Posts Tagged 'Vietnamese expert'

Những giáo sư Việt được vinh danh ở trời Tây

(ĐVO) Dù ở trong nước hay sinh sống và làm việc ở nước ngoài, các giáo sư Việt Nam vẫn được thế giới công nhận vì những đóng góp to lớn của mình.

>> Thêm một nhà toán học Việt được thế giới vinh danh
>> Bài giảng đầu tiên ’2 trong 1′ của GS Ngô Bảo Châu ở VN

Từ toán học, khoa học xã hội, cho đến khoa học không gian và y tế, nhiều giáo sư (GS) Việt Nam đã được các quốc gia trên thế giới trao tặng những giải thưởng, huân chương và học hàm cao quý.

GS Ngô Xuân Bính

Tháng 6/2011, Hội đồng khoa học Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên châu Âu đã chính thức trao học hàm Viện sĩ cho GS Ngô Xuân Bính, một nhà bác học Việt Nam có bản lĩnh và tài năng xuất chúng.

GS, bác sĩ, viện sĩ Ngô Xuân Bính, sinh năm 1957 tại Nghệ An, làm việc tại CHLB Nga từ năm 1990 đến nay. Do có những đóng góp lớn trong việc khám chữa bệnh và nghiên cứu, xuất bản những công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao, ngày 24/1/2010, Hiệp hội y học dân gian Nga đã phong tặng ông học hàm Giáo sư chuyên môn; Liên hiệp quốc trao tặng ông huân chương cao quý Nicholai Peregov vì những đóng góp lớn lao và đặc biệy cho nền y tế thế giới, theo đề nghị của Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên Châu Âu. Ông là một trong số 55 người trên thế giới được tặng thưởng huân chương cao quý này. Hiện, ông là Ủy viên Ủy ban Liên bang Nga về chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

GS Ngô Xuân Bính nổi tiếng trong giới y học Nga.

Tại Diễn đàn quốc tế lần thứ 4 Y học liên kết 2011 do Hiệp hội Y học dân tộc Nga (RANM) và Viện sức khỏe quốc gia thành phố Saint Peterburg phối hợp tổ chức, GS Ngô Xuân Bính là đồng Chủ tịch hội thảo Những khái niệm và công nghệ riêng biệt trong y học bổ trợ và có bài tham luận: Những đặc điểm của việc điều chỉnh pháp lý đối với hoạt động của các chuyên gia y học dân tộc hiện nay. Cũng tại diễn đàn này, trước Hội đồng khoa học đến từ Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên châu Âu, ông đã công bố lần đầu tiên công trình khoa học đồ sộ với 1.500 trang viết của mình,  tựa đề: Cao huyết áp – Các chứng liên đới - Chuyên khoa châm cứu.

Sau khi nhận xét, Hội đồng khoa học Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên châu Âu đã chính thức trao học hàm Viện sĩ cho GS Ngô Xuân Bính. Đây là sự ghi nhận của các nhà bác học hàng đầu thế giới đối với thành tựu khoa học của ông, một lần nữa khẳng định chiều sâu văn hóa Việt trong đời sống đương đại. Ngoài những thành tựu về khoa học, GS, Viện sĩ Ngô Xuân Bính còn là Võ sư Chưởng môn phái Nhất Nam, Chủ tịch Liên đoàn võ thuật Nhất Nam tại Liên bang Nga; là một hoa sỹ tài danh, Viện sỹ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Nga.

GS Nguyễn Đăng Hưng

Một trong những nhân tài gốc Việt đáng chú ý tại châu Âu là nhà khoa học Nguyễn Ðăng Hưng, nhà trí thức người Việt sống ở Bỉ. Tháng 5/2010, GS Nguyễn Ðăng Hưng được vinh danh bằng Huân chương Đại thần của nhà Vua Bỉ. Đây là danh hiệu cao quý dành tặng cho những cá nhân có cống hiến quan trọng về văn học, nghệ thuật, khoa học, hay trong các lĩnh vực thương mại và công nghệ của Bỉ.

GS Nguyễn Đăng Hưng được nhận huân chương từ Vương triều Bỉ.

Trong suốt hơn 40 năm học tập và làm việc tại Vương quốc Bỉ, đến nay, GS Nguyễn Ðăng Hưng đã là tác giả của hơn 20 cuốn sách, bài giảng, từ điển với hơn 200 công trình khoa học, phần lớn được xuất bản bởi các tạp chí khoa học danh tiếng trên thế giới.

Dù công thành danh toại nơi xứ người, nhưng GS Nguyễn Đăng Hưng vẫn dành trọn tấm lòng cho quê hương đất nước và đã nhiều năm có những đóng góp tâm huyết với nền giáo dục nước nhà. GS đã cống hiến nhiều công sức và trí tuệ cho các trường ĐH Việt Nam. Hiện, GS Nguyễn Ðăng Hưng đang giúp một số trường ĐH trong nước như ĐH Bách khoa TP HCM, ĐH Hoa Sen… về đào tạo những công nghệ tiên tiến. Ông cho rằng, đại bộ phận Việt kiều trí thức rất quan tâm và muốn huy động mọi tài lực xây dựng đất nước.

GS Phan Huy Lê

Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Vinh dự này thuộc về GS, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê khi ông được Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn (thuộc Học viện Pháp quốc) bầu là Viện sĩ Thông tấn đầu tháng 7/2011.

GS Phan Huy Lê là Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp.

GS NGND Phan Huy Lê sinh ngày 23/2/1934 tại xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Cả hai dòng họ nội, ngoại của GS. Phan Huy Lê đều là những dòng họ khoa bảng nổi tiếng với những danh nhân văn hoá lớn như: Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú…

Bước lên bục giảng ĐH năm 21 tuổi, GS Phan Huy Lê đã nỗ lực không ngừng trong suốt nửa thế kỷ qua. Ông thuyết phục học trò bởi giọng nói trầm ấm, biểu cảm, khúc triết, vốn tri thức sâu rộng và một phong cách ung dung, một thế ứng xử đầy minh triết, một nhân cách khoa học toàn vẹn. Ông thường gắn kết những bài giảng của mình với các triết lý nhân văn, thể hiện tinh thần làm việc hăng say, hết mình cho sự thật, thổi bùng niềm đam mê nghiên cứu khoa học và khuyến khích sự sáng tạo của các thế hệ học trò.

Ngoài việc giảng dạy ở các trường đại học ở trong nước, GS Phan Huy Lê được mời giảng dạy ở ĐH Paris 7(Pháp), ĐH Amsterdam (Hà Lan)… Hàng nghìn học trò qua ông đào tạo, nhiều người đã thành đạt, đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy ở trung ương và địa phương, ở trong nước và nước ngoài.

Đồng thời với việc giảng dạy, GS Phan Huy Lê cũng viết rất nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị như: “Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn”, “Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam”… Tới nay, số tác phẩm mà ông là tác giả và chủ biên hơn 400 công trình, tập trung vào bốn lĩnh vực lớn là: lịch sử chống ngoại xâm, kinh tế - xã hội; văn hoá – truyền thống và tổng kết lịch sử đất nước.

Giáo sư Phan Huy Lê đã nhận được nhiều giải thưởng cao quí do Nhà nước trao tặng. Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên được Nhật Bản trao tặng Giải thưởng quốc tế Văn hóa châu Á Fukuoka năm 1996. Năm 2002, ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm.

GS Nguyễn Xuân Vinh

Năm 2007, GS Nguyễn Xuân Vinh được Hội Khoa học Không gian Mỹ trao tặng giải thưởng Dirk Brouwer về các cống hiến của ông trong lĩnh vực Cơ học phi hành không gian.

Giải thưởng mang tên TS Dirk Brouwer, người Mỹ gốc Hà Lan, người có công lớn lao trong việc tính đường bay của vệ tinh và các phi thuyền không gian. Hàng năm Hội Khoa học không gian Mỹ tổ chức tuyển chọn công trình để trao giải thưởng này. Có năm không có ai được nhận giải. Đóng góp của GS Nguyễn Xuân Vinh về khoa học Quỹ đạo không gian và cơ học phi hành, cơ học chuyển động của các hành tinh, vệ tinh, phi thuyền… được đánh giá là rất có giá trị cho khoa học Không gian trong tương lai.

GS Nguyễn Xuân Vinh có nhiều đóng góp trong ngành không gian.

GS Nguyễn Xuân Vinh sinh tháng 1/1930 tại Yên Bái, du học tại Mỹ từ năm 1962. Năm 1965, ông là người đầu tiên được cấp bằng Tiến sĩ về Khoa học không gian tại ĐH Colorado. Năm 1968 là Phó giáo sư và năm 1972 là GS tại ĐH Michigan. Cũng vào năm 1972 ông được bầu làm Tiến sĩ quốc gia của Đại học Sorbonne (Pháp). Năm 1982 là GS của Đại học Thanh Hoa (Đài Loan). Năm 1984 là người châu Á đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc gia về Hàng không và Không gian Pháp. Năm 1986 là Viện sĩ của Viện Hàn lâm Không gian Quốc tế.

Về hưu năm 1999 khi vừa 69 tuổi và sống cùng gia đình tại San Jose, California. Ông đã giảng dạy và thuyết trình khoa học nhiều lần tại các ĐH và Hội thảo ở Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Áo, Đức, Italy, Hà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Hungary, Israel, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia…

GS Hoàng Tụy

GS toán học Việt Nam Hoàng Tụy được Tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục trao giải thưởng Constantin Caratheodory cho những cống hiến của ông. GS Hoàng Tụy là nhà toán học tiêu biểu của Việt Nam. Ông đồng thời cũng là người đầu tiên trên thế giới nhận giải thưởng cao quý này.

Không chỉ là một nhà Toán học, GS Hoàng Tụy cũng có nhiều đóng góp cho giáo dục Việt Nam.

GS Hoàng Tụy phát minh ra phương pháp “lát cắt Tụy”.

Ông sinh ngày 17/12/1927 tại Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam, là cháu nội của cụ Hoàng Văn Bảng, đỗ Cử nhân và từng giữ chức Án sát sứ nhiều tỉnh. Tháng 3/1959, Hoàng Tụy trở thành một trong hai người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ khoa học toán – lý tại ĐH Lomonosov tại Moscow.

Từ năm 1961 đến 1968 ông là Chủ nhiệm Khoa Toán của ĐH Tổng hợp Hà Nội; là Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam từ năm 1980 đến 1989. Năm 1964, ông đã phát minh ra phương pháp “lát cắt Tụy” và được coi là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời của một chuyên ngành toán học mới: Lý thuyết tối ưu toàn cục.

Vào tháng 8/1997, Viện Công nghệ Linköping (Thụy Điển) đã tổ chức một hội thảo quốc tế với chủ đề “Tìm tối ưu từ địa phương đến toàn cục”, được tổ chức để tôn vinh GS Hoàng Tụy. Tháng 12/2007, một hội nghị quốc tế về “Quy hoạch không lồi” đã được tổ chức ở Rouen, Pháp để ghi nhận những đóng góp tiên phong của GS Hoàng Tuỵ cho lĩnh vực này nói riêng và cho ngành Tối ưu Toàn cục nói chung nhân dịp ông tròn 80 tuổi.

Trong những năm của thế kỉ 21, GS Hoàng Tuỵ đã dồn nhiều nỗ lực của mình vào việc phê phán sự yếu kém, lạc hậu và tiêu cực trong ngành giáo dục Việt Nam cũng như tham gia nhiều hội nghị tham luận về cải cách giáo dục.

GS Ngô Bảo Châu

Một đồng nghiệp trẻ tuổi của GS Hoàng Tụy cũng có nhiều đóng góp, làm rạng danh đất nước không thể không kể đến là GS Ngô Bảo Châu, người được Đại hội Toán học thế giới họp ở Ấn Độ trao tặng giải thưởng Fields cao quý nhất của toán học thế giới vào tháng 8/2010.

GS Ngô Bảo Châu là nhà khoa học đại diện cho ba châu lục.

Sinh năm 1972 và học khối phổ thông chuyên toán tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu đã đoạt liên tiếp hai huy chương vàng Olympic toán quốc tế trong hai năm 1988 và 1989. Sau khi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại ĐH Sư phạm Paris, năm 32 tuổi, GS Ngô Bảo Châu đã được Viện Toán học Clay trao tặng giải thưởng cho công trình nghiên cứu Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita để “công nhận thành tựu đặc biệt xuất sắc trong toán học” của ông.

Từ năm 2007, ông đồng thời làm việc tại Pháp và Viện nghiên cứu cao cấp Princeton (Mỹ). Trong năm 2008, Ngô Bảo Châu công bố chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands, được tạp chí Time bình chọn là một trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009.

Năm 2010, Giáo sư Ngô Bảo Châu trở thành nhà toán học đầu tiên xuất thân từ một nước đang phát triển được vinh danh bằng giải thưởng Fields trong lịch sử 75 năm của giải thưởng được coi là Nobel trong toán học này. Trong diễn văn tại lễ tôn vinh Giáo sư Ngô Bảo Châu tổ chức ở Pháp, Bộ trưởng ĐH và Nghiên cứu của Pháp, bà Valérie Pécresse đã ca ngợi Ngô Bảo Châu là nhà khoa học đại diện cho ba châu lục: châu Âu, châu Á và châu Mỹ.

(baodatviet.vn)

Từ cậu bé khuyết tật đến vị GS ĐH UCLA

Từ cậu bé khuyết tật đến vị Giáo sư người Việt của Đại học y khoa UCLA

Bị bom đạn cướp đi đôi chân từ năm 11 tuổi giữa thời kỳ đất nước còn chiến tranh, cuộc đời cậu bé Huỳnh Phước Đương tưởng như đã an bài với số phận của một người khuyết tật. Sau hơn 20 năm vượt qua mọi khó khăn để học tập nghiên cứu trên đất Mỹ, anh đã trở thành một tiến sĩ tên tuổi được nhắc nhiều tại các hội thảo khoa học quốc tế. Giáo sư – Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương cũng là người có nhiều hoạt động giúp đỡ trẻ em và những người kém may mắn trong nước.

Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương sinh năm 1958 trong một gia đình nghèo ở Hội An. Cha mất sớm, người mẹ tảo tần nuôi bốn người con với những bữa cháo trắng, cá kho, mắm quẹt cùng với tình hình ly tán do chiến tranh nên đến năm 11 tuổi, cậu anh cả Đương cũng chỉ mới học xong lớp 1.

Huỳnh Phước Ðương vẫn nhớ những ngày đi đi chăn trâu, đào trộm khoai “vì đói và cả vì vui nữa”. Tuổi thơ với đói khát, với cơ cực nhưng tràn đầy niềm vui, hạnh phúc như vẫn in đậm trong ký ức.

Năm 1968, khi 11 tuổi, cậu bé Huỳnh Phước Ðương không may bị một viên đạn lạc xuyên vào cột sống. Toàn thân đau nhói, máu me đầy người và lịm đi, khi Đương tỉnh lại, cậu bé thấy mình nằm trong bệnh viện và hai chân đã mất hết cảm giác. Sau đó, Huỳnh Phước Ðương đã phải trải qua một giai đoạn gần 10 năm nằm liệt giường. Huỳnh Phước Ðương được đưa vào một bệnh viện của quân đội Mỹ tại Ðà Nẵng. Một ngày nọ, mẹ anh xuất hiện. Bà đã tìm ra anh sau gần ba tháng dò hỏi tin tức. “Má tôi khổ quá. Bà vừa đi bán cháo, vừa chăm sóc tôi”, Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương bồi hồi kể lại.

Biết mình đã tàn phế và cảm nhận được sự cực khổ của mẹ, anh Ðương quyết định phải ra đi. “Phải rời Hội An thôi…”, anh nghĩ khi không đành lòng nhìn nỗi vất vả của mẹ vì mình. Và Huỳnh Phước Ðương Anh đã đi đến một quyết định mạo hiểm: “Tôi làm cho vết thương vỡ ra lại”, Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương kể lại. Nhờ vết thương bị vỡ, anh Ðương đã được ra đi. “Từ Hội An, với vết thương “mới,” Huỳnh Phước Ðương được đưa ra Ðà Nẵng. Sợ trở về nhà sẽ thành gánh nặng cho mẹ, nên Huỳnh Phước Ðương đành phải khai không có gia đình để các tổ chức y tế nhận nuôi. “Tôi nói với họ rằng tôi không có thân nhân”, Huỳnh Phước Ðương cho biết.

Huỳnh Phước Ðương được đưa vào Sài Gòn. Tại Sài Gòn, vết thương của anh bắt đầu lành sau một tháng chữa chạy tại Bệnh viện Nhi Ðồng Quốc tế. Lúc đó là năm 1974, cậu bé Ðương bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành, nhưng chỉ mới học lớp… một. “Tại mấy năm liền nằm bệnh viện có học hành gì đâu!”, Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương cho biết. Khi chiến tranh chấm dứt vào tháng 4/1975, Huỳnh Phước Ðương theo một linh mục lên đường sang Mỹ. “Tôi vẫn khẳng định với họ rằng tôi không có gia đình”, Tiến sĩ Ðương kể lại.

Đến định cư ở Mỹ, ở tuổi 17, Huỳnh Phước Ðương bắt đầu đi học lại. Nhớ lại những ngày phải đối mặt với những con chữ lạ hoắc, những bài toán phức tạp, Tiến sĩ Ðương cười cho biết: “Lúc ấy tôi phải tham dự cuộc trắc nghiệm chỉ số thông minh IQ. Họ xếp tôi vào lớp dành cho trẻ chậm phát triển vì IQ thấp”. Rõ ràng, làm sao một cậu bé 17 tuổi, nhiều năm liền không đi học vì bệnh tật, lại có thể đạt được một chỉ số IQ cao trong một cuộc trắc nghiệm được soạn bằng tiếng Anh!

Và cậu học trò Huỳnh Phước Ðương bắt đầu cuộc chạy đua để giành lại thời gian đã mất. Chỉ trong một năm, sau khi hoàn tất chương trình tiểu học, với học lực xuất sắc, cậu bé “chậm phát triển” ấy đã được miễn các năm học tiếp theo để vào thẳng lớp 10. “Năm ấy tôi 19 tuổi, và tiết kiệm được năm năm học”, Tiến sĩ Ðương cười thú vị.

Với sự nỗ lực không ngừng, trong những ngày tháng đi học anh luôn là học sinh ưu tú với những thứ hạng cao. Huỳnh Phước Đương còn tham gia vào đội học sinh giỏi toán của trường để thi đấu với các trường khác và giành giải 3. Nói về bí quyết để kết thúc chương trình học phổ thông một cách xuất sắc, Tiến sĩ Đương cho biết: “Cũng chẳng phải giỏi gì. Học nhanh vì đầu óc đã phát triển, cộng thêm vốn liếng sách báo, truyện Tàu đọc trong mấy năm nằm bệnh viện…”.

Huỳnh Phước Ðương đã vượt qua những năm trung học tại Mỹ với những khả năng nổi bật để được nhận vào trường Đại học California, khoa. Bước vào ngưỡng cửa đại học, nhiều khó khăn mới lại xuất hiện trước chàng  sinh viên Huỳnh Phước Ðương. Tiến sĩ Ðương cho biết: “Ngày ấy, các chính sách cho người khuyết tật ở Mỹ chưa hoàn hảo như bây giờ. Người ta không tin rằng về mặt sức khỏe, tôi có thể theo đuổi năm năm chương trình đại học.”

Dù vậy, chàng sinh viên khuyết tật Huỳnh Phước Ðương vẫn lần lượt tốt nghiệp cử nhân tại các Đại học California State University, Long Beach. Sau khi học xong cao học, Huỳnh Phước Ðương theo học tiếp chương trình Tiến sĩ ngành Sinh hóa, thần kinh tại Đại học University of California, Riverside. Theo anh Huỳnh Phước Ðương, thật ra, chương trình cao học chuyển tiếp vào tiến sĩ là giai đoạn “thử thách” mà trường đại học đặt ra cho Huỳnh Phước Ðương trước khi anh học lên tiến sĩ. Vượt  lên mọi khó khăn, Huỳnh Phước Ðương đã hoàn tất xuất sắc chương trình đào tạo tiến sĩ ngành thần kinh học vào năm 1992 và trở thành Giáo sư tại Đại học UCLA California.

Hiện nay, Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương là giáo sư thần kinh học (Neurodegenerative diseases) giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học y khoa UCLA California. Lĩnh vực chính của anh là nghiên cứu về sự thoái hóa tế bào thần kinh. Anh cũng là nhà khoa học làm việc tại bệnh viện nổi tiếng Cedars Sinai, chuyên nghiên cứu về bệnh Parkinson và các yếu tố di truyền. Tên tuổi của tiến sĩ Huỳnh Phước Đương được nhắc nhiều tại các hội thảo khoa học quốc tế.

Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, Huỳnh Phước Ðương về Việt Nam lần đầu tiên thăm gia đình. Trên đường đi, anh nhìn thấy những người khuyết tật không có xe lăn, không có phương tiện di chuyển. Họ rất khó khăn. Trong làng anh cũng có người khuyết tật. Trên đường trở lại  Mỹ, anh quyết định phải làm “một cái gì đó″ để giúp người khuyết tật trong nước.

Và Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương tham gia vào hội đồng quản trị của tổ chức từ thiện Chương trình Trợ giúp Xã hội cho Việt Nam (Social Assistance Program for Vietnam – SAP-VN), được thành lập năm 1992 bởi những sinh viên và chuyên gia ở Mỹ. Với trụ sở chính đặt tại Garden Grove, bang California, SAP-VN đã kết nối được những tấm lòng hảo tâm trong cộng đồng người Việt tại Mỹ nhằm giúp đỡ cho những người khuyết tật, nghèo khó tại Việt Nam, thực hiện được nhiều chương trình phẫu thuật cho trẻ khuyết tật, vá môi hở hàm ếch; Xây trường học cho các vùng sâu cùng xa; Khám chữa bệnh miễn phí; Trao tặng xe lăn, xe lắc cho người khuyết tật.

Từ đó, hằng năm, Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương dành thời gian để về Việt Nam khoảng một tháng. Anh chia thời gian thành ba phần. Một phần dành cho trẻ em khuyết tật, một phần dành cho các hoạt động của tổ chức SAP-VN. Phần còn lại, anh dành cho gia đình và người mẹ già của anh tại làng quê miền Trung.

Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương đã đi đến nhiều quốc gia để tham gia hội thảo, thuyết trình khoa học nhưng vui nhất, hạnh phúc nhất với anh là được trở về Việt Nam để tham gia các chương trình từ thiện. Cũng với tấm lòng luôn hướng về quê hương, Tiến sĩ Huỳnh Phước Ðương dự định trong tương lai sẽ trở về sống ở Việt Nam. “Tôi sẽ về nhưng không phải đầu tư để kinh doanh mà nơi nào cần, ai cần, tôi sẽ cố gắng giúp…”, anh cho biết.

 

Vũ Anh Tuấn

(Nguonsang.com)

 

Nguyễn Hoàng Long: Giảng viên Oxford

(PL&XH) – Những ai đã cùng học với Nguyễn Hoàng Long tại lớp chuyên toán Đại học Quốc gia Hà Nội, biết năng lực và niềm đam mê khoa học của anh sẽ không mấy ngạc nhiên khi nghe tin, vào tuổi 26, Long đã trở thành tiến sĩ tại Đại học Oxford – Anh Quốc.

Personal photo - Long Nguyen

http://www.cs.ox.ac.uk/long.nguyen/

Vào năm thứ nhất khoa  Công nghệ thông tin Đại học Bristol, Long đã tham dự chương trình của năm thứ 3. Vào năm thứ 3, anh đã tìm hiểu chương trình dành cho thạc sĩ. Và chính năm học này, Long đã nhận giải thưởng nghiên cứu khoa học của Viện Nuffield. Đây là mốc quan trọng, khích lệ chàng sinh viên thực hiện ước mơ của mình. Luận văn tốt nghiệp của anh nhận được giải thưởng  xuất sắc nhất. Giáo sư trực tiếp hướng dẫn Long nhận xét: “Anh Long là sinh viên có năng lực đặc biệt”. Một nhận xét ngắn ngủi của giáo sư uy tín, đủ nói lên được hình ảnh của sinh viên Việt Nam đang theo học tại trường.

Dẫu Nguyễn Hoàng Long nhận được những hợp đồng đúng chuyên môn và lương bổng cao, nhưng đã từ lâu anh thầm mơ ước được theo học một trường Đại học danh giá nhất nước Anh. Đó là Đại học Oxford. Anh nói: Một quyết định như vậy vào thời điểm đó là một khó khăn. Có thể là sai lầm và tiếc nuối. Nhưng khao khát của tôi lấn át mọi lời chào mời để đến với những gì mà tôi mơ ước. Trước mắt tôi, Oxford có sức hút đặc biệt, không sao cưỡng nổi.

Để được nhận vào Đại học Oxford, phải qua bước tuyển chọn khắt khe. Nhưng với Hoàng Long, đó không còn là vấn đề lớn. Anh  được nhận vào làm nghiên cứu sinh tại ngôi trường cổ nhất và danh giá nhất nước Anh. Hơn nữa, anh được đặc cách bảo vệ tiến sĩ không qua bậc thạc sĩ.

Sau thành công của luận án tiến sĩ khoa học, tên tuổi Nguyễn Hoàng  Long được bỉết đến như một hiện tượng trong giới khoa học công nghệ. Anh được gần hai mươi trường đại học hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới như Cambridge, Stanford, UCL…mời thuyết trình, giảng bài. Hiện anh đang giảng dạy tại trường Oxford với nhiều chuyên đề khác nhau. Cho đến nay, Nguyễn Hoàng Long là giảng viên Việt Nam đầu tiên tại Đại học danh tiếng này.

Dẫu được nghiên cứu trong môi trường khoa học lý tưởng, lại được chào đón ở nhiều quốc gia với quyền lợi hấp dẫn, nhưng Hoàng Long vẫn luôn hướng về đất nước. Anh nói, tại đây (nước Anh), điều kiện nghiên cứu , môi trường tiếp cận các Trung tâm nghiên cứu, các nhà khoa học và cộng sự hết sức thuận lợi. Anh cần một thời gian để hoàn thiện, nâng cao kiến thức, có đủ thời gian quan hệ với các cơ sở khoa học – đào tạo. Sau đó anh sẽ về Việt Nam – Anh nói với lớp trẻ.

- Những kiến thức thu được ở các trường Đại học trong nước không thua kém bao nhiêu so với nước ngoài. Khác chăng chỉ ở chỗ môi trường để thử thách, vươn tới ở nước ngoài rõ rệt, năng động hơn. Bạn trẻ nên tìm đến cơ hội để mình có cơ may thử thách, để thực sự nhận diện ra mình, tìm cho mình hướng đi thích hợp. Không chỉ kiến thức, mà còn là thử thách bản lĩnh trước mọi đòi hỏi khắt khe của khoa học và cuộc sống. Chấp nhận thử thách, nghĩa là hướng đến khẳng định mình.

Kính Hiền

(Pháp Luật)

GS Ngô Bảo Châu giao lưu với GV và HSSV Quảng Ninh

Sáng nay, 31-8, Tại Trung tâm tổ chức hội nghị tỉnh, Giáo sư Ngô Bảo Châu, Giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về toán- người được nhận giải thưởng Fields năm 2010 đã có chuyến thăm và giao lưu với giảng viên, học sinh, sinh viên tỉnh Quảng Ninh. Cùng đi với Giáo sư có đoàn đại biểu Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, Viện nghiên cứu cao cấp về toán.

Quang cảnh buổi giao lưu

Dự buổi giao lưu có đồng chí Vũ Thị Thu Thủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện các Ban xây dựng Đảng Tỉnh ủy; lãnh đạo Sở giáo dục-và đào tạo; cùng trên 300 đại biểu đại diện giáo viên, học sinh, sinh viên của một số trường trên địa bàn tỉnh.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Giáo sư đã đến chào xã giao đồng chí Phạm Minh Chính, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh. Trong không khí thân mật, đầm ấm, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phạm Minh Chính đã báo cáo sơ lược những nét chính về tình hình kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh, những tiềm năng thế mạnh của tỉnh về phát triển kinh tế biển đảo, du lịch và dịch vụ. Đồng chí cũng nêu lên những chủ trương định hướng của Tỉnh ủy đối với lĩnh vực giáo dục- đào tạo.

Buổi sáng cùng ngày, Giáo sư đã đến thăm trường THPT Chuyên Hạ Long. Tại đây, đồng chí Phạm Thị Hồng Hà, Hiệu trưởng nhà trường đã báo cáo tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Trường trong mấy chục năm qua. Giáo sư Ngô Bảo Châu đã cảm ơn sâu sắc sự đón tiếp của nhà trường, Giáo sư đã bày tỏ tình cảm muốn được giúp đỡ Trường phát triển mạnh hơn nữa nhất là về lĩnh vực tóan học nhằm phát hiện, đào tạo nhân tài cho tỉnh, cho đất nước. Giáo sư đã tham quan phòng truyền thống của Trường, viết cảm tưởng vào sổ vàng của Trường, trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Trường.

Cũng trong buổi sáng, Giáo sư đã có buổi nói chuyện, giao lưu với học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh.

Tại buổi gặp gỡ, Giáo sư đã kể câu chuyện về toán học, về mật mã trong toán học nhằm khơi dậy lòng say mê toán học đối với thế hệ trẻ Quảng Ninh. Trong không khí phấn khởi, từng bừng các em học sinh trường Tiểu học Hữu nghị, trường THPT chuyên Hạ Long, trường Cao đẳng công nghiệp Quảng Ninh; giáo viên trường Cao đảng Sư phạm Quảng Ninh…đã có những câu hỏi liên quan đến việc học tập, rèn luyện, nghiên cứu, đặc biệt là về toán học để mong muốn có kết quả cao trong học tập, công tác nhằm đóng góp vào sự nghiệp phát triển của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, của cả nước nói chung.

Phát biểu cảm tưởng tại buổi giao lưu, học sinh Lê Thị Tường Vi, học sinh trường THPT chuyên Hạ Long, đại diện cho các thế hệ học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh bày tỏ sự cảm phục, kính trọng, niềm vinh dự và tự hào khi được gặp gỡ, giao lưu với Giáo sư. Qua buổi giao lưu đã tiếp thêm động lực, truyền thêm ngọn lửa tinh thần vươn lên trong học tập cho các thế hệ học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh.

Nhân dịp này, đồng chí Đỗ Văn Thuấn, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo đã trao quà lưu niệm cho giáo sư và phát biểu cảm ơn Giáo sư đã dành tình cảm cho Quảng Ninh, có dịp giao lưu, trò chuyện thân mật với giáo viên, học sinh trên địa bàn khơi dậy động lực và tinh thần ý chí vươn lên trong học tập cho thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh.

Một số hình ảnh hoạt động của Giáo sư Ngô Bảo Châu tại Quảng Ninh:

Giáo sự Ngô Bảo Châu trò chuyện với đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên BCH
Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh


Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trao quà lưu niệm cho Giáo sư Ngô Bảo Châu

 


Thăm Trường THPT chuyên Hạ Long

Thăm quan mô hình của Trường chuyên  Hạ Long
và viết lưu niệm tại Phòng truyền thống nhà trường

 

 

Giáo sư Ngô Bảo Châu cùng lãnh đạo UBND tỉnh và lãnh  đạo
Sở Giáo dục và Đào tạo trồng cây lưu niệm trong khuôn viên Trường THPT Chuyên Hạ Long


 

Giao lưu với các em học sinh tại Trung tâm tổ chức hội nghị tỉnh

Nguồn: QNP

http://qtv.vn/channel/5154/201108/Giao-su-Ngo-Bao-Chau-tham-giao-luu-voi-giao-vien-va-hoc-sinh-sinh-vien-tinh-Quang-Ninh-2123035/

Nhà khoa học làm doanh nhân và câu chuyện tách tế bào

Nhịp Cầu Đầu Tư (14/07/2011) Công trình nghiên cứu tách tế bào gốc từ màng cuống rốn từng gây tiếng vang lớn trên thế giới năm 2005 là nỗ lực của một nhà khoa học gốc Việt: Tiến sĩ Phan Toàn Thắng.
Mùa hè năm 2005, nhiều tờ báo chuyên ngành y học lớn trên thế giới đưa tin: Một công ty công nghệ sinh học tại Singapore đã nghiên cứu thành công công nghệ tách tế bào gốc từ màng cuống rốn. Tác giả phát minh đó là nhà khoa học gốc Việt làm việc tại Singapore: Tiến sĩ Bác sĩ Phan Toàn Thắng. Với thành công này, Công ty CordLabs Pte Ltd (Singapore), nơi Tiến sĩ Thắng làm Giám đốc Khoa học lúc đó, đã bỏ ra 200.000 USD để đăng ký bản quyền với Cục Sở hữu Bản quyền Mỹ. 

Tiến sĩ Phan Toàn Thắng

Phát minh được các cường quốc công nhận

Câu chuyện về công trình của nhà khoa học này thật giản dị. Năm 1995, khi đang làm việc tại Viện Bỏng Quốc gia Việt Nam, ông được cử sang Anh thực tập nghiên cứu về công nghệ nuôi cấy tế bào da tại Đại học Oxford. Chính môi trường nghiên cứu tại Oxford đã giúp khởi đầu cho những giấc mơ làm khoa học công nghệ cao trong ông. Năm 1997, ông sang Singapore làm nghiên cứu tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Bệnh viện Đa khoa Singapore. Tại đây, từ nghiên cứu tế bào da để chữa trị cho bệnh nhân bỏng, ông chuyển sang nghiên cứu tế bào giác mạc mắt.

Năm 2000, công nghệ tế bào gốc phát triển rất mạnh mẽ và trở thành xu hướng mới trong nghiên cứu khoa học của thế giới. Hơn 60.000 tỉ tế bào trên mỗi cơ thể người sẽ bị chết, lão hóa, hoặc tổn thương và cần được thay thế. Việc tìm tế gốc từ tế bào trưởng thành được nhiều nhà khoa học thực hiện và không đạt chất lượng như mong muốn trong khi giá thành lại quá cao.

“Phải tìm hướng đi khác, làm thế nào để vừa có tế bào gốc chất lượng nhưng giá thành không cao. Phôi thai sẽ là nguồn nghiên cứu tốt nhưng khó được chấp nhận bởi liên quan đến tính nhân đạo và tôn giáo. Cuối cùng, tôi tìm thấy nguồn mô lớn từ nhau thai”, ông Thắng tâm sự.

 

 

Tiến sĩ Phan Toàn ThắngSinh năm 1968 tại Hà Nội.

Năm 1991 sau khi tốt nghiệp Học viện Quân Y, Hà Nội, ông công tác tại Viện Bỏng Quốc gia.

Từ năm 1995-1997, thực tập sinh tại Bộ môn Da liễu, Đại học Oxford, Anh.

Từ năm 1997-2002, công tác tại khoa phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình, Bệnh viện đa khoa Singapore.

Từ năm 2002-2004, công tác tại Hagey Laboratory về Y học tái tạo, Đại học Stanford, Mỹ.

Từ năm 2004 đến nay, công tác tại bộ môn ngoại, Đại học Y khoa Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore.

Năm 2005, báo chí Singapore và các nước gọi Tiến sĩ Thắng là nhà khoa học đầu tiên tìm được tế bào gốc từ cuống rốn. Tuy nhiên, chính thông tin này lại khiến không ít người ngần ngại, bởi trong khoa học, để chứng minh được chủ nhân một phát minh, phải mất một thời gian dài và cả lượng tài chính lớn để được chấp nhập sở hữu bản quyền. Đặc biệt, khi nghiên cứu này được công bố bởi một nhà khoa học gốc Việt Nam, việc đăng ký càng gặp không ít khó khăn hơn. “Thói quen của nhiều người trên thế giới khi nói đến Việt Nam thường nghĩ đó là vùng đất chịu nhiều mất mát từ các cuộc chiến tranh và nay đã hòa bình thì họ biết thêm “thương hiệu” nhân công giá rẻ”, ông Thắng bộc bạch.Đăng ký sở hữu trí tuệ ở Mỹ đầu tiên vào năm 2004, đến nay, kết quả nghiên cứu đã được đăng ký tại nhiều quốc gia như: Anh, Nga, Úc. Hiện nay, dự án đang ở giai đoạn phản biện cuối cùng tại một số nước châu Âu, Mỹ và Nhật. “Các cường quốc công nhận phát minh của tôi. Và tại các nước đó, việc đăng ký bản quyền không gặp khó khăn”, ông nói.

Chi phí đăng ký bản quyền đến nay đã lên đến gần 300.000 USD. Ngoài ra, tác giả còn liên tục đầu tư vào nghiên cứu để có những bằng chứng khoa học, chứng minh cho hiệu quả của công nghệ trên các ứng dụng khác nhau. “Nếu thương mại hóa thành công, con số thật sự quá nhỏ so với thị trường rất lớn đang có nhu cầu sử dụng công nghệ tế bào gốc”, ông Thắng nói thêm. Theo ông, công nghệ tế bào gốc không chỉ được sử dụng cho các sản phẩm làm đẹp, chống lão hóa, mà còn được ứng dụng để sản xuất thuốc điều trị tổn thương gan, tim, mắt…

Từ thành công này, năm 2009, Chính phủ Singapore đã phê duyệt 20 triệu đô la Singapore để xây dựng dự án nghiên cứu, bào chế thuốc từ tế bào gốc theo công nghệ y sinh do ông Thắng làm chủ nhiệm. Dự án kéo dài 5 năm, từ 2009-2014, được hợp tác với Viện Khoa học Công nghệ Israel.

Nhà khoa học làm doanh nhân

Mục đích cuối cùng của công trình, theo ông Thắng là phải tạo ra sản phẩm có chất lượng và không quá đắt tiền.

Để việc thương mại hóa một nghiên cứu khoa học thành công, ông Thắng lập CellResearch Corp vào năm 2004. Công ty này có nhiệm vụ giao dịch với mọi đối tác muốn chuyển giao công nghệ tế bào gốc từ màng cuống rốn để làm thương mại. Ứng dụng lớn nhất của công nghệ này phải được sử dụng để chữa trị các bệnh nan y.

Theo nhà khoa học và cũng là doanh nhân này, để thương mại hóa thành công, cần tiến hành theo 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu là lưu trữ tế bào gốc từ cuống rốn và CellResearch Corp cung cấp dịch vụ này cho nhiều công ty tại Ấn Độ, Hồng Kông, Đài Loan, Úc, Mỹ để sản xuất mỹ phẩm dưỡng da. “Đây cũng là thị trường hấp dẫn nhất cho các nhà kinh doanh. Tuy nhiên, đây là công nghệ đang “nóng” bởi sản phẩm được làm từ tế bào gốc thường rất được ưa chuộng. Nên xét về mặt kinh doanh, sẽ có không ít cạnh tranh trên thương trường”, ông nói.

Giai đoạn thứ 2 là thực hiện các nghiên cứu ngắn, tạo nên sản phẩm tăng chức năng chuyển hóa trong cơ thể.

Giai đoạn thứ 3 là ứng dụng công nghệ tế bào gốc để chưa trị các bệnh tổn thương về não, gan, tim, tụy… Đây chính là giai đoạn quan trọng và lâu dài nhất. Đây cũng là mục tiêu nhà khoa học này muốn thực hiện tại Việt Nam và các nước trong khu vực trước khi đưa ra thế giới.

Tại Việt Nam, do nhiều lợi thế ở sân nhà, nên chi phí chuyển giao công nghệ tế bào gốc cho các công ty trong nước chỉ khoảng 1/3 so với các nước khác. Đối với các công ty ứng dụng làm mỹ phẩm dưỡng da, thông thường nhà chuyển giao công nghệ có thể thu từ 10-15% trên mỗi sản phẩm bán ra.

Ông Thắng cũng hài lòng với kết quả thương mại hóa công trình nghiên cứu qua việc chuyển giao công nghệ sản xuất các sản phẩm làm đẹp, chống lão hóa cho Công ty FNC (thuộc Tập đoàn FPT) sản xuất và tiêu thụ trong nước. Sản phẩm dưỡng da JuviSkincare được bán tại Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2008 đạt doanh thu 500 triệu đồng; đến năm 2009 thu được 10 tỉ đồng và năm 2010 xấp xỉ 58 tỉ đồng. Kế hoạch 2011, theo ông Thắng, vào khoảng hơn 100 tỉ đồng. Ông cho rằng, tốc độ tăng trưởng của sản phẩm này khoảng 100% mỗi năm.

Theo Hằng Nga

(C) Nhịp Cầu Đầu Tư

Next