FSB) – Nhà C – Trường Quốc tế Việt-Úc – Khu Đô thị Mỹ Đình I – Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam

ĐT: +84-4-62 871 918 Máy lẻ: 309/310

Fax: +84-4-62 871 828

Hotline:+84-167-267-9999

Thư điện tử: Admissions@hsb.edu.vnAdmissions@fsb.edu.vn

Bùi Quang Cường

 

Next