Posts Tagged 'Research'

GS Nguyễn Văn Tuấn: Trung Quốc là cọp giấy khoa học?

Bee.net.vn (01/08/2011) -  Mới đây, một nhà khoa học TQ bị buộc phải rút lại 70 bài báo ông đã công bố vì ngụy tạo dữ liệu. Có người cho rằng, đó là cái giá Trung Quốc phải trả cho vị trí số 2 về số lượng ấn phẩm khoa học.

LTS: Ngày 28/7/2011, tờ Wall Street Journal/Mỹ đăng bài báo “Chinese Innovation Is a Paper Tiger”.  Hai tác giả người gốc Trung Quốc và Ấn Độ kết luận, về sáng tạo và khoa học, Trung Quốc chỉ là con cọp giấy. GS Nguyễn Văn Tuấn, từ Australia đã có bài viết trình bày các  dữ liệu khác để củng cố cho nhận xét của hai tác giả trên. Nhiều dữ liệu dựa trên trải nghiệm của cá nhân tác giả. Để rộng đường dư luận, Bee.net.vn xin giới thiệu bài viết.
 

Cách tốt nhất để biết khoa học Trung Quốc (TQ) đang đứng đâu là đọc báo cáo khoa học của UNESCO. Tính chung, khoa học TQ đứng hạng 18 trên thế giới, sau Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Australia, nhưng cao hơn Hàn Quốc (hạng 21) và Singapore ( hạng 31). Chúng ta có thể thấy xu hướng khoa học của TQ trong mấy năm qua như sau:

1. Năm 2000, TQ có khoảng 695 ngàn nhà nghiên cứu. Năm 2008, họ có 1.6 triệu nhà nghiên cứu. Một sự tăng trưởng gấp 2,3 lần trong vòng có 8 năm. Con số này cho thấy TQ quyết tâm đầu tư vào con người khoa học.

2. Số ấn phẩm khoa học TQ tăng nhanh trong 10 năm qua. Trong 10 năm 1998-2008, TQ công bố được 573.486 bài báo khoa học, phải đặt trong bối cảnh chung mới thấy kém hơn nhiều so với Mỹ (2.959.661 bài), Nhật (796.807 bài), Đức (766.146), Anh (678.686). Tuy nhiên, số liệu gần đây cho thấy TQ đã vượt qua Nhật và đứng hạng hai về số ấn phẩm khoa học.

3. Chất lượng nghiên cứu khoa học của TQ còn rất thấp. Chỉ số trích dẫn trung bình của TQ la là 4.61/bài, đặc biệt so với Mỹ là 14.28/bài. Chỉ số trích dẫn của TQ là thấp nhất trong các nước tiên tiến: Nhật (9.04), Đức (11.5), Anh (12.92). Chỉ số này của Trung Quốc thậm chí thấp hơn cả Ấn Độ (4.59).

4. TQ mạnh về lĩnh vực khoa học vật liệu và hóa học nhưng rất kém về sinh học phân tử và y học. Số liệu 2004 – 2008 cho thấy số ấn phẩm khoa học của họ trong ngành khoa học vật liệu (material science) chiếm ~21% tổng số ấn phẩm thế giới (năm 1999-2003 họ chỉ chiếm 12%).

Số ấn phẩm trong các ngành khác là hóa học (16.9%), vật lí (14%), toán (12.8%), kĩ thuật (10.9%), khoa học máy tính (10.7%). Ngành TQ kém nhất là miễn dịch học (3.5%) và sinh học phân tử (4.5%).

5. Ai là bạn khoa học của TQ? Đứng đầu là Mỹ, kế đến là Nhật, Anh, Đức, Canada, và Australia. Nga đứng chót bảng.

6. Về khả năng sáng tạo, trong năm 2007, TQ đăng kí 5465 bằng sáng chế (trong hệ thống PCT). Con số này còn khiêm tốn hơn so với Nhật (27.749), Hàn Quốc (7.065), Pháp (6.246), Đức (17.825), và  đặc biệt là Mỹ (51.296).  Số bằng sáng chế trên 1000 nhà nghiên cứu của TQ là 3.8, thấp nhất so với Nhật (39.1), Mỹ (36), Hàn Quốc (32), Đức (63), Pháp (30) và Anh (32).

Những số liệu trích từ báo cáo của UNESCO 2010 cho thấy TQ hiện đang là cọp giấy trong khoa học. Họ xuất bản rất nhiều bài báo khoa học nhưng chất lượng nói chung là thấp. Họ cũng rất thấp trong phát minh (điển hình qua con số bằng sáng chế).

Dĩ nhiên, thỉnh thoảng, TQ cũng có bài tốt trên Science hay Nature (cũng như VN cũng có bài tốt), nhưng tính chung, chất lượng của TQ còn rất thấp. Có điều, nhìn qua xu hướng 10 năm, trong tương lai chắc Trung Quốc sẽ là cọp thật.

Xét từ những kinh nghiệm cá nhân tôi, các công trình khoa học từ TQ không mấy tốt. Tôi phục vụ trong ban biên tập vài tập san y khoa, nên thường xuyên duyệt bài của đồng nghiệp TQ.

Ấn tượng chung của tôi là phần lớn chỉ là những công trình mang tính “me too” (tức là thấy người ngoài làm, họ lặp lại ở TQ). Do đó, tỉ lệ từ chối những bài từ TQ rất cao. Chẳng hạn như năm ngoái khi chúng tôi họp ban biên tập, người phụ trách xuất bản báo cáo cho biết trong năm qua tập nhận gần 50 bài từ Trung Quốc, nhưng chỉ công bố có 3 bài! (Cần nói thêm rằng tỉ lệ từ chối của tập san JBMR này là 75%).

Có nhiều lý do từ chối: thiếu tính độc đáo (original), phương pháp sai, tiếng Anh quá kém, vi phạm y đức… Sau này, họ khá hẳn về tiếng Anh, tuy vẫn còn kém về nội dung khoa học.

Riêng về vi phạm y đức, tôi từng có một kinh nghiệm rất hi hữu. Bài báo của tác giả Trung Quốc đã được duyệt 3 lần, và tổng biên tập viết thư chấp nhận. Nhưng một người nặc danh từ TQ viết thư cho tôi nói rằng bài báo đó nói láo. Họ nói rằng công trình đã qua ủy ban y đức phê chuẩn nhưng thật ra thì không có ủy ban nào phê duyệt cả. Vì nghiên cứu này mang tính xâm phạm (lấy biopsy – sinh thiết xương, rất đau) nên tôi đề nghị tổng biên tập yêu cầu nhóm tác giả cho coi văn bản ủy ban y đức đã phê chuẩn cho biopsy và nghiên cứu nói chung. Họ không đưa ra được văn bản. Bài báo bị từ chối ngay. Từ đó, chúng tôi rất sợ những bài báo từ TQ. Và những bài báo từ TQ thường bị duyệt rất cẩn thận.

***

Nói tóm lại, tôi nghĩ một ngày không xa, TQ sẽ vượt Mỹ về số ấn phẩm khoa học. Nhưng về chất lượng, tôi không nghĩ họ sẽ vượt qua Mỹ, ít nhất là trong vòng vài chục năm. Ngay cả Nhật, cho đến nay vẫn không qua được Mỹ và Âu châu về tính sáng tạo và chất lượng nghiên cứu khoa học.

Mới đây, một nhà khoa học TQ bị buộc phải rút lại 70 bài báo ông đã công bố vì ngụy tạo dữ liệu. Sự kiện vô tiền khoáng hậu này gây chấn động trong giới khoa học, và nhiều người không còn tin vào khoa học TQ. Có người cho rằng, đó là cái giá Trung Quốc phải trả cho vị trí số 2 về số lượng ấn phẩm khoa học. Và theo tôi, Việt Nam không nên học họ.

GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia)

(C) Bee.net.vn

Làm khoa học mà thiếu từ trình độ đến cái tâm

SGTT.VN  (18/07/2011) – Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 13.7.2011 đăng bài chỉ rõ: bản báo cáo đánh giá tác động môi trường hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A (do tập đoàn Đức Long – Gia Lai làm chủ đầu tư) chỉ là “một bản sao chép” chứ không được khảo sát, đánh giá ngoài thực tế.

Sau khi báo ra, nhiều đại biểu Quốc hội, chuyên gia đã bày tỏ sự lo ngại và thất vọng về cách làm việc vô trách nhiệm này.

 

 

GS.TS Lê Huy Bá (viện trưởng viện Khoa học công nghệ và quản lý môi trường – đại học Công nghiệp TP.HCM):

Khó nói ngược kẻ trả tiền

Theo tôi việc đánh giá tác động môi trường của đơn vị được thuê về dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A còn nhiều sai sót. Nhưng nói tới nguyên nhân sâu xa của vấn đề này, là một người trong nghề tôi nói thẳng, có đến trên 90% “Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM)” đều có các sai lầm như thế cả. Đơn giản là bởi vì cơ chế của nó là không phải Nhà nước thuê tư vấn hay là giao trách nhiệm cho tư vấn phải đánh giá tác động môi trường mà là chủ đầu tư họ trả tiền thuê. Mà một khi chủ đầu tư thuê thì làm sao người được thuê có thể nói mạnh, nói ngược được. Dũng cảm thì không nhận làm ĐTM thôi, chứ còn nhận rồi thì anh phải nói tốt, thông qua cho người ta thì họ mới trả tiền. Có thể nói, chủ trương của mình không đúng đắn, người chủ đầu tư mà lại đi thuê người làm ĐTM thì làm sao mà khách quan được.

Muốn khắc phục vấn đề này, theo tôi Nhà nước phải lập một quỹ cho vấn đề ĐTM và trích phần trăm từ quỹ giao hẳn cho một công ty tư vấn có năng lực để làm ĐTM. Đồng thời các ĐTM phải được thông qua một quy trình kiểm định nghiêm ngặt. Đặc biệt, khi ra bảo vệ về ĐTM phải có mặt nhà tư vấn, chủ đầu tư và bên kiểm định (Nhà nước). Bên kiểm định phải đóng vai trò quyết định thì mới khách quan.

Khoảng 20 năm về trước thì ĐTM còn mang tính khách quan, càng về sau này càng không khách quan. Trong đó, nguyên nhân chính một phần do các cơ quan tư vấn mọc lên như nấm, phải cạnh tranh trong đơn hàng, cái giá làm ĐTM ngày càng giảm xuống… Tất nhiên chủ đầu tư sẽ chọn giá rẻ nhất mà không cần chất lượng. Quan trọng chỉ cần thông qua được cơ quan thẩm định: nhỏ thì ở tỉnh, lớn thì ra Hà Nội.

Thuỷ điện hiện nay mọc lên như nấm là vì đây là sự đầu tư siêu lợi nhuận. Thi công thì vay ngân hàng, sau khi hoàn thành thì chỉ việc ngồi đó mà thu tiền. Nhưng làm thuỷ điện trong các khu rừng bảo tồn, rừng quốc gia là sai lầm lớn. Đặc biệt, tại Cát Tiên, tuy chỉ có 137ha nhưng đây là nơi nuôi nguồn gen, đa dạng sinh học, các loài cây quý hiếm ở đó… bây giờ ngập nước tức là làm thay đổi cả một hệ sinh thái.

Chúng ta phải nhận thấy rằng, nguy hại nhất là để hình thành một con sông có thể mất hàng mấy ngàn năm, thậm chí hàng triệu năm nó mới có thể chảy ổn định, bây giờ mình chặn dòng để làm thuỷ điện thì cái lưu lượng, dòng chảy bị thay đổi, tính ổn định của dòng sông không còn nữa. Đến khi có biến đổi khí hậu thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Thay đổi dòng chảy của sông là một điều hết sức nguy hiểm, nó không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh thái mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều con người ở cuối dòng sông. Không nên xây dựng thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A, vì tăng lượng điện không bao nhiêu nhưng sẽ tăng nhiều nguy cơ không thể lường trước được. Dường như công trình này chỉ làm theo trào lưu chứ chưa có nghiên cứu kỹ.

ĐOÀN QUÝ – QUỐC ẤN

 

Luật sư Trương Trọng Nghĩa (phó Chủ tịch liên đoàn Luật sư Việt Nam, phó Chủ nhiệm đoàn Luật sư TP.HCM): 

Thẩm định, xét duyệt lỏng lẻo

 

Việc xây dựng nhà máy thủy điện sẽ tác động tới hệ sinh thái và động thực vật ở VQG Cát Tiên. Ảnh: DVO

 

Tôi nhìn vấn đề thuỷ điện – rừng dưới góc độ luật pháp và phát hiện quy trình thẩm định, xét duyệt dự án cần có yếu tố nhà nước đang khá lỏng lẻo. Bộ Tài nguyên và môi trường từ chối xem xét bản đánh giá tác động môi trường căn cứ trên quy định về dự án rộng trên 50ha phải được Quốc hội thông qua về chủ trương. Giả sử dự án thuỷ điện dưới 50ha hoặc chia nhỏ dự án đó ra thì cũng chưa chắc bộ Tài nguyên và môi trường đã đồng ý khi báo cáo tác động môi trường có sai sót. Vấn đề cần làm rõ là bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đồng ý với dự án thì căn cứ trên cái gì, bộ phận nào của bộ đã xem xét dự án này và ai đề xuất để bộ thông qua và trình dự án lên Chính phủ.

Rừng là vùng tài nguyên mà bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý và nếu anh ủng hộ dự án thì dù dự án có được chủ đầu tư thuê ai làm báo cáo thẩm định thì anh cũng phải xem xét thật kỹ báo cáo đó. Giả sử báo cáo không đúng mà được thông qua rồi có hậu quả gì thì ai chịu trách nhiệm?

TS Phạm Quang Sơn (nguyên cán bộ viện Khoa học xã hội khu vực phía Nam):

Coi chừng bài học từ thuỷ điện Trị An!

Về mặt môi trường, Cát Tiên là khu sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Để đạt được điều đó cần biết bao công sức, tâm huyết nay lại vì thuỷ điện mà hy sinh rừng thì đau lòng quá. Mặt khác, dưới góc độ khảo cổ chúng tôi phát hiện có một khu di tích đồ sộ nằm ở tả ngạn sông Đồng Nai, thuộc khu vực rừng Cát Tiên trên địa bàn Bình Phước, Đồng Nai. Khu di tích này có từ thế kỷ 3 – 4 sau Công nguyên nhưng loại hình kiến trúc thì khoảng thế kỷ 7 – 8 sau Công nguyên. Nếu tìm hiểu, chứng minh được thì có thể xin được làm khu di sản văn hoá thế giới.

Trước đây, khi xây dựng thuỷ điện Trị An, tôi nhớ việc các chuyên gia Liên Xô yêu cầu phải tiến hành khảo cổ trước khi xây dựng. Không có họ, nhiều giá trị đã chìm dưới dòng nước mà không ai hay biết. Nay xây thuỷ điện giữa rừng thậm chí còn nguy hiểm hơn vì nó ảnh hưởng đến quá nhiều thứ. Bài học từ thuỷ điện Trị An có thể sẽ còn lớn hơn nữa nếu chúng ta làm thuỷ điện ngay giữa tim rừng.

(C) SGTT.VN

Đột phá khoa học công nghệ biển

Monre.gov.vn (20/07/2011) Là quốc gia biển nhưng kinh tế biển lại chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong GDP, nghịch lý trong việc khai thác thế mạnh biển của Việt Nam lâu nay có nguyên nhân nằm ở khoa học công nghệ biển chưa tương xứng. Đến thời điểm này, trở thành “cường quốc biển” không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn là sự khẳng định về chủ quyền của VN. Khoa học công nghệ biển đòi hỏi bước đột phá.

Việt Nam cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển. Ảnh: Đức Giang

Chưa nhìn thấu tài nguyên đáy đại dương

Mặc dù có trên 3.260km bờ biển và hàng trăm hải đảo lại nằm ở vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong khu vực tiểu vùng sông Mêkông và châu Á – Thái Bình Dương, song khoa học công nghệ biển nước ta còn yếu kém. Theo các chuyên gia, chúng ta chưa kiểm soát được không gian vùng biển của mình, chưa tổ chức nghiên cứu và nắm được các quy luật, điều kiện tự nhiên và môi trường biển một cách có hệ thống và chưa có khả năng dự báo các quy luật trên để phục vụ cho các cuộc khai thác biển

Mặt khác, cũng chưa có một hạ tầng kỹ thuật cần thiết, đặc biệt là các phương tiện máy móc khảo sát nghiên cứu cũng như mục tiêu nghiên cứu hữu hiệu được đề ra cho sự phát triển kinh tế biển. Chưa có trang thiết bị hiện đại cho các hải cảng và đội tàu. Hiện tại cả nước vẫn chưa có một Viện nghiên cứu về công trình biển và Viện kinh tế biển.

GS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo cho rằng, đến nay chúng ta vẫn chưa biết hết những tiềm năng về tài nguyên biển ở biển Đông.

Khoa học công nghệ biển tiên tiến để trở thành nước mạnh về biển

Chúng ta có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế biển – “vị trí mặt tiền của biển Đông”, như TS. Trần Du Lịch, Đại biểu Quốc hội Đoàn TP. Hồ Chí Minh nói – nhưng để trở thành nước mạnh về biển, chúng ta phải có ba điều kiện cơ bản, đó là phải có một nền khoa học công nghệ biển tiên tiến, một nền kinh tế biển hiệu quả và bền vững và một phương thức quản lý biển tổng hợp.

Nhà nước cần đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại và lực lượng khoa học có trình độ cao để tiếp tục khám phá nguồn tài nguyên quý báu của biển Đông là chia sẻ của GS.TS Lê Đức Tố, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ Biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội. Theo GS. Tố, các tư liệu nghiên cứu về biển Đông hiện nằm rải rác ở rất nhiều cơ quan nghiên cứu. Điều mà ngành khoa học làm được là có thể biết rõ được biển Đông của Việt Nam có những gì. Ví dụ, những năm trước đây, ta chỉ biết trên biển Vịnh Bắc Bộ có hơn 200 loài cá, nhưng qua khảo sát của Chương trình nay biết được ở đây có tới 600 loài cá.

Hay với đề tài “Quy phạm kỹ thuật phục vụ xây dựng công trình biển trên nền san hô thuộc quần đảo Trường Sa” do Học Viện Kỹ thuật quân sự (Bộ Quốc phòng) thực hiện, lần đầu tiên ở Việt Nam đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu kỹ thuật xây dựng công trình cho các đảo san hô trên quần đảo Trường Sa. Đây sẽ là tư liệu quý có thể áp dụng cho việc xây dựng các công trình trên các đảo biển Việt Nam.

Đề tài “Lập luận chứng khoa học kỹ thuật về mô hình quản lý tổng hợp và phát triển bền vững dải ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ” do PGS.TS Trần Đức Thạnh, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển thực hiện, lại đưa ra được hệ thống thông tin tư liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường, thiên tai, kinh tế – xã hội của vùng nghiên cứu. Từ đó, đã cho ra các bản đồ chuyên đề và tổng hợp tỷ lệ 1/50.000 và 1/200.000. Đây là cơ sở khoa học – kỹ thuật cho việc định hướng phát triển các khu công nghiệp khai thác toàn diện tài nguyên (sinh vật, sinh thái, du lịch, các vũng vịnh, cửa sông và hải đảo). Nó không chỉ cần thiết cho công tác an ninh quốc phòng mà còn là cơ sở khoa học cho các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên.

Dù vậy, các nhà khoa học vẫn nhận thấy cần có những nghiên cứu chi tiết hơn. Và quan trọng là đầu tư trang thiết bị cho nghiên cứu biển.”Hiện Việt Nam không có một con tàu nào dùng cho việc nghiên cứu biển, vì vậy với mỗi đề tài cần khảo sát, nghiên cứu trên biển lại phải thuê tàu của ngư dân, của hải quân… do vậy rất hạn chế thời gian khảo sát”, TS Tố bày tỏ.

PGS, TS. Trần Đình Thiên, Viện Kinh tế Việt Nam nhận định, Việt Nam cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển. “Để khẳng định chủ quyền biển thực sự, Việt Nam phải có các hạm tàu lớn và các doanh nghiệp kinh tế biển mạnh. Nền khoa học và công nghệ biển tiên tiến, nguồn nhân lực tốt, các cảng biển tầm cỡ, khu kinh tế biển mạnh có sức cạnh tranh và hấp dẫn quốc tế, thì nước ta mới sớm làm chủ kinh tế biển”.

(C) monre.gov.vn

 

Khi làm khoa học kiểu “ăn xổi”

SGTT.VN (16/07/2011) – Những ngày gần đây, báo chí trong nước liên tục phanh phui những sai phạm cơ bản trong công tác đánh giá tác động môi trường về các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A. Từ những thông tin, số liệu được đưa ra ánh sáng, hẳn điều đó sẽ khiến nhiều người giật mình cho cung cách làm việc “ăn xổi, ở thì”, vô cảm với thiên nhiên và môi trường con người đang sinh sống.

 

Đánh giá tác động môi trường một công trình thuỷ điện phải khảo sát, tính toán, đong đếm hết sức chi ly để không gây ra hệ luỵ. Ảnh minh hoạ. Ảnh: Trung Dũng

 

Từ phản ánh của báo Tuổi trẻ, báo Sài Gòn Tiếp Thị, tôi không thể hình dung ra trách nhiệm của cơ quan tham gia đánh giá tác động môi trường, các vị lãnh đạo hữu trách và cả ê kíp tham gia ở đâu. Đặc biệt, khi đã bị phát hiện sự gian dối, khó có thể biện minh thì vị lãnh đạo đại diện nhóm trực tiếp lập báo cáo lý giải một cách tỉnh rụi “do năng lực hạn chế về trình độ, chưa chín muồi trong chuyên môn, nhận thức”.

Trong bài viết này tôi hoàn toàn không có ý muốn “thêm dầu vào lửa” vì sức nóng của bài viết “Lật tẩy báo cáo đánh giá tác động môi trường” hay “Báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ là bản sao chép” đăng tải trước đó, đã lan tỏa đến đông đảo bạn đọc và nhiều người cũng đã trực tiếp biểu hiện thái độ trước những thông tin gây sốc ấy. Nhưng, việc đòi hỏi về cách làm có trách nhiệm hơn với công tác đánh giá tác động môi trường để từ đó triệt tiêu ngay những tư tưởng ăn xổi thì luôn cần thiết.

Bước vào địa hạt bảo tồn gần 15 năm qua, chúng tôi đã trực tiếp tham gia đánh giá nhiều công trình trọng điểm, như: dự án nhiệt điện Vũng Áng (Hà Tĩnh), dự án nhiệt điện Mông Dương II (Quảng Ninh), dự án truyền tải điện hạ Sê San – Tung Streng (Campuchia) và còn nhiều dự án khác… Với trải nghiệm của một chuyên gia về động vật hoang dã, tôi nghiệm ra, để đánh giá tác động môi trường một dự án hay một công trình nào đó liên quan đến môi trường, đời sống dân sinh thì cũng cần phải có nhiều cơ quan, ban ngành có liên quan vì môi trường là khoa học đa ngành. Chẳng hạn, riêng về động vật hoang dã (chim, thú, lưỡng cư và bò sát) trong hợp phần sinh thái cũng phải cần ba chuyên gia riêng biệt.

Tuy nhiên, một số khu vực rừng thứ sinh không thuộc vào các khu vực bảo vệ, như: vườn quốc gia, khu bảo tồn thì cũng có thể ghép ba chuyên môn này lại thành một. Tất nhiên, chuyên gia này phải có sự am hiểu về động vật hoang dã và môi trường sinh thái. Như vậy là phải hơn cả chục người ở các cơ quan khác nhau đánh giá theo những hợp phần khác nhau để khảo sát, thu thập và hoàn tất đánh giá các dữ liệu của báo cáo đánh giá tác động môi trường…

Số tiền để thực hiện dự án đánh giá tác động môi trường hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A là 420 triệu đồng (chúng tôi không phủ nhận rằng công sức, chất xám nào cũng đo được bằng tiền) chứng tỏ kinh phí để làm việc và phải làm nghiêm túc, là không eo hẹp chút nào. Chỉ tiếc là cơ quan tham gia đánh giá tác động thiếu nhiều thứ không nên thiếu: trình độ, cái tâm và tầm với công việc mình được giao.

Chỉ cần làm một thống kê nho nhỏ, có thể thấy số tiền ấy “dư giả” mức nào: Nhóm khảo sát chỉ có ba người trong bảy ngày (cho là thực sự làm việc, không bị lạc rừng) dùng số tiền đó cho việc thuê xe hai cầu, ăn ở, vài ngày để viết báo cáo (mà ở đây lại chép và đạo báo cáo từ khu vực khác); mua bản đồ các tỉ lệ khác nhau; chung chi ngược lại cho đối tác vài chục phần trăm (giả sử có như vậy để có được hợp đồng cơ quan đánh giá) thì số tiền vẫn còn khá nhiều.

Kiếm tiền từ công tác đánh giá tác động môi trường quá dễ dàng; hay có phải số tiền này đã làm cho cơ quan đánh giá tác động môi trường hoa mắt nên quên mất vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình? Bảy ngày thực địa, mất cả ba ngày lạc rừng, trong khi không có sự giám sát của cơ quan hữu trách quản lý rừng thì làm gì còn sức để thu được dữ liệu để đánh giá mà không phải sao chép và “đạo văn”?!

Báo cáo theo kiểu này được gửi lên cấp trên, khi đọc cấp trên cùng thấy không có gì bị tác động và ảnh hưởng nên có lẽ mới phán một câu đầy tự tin: “Anh em báo cáo đâu thấy gì”. Có lẽ, cũng vì cấp dưới báo “không thấy gì” bất thường trong những chuyến khảo sát “cưỡi ngựa xem hoa” nên sông vẫn bị chặt khúc, rừng đầu nguồn vẫn bị tàn phá không kiểm soát… Và đáng tiếc, hệ lụy từ cung cách làm việc cẩu thả ấy không hế nhỏ: lũ lụt triền miên đến hẹn lại lên, người dân sống dưới mỗi đập thủy điện luôn canh cánh nỗi bất an khi mùa mưa đến…

 

Hai dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A nằm trong khu vực rừng Cát Tiên của tập đoàn Đức Long – Gia Lai đang trong giai đoạn chờ được Chính phủ phê chuẩn. Tuy dự án đã bị bộ Tài nguyên và môi trường trả về nhưng lại đang được bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, với tư cách là đơn vị tư vấn cho Chính phủ, tán thành. Nếu dự án này được thông qua, coi như 370ha rừng Cát Tiên bị xoá sổ, các hậu quả khác về môi trường cũng không lường hết được.

 

Một người dân bình thường sống ở vùng đệm của mỗi vườn quốc gia hay khu vực bảo vệ khác, chỉ cần chặt cây xanh, bẫy con thú nhỏ thì đã bị cho là xâm phạm đến tài nguyên rừng, bị phạt hoặc bị tù tùy thuộc vào mức độ xâm hại. Một tổ chức khoa học hay cá nhân cố tình làm sai lệch dữ liệu đánh giá trong báo cáo đánh giá tác động có nguy cơ làm mất hàng trăm hecta rừng trong vườn quốc gia thì nên xử như thế nào cho đúng? Có thể coi là tội phạm môi trường không?

Ăn quen, nhịn không quen trong trường hợp này lại rơi vào những người làm khoa học và lại “ăn” cả vào vườn quốc gia. Thật đáng tiếc. Những mảng rừng còn lại của quốc gia 20 mươi năm về trước đã được báo cáo là “lốm đốm như da báo rồi”, với cung cách làm việc như vậy thì tương lai gần, liệu còn rừng? Khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia và các khu vực được bảo vệ khác là thành lũy cuối cùng để bảo tồn nguyên vị những giống loài sinh học của quốc gia và quốc tế, là nguyên khí xanh của mỗi đất nước. Vì lý do kinh tế hay nhu cầu điện năng, ít nhiều phải hi sinh một phần “nguyên khí” đó. Nhưng, thiết nghĩ làm gì thì cũng phải tính toán, đong đếm hết sức chi ly, cẩn thận để không gây ra hệ luỵ, mà thế hệ tương lai phải gánh chịu; cách làm khoa học ăn xổi lại càng không được diễn ra. Đây chính là hành động có trách nhiệm chung của những ai có lương tâm và trách nhiệm, vì tương lai.

Những kiểu làm vừa đá bóng vừa thổi còi vừa qua sẽ góp phần không những làm suy giảm nguyên khí xanh của quốc gia mà còn làm nản chí những nỗ lực của các nhà bảo tồn, các tổ chức bảo tồn trong nước cũng như quốc tế vì thiên nhiên xanh của Việt Nam.

NGÔ VĂN TRÍ (NHÀ NGHIÊN CỨU SINH VẬT)

(C) SGTT.VN

Tăng đầu tư để phát triển khoa học

Đất Việt (16/07/2011) Hiện nay, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là đơn vị dẫn đầu cả nước về nghiên cứu cơ bản, số lượng công bố khoa học quốc tế của Viện chiếm gần 50% cả nước, góp phần lớn tạo nên vị trí khoa học của Việt Nam trong khu vực và quốc tế.

Theo báo cáo GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ (KH-CN) Việt Nam tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và đoàn công tác tại Hà Nội ngày 12/7, trong giai đoạn 2006-2010, Viện đã có nhiều nghiên cứu phát triển công nghệ gắn với thực tiễn phục vụ hiệu quả cho sự phát triển đất nước, tập trung vào những lĩnh vực như: Công nghệ thông tin và vũ trụ; công nghệ sinh học và sinh thái nông nghiệp bền vững; phòng tránh, giảm nhẹ hậu quả thiên tai và viễn thám; khoa học công nghệ biển…

Nghiên cứu sát thực tế

Trong lĩnh vực nông nghiệp, Viện đã tạo ra giống lúa mới mang gene tạo axít béo omega-7, nâng cao chất lượng gạo; phục tráng giống lúa nếp đặc sản; sản xuất chế phẩm phòng chống nấm cho ngô, đỗ tương; tạo giống hồ tiêu chuyển gene kháng rầy rệp…

 

Nghiên cứu khoa học tại Viện Công nghệ  Sinh học – Viện KH-CN Việt Nam (Ảnh: Phương Hoàn)

 
Viện còn ký kết hợp tác khoa học công nghệ với 13 tỉnh, thành phố và các bộ, ngành nhằm nhanh chóng ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn một cách hiệu quả. Điển hình như dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc trừ ốc bươu vàng TOBI.25H” đã được Bộ NN-PTNT cho phép ứng dụng rộng rãi, hiện giá thành rẻ hơn 30% so với giá nhập ngoại, được nông dân đón nhận với nhu cầu sử dụng ngày càng cao…

Đặc biệt, Viện đã nghiên cứu và chuyển giao thành công dự án công nghệ sản xuất thuốc sốt rét cho nước Cộng hòa Công gô trị giá 1 triệu USD. Dự án này do Viện Hóa học đảm nhiệm và được tiến hành vào tháng 4/2012.

Cần tăng thêm nguồn lực

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Viện trưởng Viện tài nguyên môi trường Trần Đức Mạnh đề nghị Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề nghiên cứu biển (ưu tiên tăng cường về nhân lực cho nghiên cứu, đặc biệt là cử cán bộ trẻ đi học tập ở các nước phát triển…) để phục vụ nghiên cứu biển tại Việt Nam.

Trong lĩnh vực toán học, ông Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán nêu ý kiến, mặc dù nền toán học Việt Nam không thua kém thế giới nhưng có một thực trạng là tinh hoa của khoa học đều ở nước ngoài. Chính phủ chưa có chính sách hấp dẫn để thu hút nhân tài, chưa có chương trình cụ thể nào thu hút các nhà khoa học.

Ông Phạm Văn Lực, Giám đốc Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam cho biết, hiện Bảo tàng đang thực hiện dự án thu thập mẫu vật cổ với tổng kinh phí lên tới 340 tỷ đồng, tuy nhiên vấn đề khó khăn nhất là chưa nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Nhà nước trong việc thu hồi mẫu vật cho bảo tàng và địa điểm xây dựng.

Các nhà khoa học đều cho rằng, đầu tư cho nghiên cứu KH-CN còn thấp so với mặt bằng chung của các nước trong khu vực, chưa có chế độ đãi ngộ xứng đáng, tôn vinh những nhà khoa học có thành tích nghiên cứu cao.

Thứ trưởng thường trực Bộ KH-CN phát biểu tại buổi làm việc với Viện KH-CN Việt Nam (Ảnh: Phương Hoàn)

 
Trước những khó khăn mà Viện gặp phải, GS.TS Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện KH-CN Việt Nam đề xuất, nhà nước cần quan tâm, đặt hàng các nhiệm vụ, giao các chương trình KH-CN lớn của nhà nước cho Viện. Đặc biệt chính phủ nên giao cho Viện KH-CN Việt Nam góp ý tham gia xây dựng chiến lược phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ, tham gia hoạch định chính sách phát triển KH-CN, giáo dục-đào tạo, bảo vệ tài nguyên – môi trường của đất nước.

Tăng đầu tư để phát triển khoa học

Bày tỏ quan điểm của mình tại buổi làm việc, Thứ trưởng thường trực Bộ KH-CN Nguyễn Quân cho biết, Bộ KH-CN đánh giá cao những kết quả mà Viện đạt được trong thời gian qua.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiếu vướng mắc trong việc gắn kết nghiên cứu với sản xuất trong toàn bộ hệ thống ngành khoa học nói chung và Viện nói riêng. Vì vậy, Thứ trưởng hi vọng việc thành lập doanh nghiệp KH-CN sẽ giúp gắn kết chặt chẽ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Về chế độ chính sách của nhà nước đối với các nhà khoa học, Thứ trưởng cho rằng các cán bộ nghiên cứu khoa học đang chịu nhiều thiệt thòi hơn so với mặt bằng chung của cán bộ công chức, “hiện nay chỉ có cán bộ ngành khoa học và nghệ thuật là chưa có phụ cấp nào ngoài lương”.

Bộ KH-CN cũng đề nghị chính phủ quan tâm phê duyệt đề án xây dựng bảo tàng của Viện KH-CN Việt Nam để mọi người, nhất là thanh thiếu niên tiếp xúc với KH-CN có điều kiện tiếp xúc và nuôi dưỡng lòng say mê khoa học.

Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Viện KH-CN Việt Nam là một đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học tự nhiên. Việc tăng cường đầu tư cho Viện là cần thiết. Còn tăng như thế nào sẽ có sự bàn bạc thống nhất và viện cũng tăng cường trách nhiệm để việc đầu tư thật sự hiệu quả.

Phó thủ tướng khẳng định, trong quá trình phát triển đất nước thì nhà nước phải đặt hàng các nhà khoa học. Nhà nước sẽ có những đặt hàng với Viện trong lĩnh vực nghiên cứu biển.

Chính phủ sẽ tiếp tục quan tâm, ưu tiên đầu tư tăng cường về cơ sở, vật chất cũng như nguồn nhân lực cho Viện KH-CN Việt Nam để Viện sớm đạt trình độ nghiên cứu tiên tiến trong khu vực..

Mai Hà – P. Hoàn

(C) Đất Việt

 

Next